1. Hành vi dọa giết người và gây thương tích bị xử lý như thế nào?

Cách đây hai tuần trong gia đình tôi có xảy ra một vụ việc với em gái của tôi. Khoảng 10h đêm ngày 12/10 khi em gái tôi đi ra ngoài vệ sinh trong vườn thì nghe có một cuộc gọi thoại của một thanh niên cùng xóm (đã có gia đình) gọi điện và bảo em gái tôi ra gặp mặt anh ta, anh ta nói với em gái tôi nếu không ra gặp mặt thì anh ta sẽ giết em gái tôi và giết lần lượt từng người một trong gia đình tôi.
Em tôi giật mình vội vàng đứng dậy định chạy vào nhà thì bất chợt có ai đó đánh một cú thật mạnh vào đầu và khi quay lại nhìn thì thấy chính là anh thanh niên vừa mới gọi điện thoại cho nó xong, sau khi đánh em gái tôi xong hắn còn bóp cổ, dí dao vào người em gái tôi nữa, hắn dọa nếu em gái tôi nói chuyện hắn làm với em gái tôi trong tối hôm đó thì hắn sẽ giết em gái tôi và kêu anh em đồng bọn của hắn giết gia dình tôi, sau đó hắn còn đâm em gái tôi mấy nhát vào cổ và tay nữa, may lúc đó mẹ tôi nghe tiếng rục rịch sau nhà thì mẹ rọi đèn pin lúc đó hắn thấy đèn pin của mẹ tôi mới thả em gái tôi ra. Gia đình chúng tôi có trình báo sự việc lên công an xã và hắn bị bắt luôn trong tối hôm đó.
Thế nhưng sáng hôm sau hắn lại lập tức bị thả về nhà. Tôi không hiểu cơ quan công an làm việc như vậy là như thế nào, đáng lẽ ra hắn phải được pháp luật xử lí tại sao sau khi hắn gây ra những vụ việc như vậy mà vẫn nhởn nhơ ngoài vòng pháp luật? Tôi muốn được biết những hành vi mà hắn đã gây ra bị xử lý như thế nào?
Cảm ơn luật sư!

Hành vi dọa giết người và gây thương tích bị xử lý như thế nào?

Luật sư tư vấn luật hình sự trực tuyến, gọi số: 1900.6162

Trả lời:

Điều 133 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định về tội đe dọa giết người như sau:

"Điều 133. Tội đe dọa giết người

1. Người nào đe doạ giết người, nếu có căn cứ làm cho người bị đe dọa lo sợ rằng việc đe dọa này sẽ được thực hiện, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a) Đối với 02 người trở lên;

b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

c) Đối với người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân;

d) Đối với người dưới 16 tuổi;

đ) Để che giấu hoặc trốn tránh việc bị xử lý về một tội phạm khác."

Theo quy định trên thì hành vi đe dọa giết người chỉ cấu thành tội phạm khi hành vi đó đã làm cho người bị đe dọa thực sự lo sợ một cách có căn cứ rằng việc đe dọa này sẽ được thực hiện thì người đe dọa đó sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Người bị coi là phạm tội là người có hành vi thể hiện sẽ tước đoạt tính mạng người khác. Hành vi này có thể là lời đe dọa với những hình thức khác nhau (qua điện thoại, thư từ…) hoặc có thể là những cử chỉ, việc làm cụ thể gián tiếp thể hiện sự đe dọa (như đi tìm công cụ, phương tiện…). Hành vi đe dọa phải gây ra cho người bị đe dọa tâm lí lo sợ một cách có căn cứ là hành vi giết người sẽ xảy ra. Hành vi đe dọa giết người chỉ cấu thành tội phạm khi hành vi đó đã làm cho người bị đe dọa thực sự lo sợ một cách có căn cứ rằng việc đe dọa này sẽ được thực hiện. Như vậy, trường hợp một người nhiều lần nhắn tin, đe dọa người khác để đòi tiền chỉ có thể bị coi là phạm tội đe dọa giết người nếu nội dung của tin nhắn có việc dọa giết, đồng thời nội dung và phương thức nhắn tin phải làm cho người bị đe dọa thực sự lo sợ một cách có căn cứ rằng việc đe dọa này sẽ được thực hiện. Hành vi đe dọa giết người sẽ không cấu thành tội này khi hành vi đó cùng với những mục đích nhất định cấu thành tội khác. Để đánh giá người bị đe dọa có phải ở trong tình trạng tâm lí như vậy hay không cần phải dựa vào những tình tiết sau: Nội dung và hình thức đe dọa; thời gian, địa điểm cũng như hoàn cảnh cụ thể khi hành vi đe dọa xảy ra; tương quan giữa bên đe dọa và bên bị đe dọa; thái độ và những xử sự cụ thể của người bị đe dọa sau khi bị đe dọa…

