- Khẳng định đúng. Bởi vì:
Khoản 3 Điều 17 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định: “Người thực hành là người trực tiếp thực hiện tội phạm”.
Có hai dạng người thực hành: Người tự mình trực tiếp thực hiện các hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong cấu thành tội phạm và người không tự mình mà lợi dụng hoặc sử dụng người khác để người này trực tiếp thực hiện tội phạm.
Trong vụ án có đồng phạm, hành vi của người thực hành có ý nghĩa xác định tội chính xác; xác định được các giai đoạn phạm tội; vai trò, vị trí hay mức độ tham gia của những người đồng phạm khác; tính chất, mức độ nguy hiểm của những người đồng phạm đó cũng như của tội phạm đã được thực hiện... do đó người thực hành được coi là trung tâm trong vụ án có đồng phạm.
Luật Minh Khuê phân tích chi tiết hơn các vấn đề pháp lý liên quan để làm rõ vấn đề trên như sau:
1. Đồng phạm là gì ?
Trong quá trình hình thành và phát triển của pháp luật hình sự Việt Nam, các quy định về đồng phạm đã xuất hiện từ rất sớm và dần được hoàn chỉnh theo thời gian. Theo đó, thuật ngữ đồng phạm lần đầu tiên được ghi nhận tại Khoản 1 Điều 17 Bộ luật hình sự năm 1985 là “Hai hoặc nhiều người cố ý cùng thực hiện một tội phạm là đồng phạm”.
Sau đó, trải qua hai lần pháp điển hoá pháp luật hình sự tiếp theo thì tại Khoản 1 Điều 17 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) hiện hành tiếp tục quy định về đồng phạm như sau: “Đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm”.
Từ định nghĩa trên về đồng phạm, có thể nhận thấy yếu tố đồng phạm trong luật hình sự sẽ mang các đặc điểm dưới đây:
- Đồng phạm phải có từ hai người trở lên, theo đó những người này phải có đủ dấu hiệu về chủ thể của tội phạm như năng lực trách nhiệm hình sự và độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật. - Cùng cố ý cùng thực hiện một tội phạm, tức mỗi người phạm tội với tư cách là đồng phạm đều có hành vi tham gia vào việc thực hiện tội phạm, hành vi của mỗi người được thực hiện có sự liên kết với nhau, hành vi của người này hỗ trợ, bổ sung cho hành vi của người khác và ngược lại. Đồng thời, hành vi phạm tội của mỗi người đều nằm trong hoạt động phạm tội của cả nhóm với mục đích chung là đạt được kết quả thực hiện tội phạm.
2. Các loại người đồng phạm theo quy định của luật hình sự?
Hiện nay, người đồng phạm sẽ bao gồm người tổ chức, người thực hành, người xúi giục, người giúp sức. Cụ thể:
- Người tổ chức: Đây là người chủ mưu, cầm đầu, đứng ra chỉ huy việc thực hiện tội phạm. Tuy nhiên cần lưu ý, không phải mọi vụ án đồng phạm đều có người tổ chức. Người giữ vai trò là người tổ chức sẽ thường xuất hiện trong các vụ án phạm tội có tổ chức.
- Người thực hành: Là người trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội, theo đó hành vi của người thực hành là nguyên nhân trực tiếp gây ra hậu quả. Người thực hành là người có vai trò quyết định việc thực hiện tội phạm bởi họ là người trực tiếp thực hiện phạm tội. Dù đồng phạm giản đơn hay phạm tội có tổ chức thì bao giờ cũng có người thực hành.
- Người xúi giục: Là người có hành vi kích động, dụ dỗ, thúc đẩy người khác thực hiện tội phạm. Hành vi xúi giục thực hiện trước khi người thực hành thực hiện hành vi phạm tội. Bên cạnh đó, hành vi xúi giục phải cụ thể nhằm vào tội phạm cụ thể và người phạm tội cụ thể. Trường hợp chỉ gợi ý chung chung không cụ thể thì không thể coi là người xúi giục.
- Người giúp sức: Là người tạo những điều kiện tinh thần hoặc vật chất cho việc thực hiện tội phạm. Theo đó, các hành vi của người giúp sức có thể được thể hiện như sau:
+ Cung cấp công cụ, phương tiện, thông tin cần thiết để thực hiện tội phạm;
+ Khắc phục những trở ngại cho việc thực hiện tội phạm;
+ Hứa che giấu người phạm tội hoặc hứa tiêu thụ tài sản do tội phạm mà có...
+ Hành vi này không trực tiếp gây thiệt hại cho khách thể mà chỉ tạo điều kiện thuận lợi cho tội phạm.
Trong đó, một vụ án hình sự có đồng phạm không phải lúc nào cũng sẽ đủ 04 loại người đồng phạm nêu trên, hoặc một người có thể đóng nhiều vai trò đồng phạm.
3. Người thực hành theo quy định của Bộ luật hình sự ?
Theo khoản 3 Điều 17 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017), có thể hiểu người thực hành là người trực tiếp thực hiện tội phạm.
Hiểu một cách đơn giản, ví dụ như trực tiếp cướp giật tài sản, trực tiếp cầm dao chém nạn nhân, trực tiếp trộm cắp... Như vậy, người thực hành là người có vai trò quyết định việc thực hiên tội phạm, vì họ là người trực tiếp thực hiên tội phạm.
Theo quy định của pháp luật hình sự Việt Nam hiện nay, người thực hiện tội phạm bao gồm hai trường hợp sau:
- Trường hợp thứ nhất: người phạm tội tự mình thực hiện hành vi được mô tả trong cấu thành tội phạm. Thông thường, người phạm tội có thể sử dụng công cụ, phương tiện phạm tội, kể cả sử dụng cơ thể người khác hoặc con vật như là công cụ.
