1. Đạo đức chính là vốn quý nhất của nghề luật sư

Để đạt được chứng chỉ hành nghề luật sư, các luật sư tập sự phải vượt qua một kỳ thi đầy thách thức. Mọi người thường nhắc nhau rằng, ngoài việc nắm vững các kiến thức chuyên môn, luật sư còn phải thuộc lòng Bộ quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp, điều này được coi là quan trọng nhất để vượt qua thử thách.

Trong mọi lĩnh vực nghề nghiệp, vấn đề đạo đức luôn đứng ở hàng đầu, và nghề luật không phải là ngoại lệ. Đối với luật sư, yêu cầu về đạo đức càng trở nên quan trọng, thậm chí được đặt vào bộ quy tắc áp dụng. Việc vi phạm có thể dẫn đến tước thẻ hành nghề, điều này là một hạn chế nghiêm túc nhưng lại rất cần thiết. Trong lĩnh vực luật, không chỉ là việc áp dụng đúng quy định pháp luật mà còn đòi hỏi sự có đạo đức tốt. Điều này không chỉ được quy định trong pháp luật mà còn là trách nhiệm tự quản lý, học tập, và phát triển tư duy suốt sự nghiệp.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh: "Nghĩ cho cùng, vấn đề tư pháp, cũng như mọi vấn đề khác, là vấn đề ở đời, và làm người." Mặc dù câu nói của Bác là đơn giản, nhưng lại chứa đựng sự chân thật và hợp lý. Bởi vì, dù là vấn đề pháp lý, quy định luật lệ, khi áp dụng vào thực tế, nó trở thành những thách thức của cuộc sống, của xã hội, và của mối quan hệ giữa Nhà nước và người dân, hay giữa con người với con người. Đây chính là những điều chúng ta trải qua trong cuộc sống hàng ngày, và đồng thời, cũng là nhiệm vụ "làm người" mà người hành nghề tư pháp nói chung, luật sư nói riêng, phải chấp nhận và thực hiện, với tâm huyết và lương tâm.

Nghề luật sư không chỉ mang lại thu nhập khá cao mà còn thường được biết đến với những cơ hội kiếm tiền lớn. Mỗi vụ tư vấn, đại diện pháp luật, hoặc bảo vệ quyền lợi của bị can có thể đem về cho luật sư từ vài triệu đến hàng trăm triệu đồng. Sức hấp dẫn của thu nhập lớn này đã khiến nhiều người mê mẩn, đôi khi làm họ mất đi tầm nhìn và mục tiêu đạo đức mà họ đã học từ những ngày đầu bước chân vào lĩnh vực luật.

Nhiều luật sư hiện nay, với những khoản thu nhập hấp dẫn, đã mất đi sự nhiệt huyết ban đầu của nghề luật. Họ chỉ làm việc theo cách tiếp cận thương mại, chấp nhận vụ việc mà không đặt nhiều tâm huyết vào công việc. Việc bảo chữa trở thành nghĩa vụ làm lấy có, thậm chí không cần xuất hiện tại phiên tòa, mà chỉ cần gửi bài bảo chữa cho Hội đồng xét xử, giao cho thư ký đọc để hoàn thành thủ tục.

Với các vụ việc mà khách hàng phải trả phí, không hiếm khi luật sư làm lơ là, chỉ quan tâm đến việc kiếm lợi nhuận mà không quan tâm đến chất lượng dịch vụ. Có những trường hợp họ thậm chí còn làm mờ vụ án để tăng thêm chi phí, ký kết hợp đồng mà không quan tâm đến đạo đức. Nhiều luật sư mở văn phòng hay chi nhánh công ty luật mà không có sự quản lý chặt chẽ, để những người không có thẻ hành nghề luật sư tự xưng là luật sư và lừa đảo khách hàng. Đáng chú ý là sau những vụ việc như vậy, người đứng tên là luật sư chính của công ty thường không chịu trách nhiệm, để lại những người bị lừa dối tự mình đối mặt với hậu quả.

Luật sư được coi là những chuyên gia sâu rộng về pháp luật, sử dụng kiến thức này để thực hiện nhiệm vụ cao quý của mình. "Kỹ năng" là khả năng và phẩm chất chính của luật sư, nhưng khi kiến thức pháp luật được lạm dụng để theo đuổi lợi ích cá nhân, điều này trở thành "chiêu trò" trong giới luật sư. Trừ khi luật sư vi phạm pháp luật và phải đối mặt với trách nhiệm hình sự, việc xử lý các vi phạm đạo đức của luật sư thường gặp nhiều khó khăn.

Thiếu chứng cứ và sự không rõ ràng thường khiến cho việc kiện toàn về đạo đức của luật sư trở nên phức tạp. Trong khi đó, các luật sư thường giữ vững quyền lực thông qua việc nắm vững kiến thức pháp luật, điều này dẫn đến tình trạng thiệt thòi cuối cùng vẫn đổ lên khách hàng, đặc biệt khi luật sư có ý định sử dụng mưu mẹo và tránh trách nhiệm bằng cách lách luật.