Dựa vào những thông tin bạn cung cấp thì người thanh niên hàng xóm sau khi đe dọa giết em gái bạn và người trong gia đình bạn bằng cuộc điện thoại, xong ngay lập tức em bạn bị hắn đánh một cú mạnh vào đầu em gái bạn sau đó hắn còn bóp cổ, dí dao vào người em gái bạn rồi vừa đe dọa vừa dùng dao đâm vào cổ, tay gây thương tích cho em gái bạn. Sau khi gia đình bạn tố cáo hành vi của người này trong đêm đó thì hắn được thả vào sáng hôm sau. Có thể thấy người đe dọa đã có những hành vi mang tính chất cảnh cáo về việc sẽ giết người và gây thương tích cho em gái bạn nhưng không biết về phía em gái bạn có sợ hãi và tin rằng hành vi giết người đó có xảy ra hay không, thái độ, tâm lý của em gái bạn lúc đó như thế nào. Để có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự hay không còn phải dựa vào sự xem xét đánh giá điều tra của cơ quan công an. Có thể trong lúc lấy lời khai, hắn đã không chịu thừa nhận về hành vi đe dọa, còn tình trạng tâm lý của em gái bạn có sợ đến mức hành vi đe dọa giết người đó có xảy ra hay không, về phía em gái bạn có đưa ra được thêm bằng chứng là nội dung cuộc điện thoại đe dọa hay không, và tỉ lệ thương tật của em gái bạn cũng có thể chưa đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự.

Hành vi dùng dao đâm có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Theo quy định tại khoản 1 điều 134 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 thì tỷ lệ thương tật của người bị hại từ 11% trở lên trong các trường hợp nêu ở khoản này thì người có hành vi cố ý gây thương tích sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội cố ý gây thương tích:

“Điều 134. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác

1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Dùng vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn có khả năng gây nguy hại cho nhiều người;

b) Dùng a-xít nguy hiểm hoặc hóa chất nguy hiểm;

c) Đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;

d) Đối với ông, bà, cha, mẹ, thầy giáo, cô giáo của mình, người nuôi dưỡng, chữa bệnh cho mình;

đ) Có tổ chức;

e) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

g) Trong thời gian đang bị giữ, tạm giữ, tạm giam, đang chấp hành án phạt tù, đang chấp hành biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng hoặc đang chấp hành biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào trường giáo dưỡng hoặc đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc;

h) Thuê gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do được thuê;

i) Có tính chất côn đồ;

k) Đối với người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân."

Nếu các hành vi của người thanh niên này chưa đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự thì cơ quan công an sẽ chỉ thực hiện các biện pháp cảnh cáo, nhắc nhở. Trong trường hợp người thanh niên này sau khi được thả mà vẫn tiếp tục thực hiện hành vi đe dọa gia đình bạn nên thu thập bằng chứng xác đáng để có thể tố cáo người này.

>> Tham khảo nội dung: Thủ tục khởi kiện ra Tòa trường hợp đánh người gây thương tích ?

2. Gây thương tích cho hàng xóm có bị phạt tù không ?

Xin chào Luật Minh Khuê. Rất mong anh, chị tư vấn cho em ạ! Em xin trình bày sự việc: nhà em và nhà trước mặt có tranh chấp đất đai sổ đỏ, sau khi chính quyền địa phương làm việc thì 2 bên đã giải quyết xong với nhau.

Nhưng sau một thời gian thì nhà họ vẫn tiếp tục đập ngói nhà em, và chửi nhà em rất nhiều. Do sự ức chế ngày gần đây em có uống rượu về, sang trước cổng nhà họ và chửi họ một câu. Thì vợ chồng nhà họ mở cổng thách thức em vào nhà nhưng em không vào vẫn đứng ở ngoài cổng, hai bên lời qua tiếng lại thì ông chồng cầm xẻng định vụt em nên em né và có đánh lại họ bằng tay. Vậy bây giờ họ viết đơn kiện em. Vậy bây giờ em có bị truy cứu trách nhiệm hình sự không ạ? Nếu như tỉ lệ thương tật của họ dưới 11% và cao hơn 11% thì em có bị sao không ạ? Em xin cảm ơn.