Tuy nhiên, trong vụ đồng phạm có thể có nhiều người cùng thực hiện hành vi được mô tả trong cấu thành tội phạm và họ được gọi là người đồng thực hành. Khi đó không đòi hỏi mỗi người đồng thực hành phải thực hiện đầy đủ hành vi được mô tả trong cấu thành tội phạm mà có thể mỗi người chỉ thực hiện một phần hành vi đó nhưng đòi hỏi hành vi tổng hợp của họ phải là hành vi có đủ dấu hiệu của cấu thành tội phạm.
Ví dụ: Trong vụ đồng phạm cướp tài sản, A và B thực hiện hành vi đe dọa, kề dao vào cổ và giữ chặt nạn nhân để C thực hiện hành vi cướp tài sản của nạn nhân. Ở đây, hành vi của từng người đồng phạm không thoả mãn hết các dấu hiệu của cấu thành tội phạm cướp tài sản vì cấu thành tội phạm của tội cướp tài sản đòi hỏi có hành vi đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc dùng vũ lực… Trong đó, tuy C không có hành vi đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc nhưng vẫn bị coi là người đồng thực hành.
- Trường hợp thứ hai: người phạm tội không tự mình thực hiện hành vi được mô tả trong cấu thành tội phạm. Ví dụ như không tự mình thực hiện hành vi đâm, bắn, chém người khác... hoặc không tự mình thực hiện hành vi hủy hoại, đốt cháy, đập, phá tài sản... mà chỉ có hành động (cố ý) tác động người khác để người này thực hiện hành vi được mô tả trong cấu thành tội phạm nhưng họ lại không phải chịu trách nhiệm hình sự cùng với người đã tác động. Việc người đã thực hiện hành vi được mô tả trong cấu thành tội phạm không phải chịu trách nhiệm hình sự có thể vì một trong các lí do sau:
+ Họ là người không có năng lực trách nhiệm hình sự trong hai trường hợp sau:
- Chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo Điều 12 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017);
- Trong tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự theo Điều 21 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017);
+ Họ không có lỗi hoặc chỉ có lỗi vô ý do sai lầm;
+ Họ được loại trừ trách nhiệm hình sự do bị cưỡng bức tinh thần.
Ví dụ: A và B ( đều 18 tuổi) cấu kết xúi giục C là học sinh 10 tuổi đốt nhà hàng xóm. Trong trường hợp này A và B là người thực hành (ở dạng thứ hai) tội huỷ hoại tài sản còn C sẽ được xác định là người không có năng lực trách nhiệm hình sự.
Căn cứ trên những quy định pháp luật hình sự về người thực hành, có thể nói người thực hành thường là người giữ vai trò quan trọng trong vụ án và quyết định mấu chốt phạm tội nhưng cũng có nhiều trường hợp, người thực hành không phải là người đóng vai trò chính trong vụ đồng phạm. Tuy nhiên, về mặt pháp lí, hành vi của người thực hành được coi có vị trí trung tâm vì nhiều vấn đề về định tội và quyết định hình phạt được giải quyết căn cứ vào hành vi này.
3. Phân tích vai trò, vị trí của người thực hành vụ án hình sự có đồng phạm?
Việc khẳng định hành vi của người thực hành có vai trò, vị trí quan trọng, trung tâm để xác định trách nhiệm hình sự trong vụ án có đồng phạm là đúng. Bởi lẽ, căn cứ theo Khoản 3 Điều 17 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định: “Người thực hành là người trực tiếp thực hiện tội phạm”.
Như vậy có thể nói, hành vi của người thực hành được coi là hành vị chủ chốt, thiếu hành vi tổ chức, hành vi xúi giục, hành vi giúp sức, đồng phạm vẫn có thể xảy ra, nhưng thiếu hành vi của người thực hành thì không có đồng phạm.
Nói một cách dễ hiểu, nếu không có người thực hành thì tội phạm sẽ chỉ dừng lại ở giai đoạn chuẩn bị phạm tội, mục đích tội phạm sẽ không được thực hiện, hậu quả vật chất của tội phạm chưa xảy ra và trách nhiệm hình sự đối với những người đồng phạm khác sẽ được xem xét theo hướng khác. Ngược lại, nếu người thực hành tự ý thực hiện hành vi phạm tội nằm ngoài dự tính của các thành viên khác thì họ phải chịu trách nhiệm hình sự nặng hơn so với những người khác.
Nhìn chung, trong vụ án có đồng phạm, hành vi của người thực hành có ý nghĩa quan trọng với việc xác định tội phạm được chính xác; xác định được các giai đoạn phạm tội; vai trò, vị trí hay mức độ tham gia của những người đồng phạm khác; tính chất, mức độ nguy hiểm của những người đồng phạm đó cũng như của tội phạm đã được thực hiện... Do đó, người thực hành được coi là trung tâm trong vụ án có đồng phạm.
Như vậy, để xác định được mức độ chịu trách nhiệm hình sự trong vụ án có đồng phạm thì hành vi của người thực hành có vai trò, vị trí quan trọng, trung tâm để xác định trách nhiệm.
Mọi vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại 24/7, gọi ngay tới số: 1900.6162 hoặc gửi email trực tiếp tại: Tư vấn pháp luật qua Email để được giải đáp. Cảm ơn quý khách hàng đã quan tâm theo dõi bài viết của Luật Minh Khuê./.