2. Trường hợp nào phải cam kết đạo đức khi xin cấp chứng chỉ hành nghề Luật sư?

Ngày 5/3/2019, Bộ Tư pháp ban hành Quyết định số 537/QĐ-BTP về việc điều chỉnh và bổ sung thủ tục hành chính trong lĩnh vực luật sư, nằm trong phạm vi quản lý của Bộ Tư pháp.

Theo quy định mới, những người đề xuất cấp chứng chỉ hành nghề luật sư, thuộc đối tượng được quy định tại khoản 2 Điều 2a Nghị định 137/2018/NĐ-CP, phải bổ sung Văn bản giải trình và cam kết về quá trình nỗ lực tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, có phẩm chất đạo đức đảm bảo và được xác nhận bởi:

- Công an địa phương nơi cư trú; hoặc

- Cơ quan, tổ chức mà người đó đã làm việc trước thời điểm đề nghị cấp chứng chỉ hành nghề luật sư.

Phần còn lại của hồ sơ vẫn phải tuân theo các quy định hiện hành, bao gồm:

- Đơn đề nghị cấp chứng chỉ hành nghề luật sư theo mẫu;

- Phiếu lý lịch tư pháp;

- Giấy chứng nhận sức khoẻ;

- Bản sao bằng cử nhân luật hoặc bản sao bằng thạc sĩ luật;

- Bản sao giấy chứng nhận kiểm tra kết quả tập sự hành nghề luật sư.

Quyết định 537/QĐ-BTP có hiệu lực từ ngày ký ban hành.

3. Không đủ tiêu chuẩn về phẩm chất đạo đức tốt là như thế nào?

Theo quy định của Điều 2a Nghị định số 137/2018/NĐ-CP, người thuộc một trong các trường hợp sau đây sẽ không đáp ứng tiêu chuẩn về tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, cũng như không đáp ứng tiêu chuẩn về phẩm chất đạo đức tốt theo quy định tại Điều 10 Luật luật sư:

- Đã bị xử lý kỷ luật theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức, viên chức và quyết định kỷ luật chưa chấm dứt hiệu lực hoặc bị xử lý kỷ luật bằng hình thức buộc thôi việc mà chưa hết thời hạn 03 năm, tính từ ngày quyết định buộc thôi việc có hiệu lực; đã bị xử lý hành chính về các hành vi vi phạm trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp, trợ giúp pháp lý, vi phạm quy định về gây thiệt hại đến tài sản của người khác, quy định về bảo vệ bí mật Nhà nước, cản trở, chống lại việc thanh tra, kiểm tra, kiểm soát của người thi hành công vụ hoặc đưa hối lộ người thi hành công vụ, nhưng chưa hết thời hạn 01 năm, tính từ ngày chấp hành xong quyết định xử lý hành chính;

- Đã bị xử lý hành chính, xử lý kỷ luật, hoặc xử lý hình sự, hoặc có kết luận của cơ quan có thẩm quyền về các hành vi liên quan đến chiếm đoạt tài sản, trục lợi, gian lận, gian dối, xâm phạm an ninh quốc gia; ứng xử, phát ngôn làm ảnh hưởng đến hình ảnh, uy tín nghề luật sư, hoặc gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân; tham gia, lôi kéo, kích động, mua chuộc, cưỡng ép người khác tập trung đông người để gây rối trật tự công cộng, thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật hoặc vi phạm quy định tại điểm b, d, e, g, í hoặc k khoản 1 Điều 9 Luật luật sư, vi phạm pháp luật khác do cố ý và đã bị xử lý kỷ luật từ hai lần trở lên.

Người thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 1 Điều này, nếu quyết định kỷ luật đã chấm dứt hiệu lực hoặc đã hết thời hạn 03 năm, tính từ ngày quyết định kỷ luật buộc thôi việc có hiệu lực hoặc đã hết thời hạn 01 năm, tính từ ngày chấp hành xong quyết định xử lý hành chính, hoặc người bị kết án về tội phạm do vô ý hoặc tội phạm ít nghiêm trọng do cố ý mà đã được xóa án tích và không thuộc trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều này, nếu có văn bản giải trình, cam kết về quá trình phấn đấu về việc tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, có phẩm chất đạo đức tốt và có xác nhận của cơ quan, tổ chức nơi làm việc cuối cùng của họ trước thời điểm đề nghị cấp Chứng chỉ hành nghề luật sư hoặc của công an xã, phường, thị trấn nơi họ cư trú, thì họ sẽ được xem xét là đã sửa chữa, rèn luyện và đáp ứng tiêu chuẩn về tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, cũng như có phẩm chất đạo đức tốt theo quy định tại Điều 10 Luật luật sư.

Bài viết liên quan: Luật sư là gì? Nghề luật sư làm gì? Ý nghĩa của nghề luật sư

Luật Minh Khuê xin tiếp nhận yêu cầu tư vấn của quý khách hàng thông qua số hotline: 1900.6162 hoặc email: lienhe@luatminhkhue.vn. Xin trân trọng cảm ơn!