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Gây thương tích cho hàng xóm ?

Luật sư tư vấn luật hình sự về cố ý gây thương tích, gọi: 1900.6162

Luật sư tư vấn:

Căn cứ vào Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 như sau:

“Điều 134. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác

1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Dùng vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn có khả năng gây nguy hại cho nhiều người;

b) Dùng a-xít nguy hiểm hoặc hóa chất nguy hiểm;

c) Đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;

d) Đối với ông, bà, cha, mẹ, thầy giáo, cô giáo của mình, người nuôi dưỡng, chữa bệnh cho mình;

đ) Có tổ chức;

e) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

g) Trong thời gian đang bị giữ, tạm giữ, tạm giam, đang chấp hành án phạt tù, đang chấp hành biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng hoặc đang chấp hành biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào trường giáo dưỡng hoặc đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc;

h) Thuê gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do được thuê;

i) Có tính chất côn đồ;

k) Đối với người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 06 năm:

a) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 11% đến 30%;

c) Phạm tội 02 lần trở lên;

d) Tái phạm nguy hiểm;

đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:

a) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên, nếu không thuộc trường hợp quy định tại điểm b khoản 4 Điều này;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% đến 60%;

c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này;

d) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 14 năm:

a) Làm chết người;

b) Gây thương tích làm biến dạng vùng mặt của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;

c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên;

d) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này;

đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% đến 60% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này.

5. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:

a) Làm chết 02 người trở lên;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này.

6. Người nào chuẩn bị vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm, a-xít nguy hiểm, hóa chất nguy hiểm hoặc thành lập hoặc tham gia nhóm tội phạm nhằm gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.”.

Như vậy: trong trường hợp bạn gây thương tích cho hàng xóm của bạn mà tỉ lệ thương tật lớn hơn 11% thì bạn sẽ bị truy tố trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 134 Bộ luật Hình sự về tội Cố ý gây thương tíc. Trường hợp mà tỉ lệ thương tật nhỏ hơn 11% nhưng lại gây cố tật nhẹ cho nạn nhân; phạm tội nhiều lần đối với cùng một người hoặc đối với nhiều người; hay phạm tội đối với trẻ em, phụ nữ đang có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ... thì bạn vẫn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự đối với hành vi của mình theo điều 134 trên. Chỉ trong trường hợp bạn gây thương tật cho người hàng xóm mà tỉ lệ nhỏ hơn 11%, lại không thuộc các trường hợp quy định tại khoản 1 điều 134 thì bạn mới không bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Trong trường hợp không bị truy cứu trách nhiệm hình sự, bạn phải bồi thường thiệt hại do đã xâm phạm đến sức khỏe của người hàng xóm theo quy định của luật dân sự. Căn cứ Điều 590 Bộ luật dân sự 2015 quy định về bồi thường thiệt hại khi sức khỏe bị xâm phạm như sau:

"Điều 590. Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm

1. Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm bao gồm:

a) Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại;

b) Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại; nếu thu nhập thực tế của người bị thiệt hại không ổn định và không thể xác định được thì áp dụng mức thu nhập trung bình của lao động cùng loại;

c) Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị; nếu người bị thiệt hại mất khả năng lao động và cần phải có người thường xuyên chăm sóc thì thiệt hại bao gồm cả chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại;

d) Thiệt hại khác do luật quy định.

2. Người chịu trách nhiệm bồi thường trong trường hợp sức khỏe của người khác bị xâm phạm phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần mà người đó gánh chịu. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa cho một người có sức khỏe bị xâm phạm không quá năm mươi lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định."

3. Dùng vũ lực gây thương tích cho người có hành vi cướp có phạm tội ?

Luật sư tư vấn:

Theo quy định tại Điều 168 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung 2017) về tội cướp tài sản:

"Điều 168. Tội cướp tài sản

1. Người nào dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30%;

d) Sử dụng vũ khí, phương tiện hoặc thủ đoạn nguy hiểm khác;

đ) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;

e) Phạm tội đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu hoặc người không có khả năng tự vệ;

g) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

h) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%;

c) Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 18 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của 01 người mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 31% trở lên;

c) Làm chết người;

d) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp.

5. Người chuẩn bị phạm tội này, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

6. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt quản chế, cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản."

