1.Khái quát về khẩu khí trong nghề luật

Khẩu khí của luật sư luôn phải chủ động để tạo ra tâm lý vững vàng cho khách hàng của mình, không được nóng vội, lúng túng. Muốn vậy, thì luật sư phải có sự chuẩn bị rất chu đáo từ giai đoạn tiền tố tụng đến giai đoạn tố tụng và sau khi tố tụng kết thúc đối với từng vụ việc cụ thể. Sự chuẩn bị chu đáo của luật sư luôn là một nhu cầu và cũng là nghề nghiệp đòi hỏi.

Khẩu khí trong nghề luật tuy có những điểm chung như các loại khẩu khí khác, nhưng khẩu khí trong nghề luật là khẩu khí của chuyên gia hoặc của người có chuyên môn về luật, thực hành luật ở các cơ quan tư pháp, các công ty tư vấn luật, các văn phòng luật sư, phòng công chứng, trung tâm tư vẫn pháp lý cho nên có tính đặc thù. Khẩu khí nghề luật bị giới hạn bởi tính chất phức tạp của quan hệ thuộc các ngành luật khác nhau. Quan hệ pháp luật theo tính chuyên ngành và xác định bởi phạm vi và đối tượng điều chỉnh của ngành luật cụ thể, như luật dân sự, luật hình sự, luật thương mại, luật hành chính, luật hôn nhân và gia đình, luật lao động, luật thuế, luật sở hữu trí tuệ, luật doanh nghiệp, luật đất đai, luật nhà ở... Vì vậy, ngốn ngữ thể hiện qua khẩu khí của chủ thể cũng có những đặc thù của luật chuyên ngành và quy định của các ngành luật khác có liên quan.

Khẩu khí trong nghề luật phải chính xác. Khẩu khí trong nghề luật giúp cho người hành nghề luôn tự ý thức tính nghiêm túc và chính xác của luật pháp. Vì vậy, để có ngôn ngữ thể hiện đúng luật chuyên ngành, thì người thể hiện khẩu khí phải học tập, thực hành không mệt mỏi và luôn có sự chuẩn bị thấu đáo về nội dung cần thể hiện, cần giải quyết, cần bàn luận; điều chỉnh khẩu khí với các mức độ nhất định, phù hợp tính chất của vụ án tại Tòa án, với đương sự, bị cáo, với khách hàng của mình. Nói có căn cứ, tôn trọng chứng cứ, tôn trọng khách quan, công minh, công khai và tôn trọng người khác để lựa chọn ngôn ngữ thể hiện, cách thức thể hiện, khẩu khí thể hiện và khẩu khí xử lý những tình huống bất ngờ trong tố tụng...

Khi hành nghề, luật sư phải hiểu nguyên tắc tranh tụng được thể hiện từ khi khởi kiện, thụ lý vụ án cho đến khi giải quyết xong vụ án và quyển của đương sự (trong vụ án dân sự) thực hiện quyển tranh tụng trong xét xử. Những nội dung tranh tụng được thể hiện trong việc xác định rõ trách nhiệm, quyền hạn của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng; quyền và nghĩa vụ của người tham gia tố tụng, nhất là quyền và nghĩa vụ của đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp khác của đương sự; có quyển thu thập, giao nộp tài liệu, chứng cứ kể từ khi Tòa án thụ lý vụ án dân sự; trình bày, đối đáp, phát biểu quan điểm, lập luận và đánh giá chứng cứ để lựa chọn quy phạm pháp luật áp dụng nhằm mục đích bảo vệ được tốt nhất các yêu cầu vê' quyền, lợi ích hợp pháp của khách hàng của mình hoặc bác bỏ yêu cẩu của người khác.

2.Khái niệm chung về Quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư.

Cho đến nay, về mặt khoa học pháp lý, chưa có một định nghĩa chính thức mang tính chất kinh điển về khái niệm Quy tắc đạo đức nghề nghiệp luật sư. Trong nhiều bài viết, tham luận về vấn đề đạo đức nghề nghiệp luật sư, mỗi tác giả cũng đưa ra quan niệm của mình về vấn đề này bằng cách tiếp cận dưới các góc độ khác nhau.

- Quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư đã được Hội đồng luật sư toàn quốc thông qua cũng không đưa ra một định nghĩa về quy tắc đạo đức nghề nghiệp luật sư. Tuy nhiên, căn cứ vào nội dung của Quy tắc, có thể đưa ra một định nghĩa chung về Quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư như sau :
“Quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư là những quy tắc xử sự được thể hiện dưới hình thức văn bản chứa đựng những quy phạm đạo đức và ứng xử nghề nghiệp do Hội đồng luật sư toàn quốc ban hành để điều chỉnh hành vi của các thành viên Liên đoàn luật sư Việt Nam trong quan hệ với các chủ thể có liên quan khi hoạt động nghề nghiệp và trong giao tiếp xã hội

- Trong đời sống thường nhật, luật sư tham gia vào các quan hệ xã hội, các quan hệ nghề nghiệp, trong đó có các quan hệ tố tụng trong các vụ án hình sự, dân sự, hôn nhân gia đình, thương mại, lao động, hành chính. Trong các quan hệ tố tụng nêu trên lại diễn ra nhiều loại quan hệ giữa các chủ thể khác như : quan hệ giữa luật sư với các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng qua các giai đoạn tố tụng khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử; quan hệ với khách hàng, với những người tham gia tố tụng khác, quan hệ với đồng nghiệp, v.v.. Với tư cách một chủ thể tham gia trong các quan hệ tố tụng, luật sư có những quyền và nghĩa vụ tố tụng nhất định theo quy định của pháp luật. Đó là những quyền và nghĩa vụ pháp lý luật sư phải tuân thủ và nếu vi phạm sẽ phải chịu các hình thức xử lý theo các chế tài đã được luật hóa.

Tuy nhiên, trong các quan hệ nêu trên, vẫn còn có những trường hợp, tình huống nảy sinh trong thực tiễn giao tiếp không nằm trong phạm vi điều chỉnh của pháp luật mà thuộc phạm trù đạo đức và ứng xử nghề nghiệp phải được điều chỉnh bằng các quy định đạo đức tương ứng. Đó là các quy định về căn cứ, chuẩn mực đã được xác định trong bộ Quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư. Các quy định này cũng hàm chứa các nghĩa vụ đạo đức mang tính chất cấm đoán hay bắt buộc luật sư phải tuân thủ hoặc các quy phạm mang tính chất khuyến khích luật sư áp dụng trong quá trình hành nghề cũng như trong lối sống, giao tiếp khi tham gia các quan hệ xã hội khác.

3. Vị trí, vai trò của quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư
 

Nghề luật sư là một nghề có truyền thống cao quý, gắn liền với số phận pháp lý của con người. Thông qua hoạt động của mình, luật sư thực hiện chức năng xã hội cao cả : Bảo vệ công lý, bảo vệ các quyền tự do dân chủ của công dân; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức; bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, góp phần xây dựng Nhà nước pháp quyền, thực hiện mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh”.

- Cũng như sông có nguồn, cây có gốc, nhà có nền, đạo đức nghề nghiệp có ý nghĩa là nguồn, là gốc, là nền tảng cơ bản của nghề luật sư. Không có đạo đức nghề nghiệp, nghề luật sư không thể tồn tại, phát triển. Luật sư hành nghề với tư cách cá nhân và tự chịu trách nhiệm cá nhân về uy tín nghề nghiệp của mình, với mục tiêu phụng sự công lý, tôn trọng và dựa trên pháp luật thì trước hết phải xuất phát từ một nền tảng đạo đức. Nếu không xuất phát từ nền tảng này thì luật sư khó có thể có ý thức tôn trọng và tuân thủ pháp luật khi hành nghề.