Có thể thấy, đối với tội cướp giật tài sản thì xác định tội phạm đã hoàn thành khi có hành vi đe dọa dùng vũ lực hoặc trực tiếp dùng vũ lực với mục đích nhằm chiếm đoạt tài sản là đã đủ yếu tố cấu thành tội phạm chứ không cần tính đến tội phạm đã đạt hay chưa hoặc hậu quả như thế nào. Khi người phạm tội có hành vi đe dọa dùng vũ lực hoặc dùng vũ lực nhằm cướp tài sản của bạn thì bạn hoàn toàn có quyền phòng vệ của mình, tức là bạn có thể chống trả lại với hành vi đó, tuy nhiên mức độ chống trả sẽ bị giới hạn theo quy định của luật, cụ thể bạn chỉ có quyền chống trả lại hành vi xâm phạm một cách cần thiết, tức là có thể hiểu nó phù hợp với mức độ, cường độ, mà người phạm tội thực hiện hành vi tấn công bạn. Nếu trong trường hợp bạn phòng vệ quá sớm tức là người khác chưa có hành vi tấn công bạn mà bạn tấn công họ thì sẽ bị coi là phòng vệ quá sớm hay phòng vệ quá muộn là bạn thực hiện việc chống trả sau khi hành vi cướp đã được thực hiện xong mà không phải chống trả ngay từ lúc người phạm tội thực hiện hành vi đó thì hành vi chống trả của bạn sẽ không được coi là phòng vệ chính đáng và bạn có thể phải chịu trách nhiệm với hậu quả mình gây ra. Ngoài ra, còn một trường hợp nữa sẽ không được coi là phòng vệ chính đáng nếu bạn chống trả vượt mức cần thiết, tức là chống trả mới mức độ, cường độ mạnh hơn nhiều và không cần thiết dùng mức độ chống trả đó để ngăn cản hành vi tấn công thì bạn cũng sẽ bị truy cứu trách nhiệm với hậu quả do hành vi vượt quá giới hạn của phòng vệ chính đáng. Căn cứ quy định tại Điều 22 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung 2017):

"Điều 22. Phòng vệ chính đáng

1. Phòng vệ chính đáng là hành vi của người vì bảo vệ quyền hoặc lợi ích chính đáng của mình, của người khác hoặc lợi ích của Nhà nước, của cơ quan, tổ chức mà chống trả lại một cách cần thiết người đang có hành vi xâm phạm các lợi ích nói trên.

Phòng vệ chính đáng không phải là tội phạm.

2. Vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng là hành vi chống trả rõ ràng quá mức cần thiết, không phù hợp với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi xâm hại.

Người có hành vi vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật này."

>> Xem thêm nội dung: Đánh người gây thương tích rồi bỏ trốn xử lý như thế nào ?

4. Cố ý đâm gây thương tích cho người khác có phạm tội không?

Luật Minh Khuê giải đáp các thắc mắc về tội cố ý gây thương tích:

Luật sư tư vấn:

Mức xử phạt vi phạm hành chính theo Nghị định số 167/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống, chống bạo lực gia đình:

"Điều 5. Vi phạm quy định về trật tự công cộng
1. Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:
a) Có cử chỉ, lời nói thô bạo, khiêu khích, trêu ghẹo, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác;
b) Gây mất trật tự ở rạp hát, rạp chiếu phim, nhà văn hóa, câu lạc bộ, nơi biểu diễn nghệ thuật, nơi tổ chức các hoạt động thể dục, thể thao, lễ hội, triển lãm, hội chợ, trụ sở cơ quan, tổ chức, khu dân cư, trường học, bệnh viện, nhà ga, bến tàu, bến xe, trên đường phố, ở khu vực cửa khẩu, cảng hoặc ở nơi công cộng khác;
2. Phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:
a) Đánh nhau hoặc xúi giục người khác đánh nhau;

...
c) Say rượu, bia gây mất trật tự công cộng;
3. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:
a) Tàng trữ, cất giấu trong người, đồ vật, phương tiện giao thông các loại dao, búa, các loại công cụ, phương tiện khác thường dùng trong lao động, sinh hoạt hàng ngày nhằm mục đích gây rối trật tự công cộng, cố ý gây thương tích cho người khác;
4. Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:
a) Gây rối trật tự công cộng mà có mang theo các loại vũ khí thô sơ hoặc công cụ hỗ trợ;
...
5. Hình thức xử phạt bổ sung:
Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính đối với hành vi quy định tại Điểm g Khoản 2; Điểm a, l, m Khoản 3 và Khoản 4 Điều này."

Bộ luật Dân sự 2015 quy định thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm tại điều 590

Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác tại điều 134

Thưa luật sư, cách đây 3 năm về trước trong lúc tôi đang làm việc tại quán bar thì bị một người đâm làm thương tật 33%. Trong quá trình tôi đang nằm viện thì gia đình đó có chi phí viện phí và thuốc thang. Gia đình họ có đề cấp tới tôi viết đơn bãi nãi và đền tiên bồi thường nhưng tôi không đồng ý. Gia đình này đã tìm cách chạy cách khác và họ đã nhờ đến công an điều tra. Điều tra viên làm vụ án của tôi. Sự việc là như thế này: ngày đó công an điều tra gọi tôi lên phòng điều tra viên để làm chút việc liên quan. Và ông điều tra viên chào hỏi ân cần, còn mua Cafe mời nữa. Vì hiểu biết có hạn và công an điều tra yêu cầu viết tôi cũng viết. Công an điều tra đã lừa tôi viết đơn bãi nại cho người đâm tôi đó. Sau khi về nhà tìm hiểu tôi mới biết tôi đã làm đơn bãi nại cho người ta, và bị công an điều tra lợi dụng lừa gạt tôi viết đơn bãi nại. Sau cái đơn ấy tôi mới biết vụ án bị hủy điều tra. Tôi rất uất ức vì chuyện đó. Nhưng vì phần lòng tự trọng vì không biết làm thế nào nen cũng im lặng đến bây giờ. Nay xin văn phòng luật sư có thể tư vấn cho tôi về việc này? Rút lại đơn bãi nại được không, kiên công an điều tra được không?

Trả lời: Bạn phỉ có chứng cứ chứng minh tại thời điểm đó bạn đã bị lừa dối để viết đơn bãi nại, nếu bạn không chứng minh được thì đơn đó được coi là bạn tự nguyện viết và bạn không thể rút đơn bãi nại được.

Thưa luật sư, Có 1 thanh niên 24 tuổi xông vào đâm thằng bé 15 tuổi, và bị ông ngoại thằng bé đang đóng đinh, thấy vậy đập vào đầu thanh niên đó bị chảy máu, vậy ông và thằng bé đúng hay sai ạ? Em xin cảm ơn.

Trả lời: Trường hợp này cả người thanh niên và ông ngoại của cậu bé kia đều sai vì có hành vi cố ý gây thương tich cho người khác. Mức độ truy cứu trach nhiệm phụ thuộc vào tỷ lệ thương tật.

Thưa luật sư, Em trai tôi có vay của chị cùng cơ quan số tiền 96 triệu đồng nhưng chưa có để trả và xin khất sẽ trả sau 1 thời gian. Chị ta đã thuê người đến nhà đòi tiền và xảy ra cãi vã dẫn đến đối tượng đi cùng đã chém em tôi nhiều nhát phải lên viện điều trị. Nay gia đình họ đền bù số tiền thuốc men và bồi dưỡng chút ít để gia đình tôi viết đơn xin bãi nại cho họ. Xin hỏi luật sư khi gia đình viết đơn thì pháp luật có xử lý hình sự không? Tôi xin cảm ơn.

Trả lời: Đây là vụ án về tội phạm chỉ được khởi tố khi có yêu cầu của người bị hại hoặc của người đại diện hợp pháp của người bị hại là người chưa thành niên, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất. Vì thế phải làm đơn khởi kiện lên Tòa án thì Tòa án mới giải quyết.

5. Bị hàng xóm hành hung gây thương tích có kiện được không ?

Chào luật sư cho em hỏi là em bị người hàng sớm kéo qua hành hung đánh mẹ em với em gây thương tích em đi khám bác sĩ nói là em bị đa chấn thương vùng lưng do ẩu đã vậy cho em hỏi em có đi kiện người đó được không ạ? Em xin cảm ơn.

Trả lời:

Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác tại điều 134

Do bạn không nêu rõ cụ thể về tính chất của hành vi cũng như tỷ lệ thương tật mà người hàng xóm đã thực hiện với mẹ bạn nên chúng tôi không thể tư vấn cụ thể rằng bạn có thể tố cáo hành vi của người này với cơ quan có thẩm quyền hay không. Do đó, bạn có thể đối chiếu hành vi của người này với quy định trên để xác định người này có thể bị xử phạt hành chính (nếu hành vi không nghiêm trọng) hoặc sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi mà mình gây ra.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài gọi số: 1900.6162 để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận Tư vấn Pháp luật Hình sự - Công ty Luật Minh Khuê.