- Quy tắc đạo đức nghề nghiệp luật sư có giá trị là các chuẩn mực đạo đức của giới luật sư, tạo cơ sở để luật sư tự giác rèn luyện, tu dưỡng đạo đức trong sinh hoạt và hành nghề; là thước đó giúp luật sư giữ gìn phẩm chất, uy tín của mỗi cá nhân; từ đó khiêm tốn học hỏi, tích lũy kinh nghiệm và kỹ năng hành nghề, góp phần nâng cao uy tín nghề nghiệp của giới luật sư trong xã hội. Đây cũng chính là một văn bản mang tính quy phạm nội bộ thể hiện rõ nét nhất cơ chế quản lý theo phương thức “tự quản kết hợp với quản lý nhà nước” của Liên đoàn luật sư Việt Nam.

4. Quan điểm tư tưởng và yêu cầu của việc xây dựng bộ Quy tắc

Việc xây dựng bộ Quy tắc phải thể hiện quan điểm tư tưởng và các yêu cầu sau đây:

1. Trong thời đại hòa nhập với khu vực và thế giới, bộ Quy tắc phải phù hợp với thông lệ quốc tế về nghề luật sư;
2. Phạm trù đạo đức nghề nghiệp luật sư rất rộng, để tạo cơ sở cho việc quản lý và tự giác thực hiện của từng luật sư, bộ quy tắc phải cụ thể hóa các chuẩn mực đạo đức và hành vi ứng xử nghề nghiệp luật sư;
3. Nội dung bộ Quy tắc phải phù hợp với trình độ phát triển của nghề luật sư Việt Nam, trên nền tảng thể chế chính trị - xã hội, hệ thống pháp luật, đạo đức và văn hóa của đất nước Việt nam;
4. Phát huy truyền thống tốt đẹp về đạo đức con người của dân tộc Việt Nam.
5. Việc xây dựng, sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện bộ Quy tắc là một công việc thường xuyên, lâu dài trong quá trình phát triển của nghề luật sư Việt Nam.

5. Xác định phạm vi và các tiêu chuẩn về đạo đức nghề nghiệp

- Khái niệm đạo đức bao giờ cũng được thể hiện trong mối quan hệ giữa người với người. Đạo đức nghề nghiệp luật sư chính là tổng hợp các mối quan hệ giữa luật sư với các chủ thể có liên quan trong hoạt động nghề nghiệp và các mối quan hệ xã hội khác khi luật sư tham gia trong sinh hoạt xã hội. Quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư bao gồm các quy phạm mang tính chất tùy nghi để luật sư có thể lựa chọn trong ứng xử hoặc mang tính chất cấm đoán, bắt buộc luật sư phải nghiêm chỉnh thi hành.

- Quy tắc có những quy tắc chung mang tính chất là những nghĩa vụ đạo đức cơ bản của luật sư và các quy tắc cụ thể điều chỉnh hành vi của luật sư khi tham gia các nhóm quan hệ xã hội trong hành nghề gồm : quan hệ với khách hàng; quan hệ với đồng nghiệp; quan hệ với các cơ quan tiến hành tố tụng và các cơ quan nhà nước khác. Việc điều chỉnh về mặt đạo đức các nhóm quan hệ này chính là những yếu tố cấu thành nội dung cơ bản của Quy tắc đạo đức nghề nghiệp luật sư Việt Nam.

Các tiêu chuẩn về kỷ luật nghề nghiệp luật sư :

Các tiêu chuẩn này chính là những điều cấm (không được làm) đối với luật sư khi hành nghề. Luật sư sẽ phải chịu các chế tài kỷ luật đối với các hành vi vi phạm đạo đức nghề nghiệp luật sư. Áp dụng các biện pháp chế tài này đòi hỏi phải quy phạm hóa các tiêu chuẩn kỷ luật – thuộc chức năng tự quản nghề nghiệp của Liên đoàn theo Điều lệ, làm căn cứ cho việc xử lý kỷ luật đối với từng cá nhân luật sư.

Luật Minh Khuê(sưu tầm và biên tập)