Kính thưa quý khách hàng!

Công ty Luật TNHH MINH KHUÊ xin gửi tới quý khách hàng lời chào trân trọng và cảm ơn quý khách đã tin tưởng vào dịch vụ do chúng tôi cung cấp. Chúng tôi nhận được yêu cầu của quý khách liên quan đến nội dung cụ thể như sau:

NỘI DUNG YÊU CẦU

Kính gửi: Luật Minh Khuê!

Cách đây 5 năm tôi có quen một bạn gái và tháng 3/2021 thì chia tay Trong tình yêu đôi khi cũng nóng giận vì ghen tuông tôi không nhớ là đã có lần dọa nếu cô lăng nhăng thì sẽ tạt axits..hay gây tai nạn..không ngờ cô ấy ghi âm lại ..bây giờ cô ấy quen người khác và đang có ý định kiện tôi vì tội tống tình..vậy tôi phải làm sao? Mong luật sư sớm phản hồi

Cám ơn luật sư ạ!

TRẢ LỜI:

CƠ SỞ PHÁP LÝ

- Bộ luật dân sự 2015;

- Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017;

- Bộ luật tố tụng hình sự 2015;

- Văn bản pháp luật khác;

NỘI DUNG TƯ VẤN

Đối với thông tin Qúy khách cung cấp, Luật Minh Khuê sẽ phân tích hành vi của Qúy khách với hai trường hợp sau đây. Nếu còn thông tin nào có liên quan, Qúy khách vui lòng cung cấp thêm để Luật Minh khuê xác định chính xác trách nhiệm pháp lý đối với hành vi này.

Trường hợp 1: Cưỡng đoạt tài sản

Khi Qúy khách có hành vi đe dọa sẽ tạt axits..hay gây tai nạn cho bạn gái, vậy mục đích của hành vi đe dọa ấy là gì? Nếu mục đích của hành vi này nhằm chiếm đoạt tài sản từ bạn gái thì hành vi này có dấu hiệu của tội cưỡng đoạt tài sản của người khác quy định tại Điều 170 Bộ luật hình sự 2015.

“Điều 170. Tội cưỡng đoạt tài sản

1. Người nào đe dọa sẽ dùng vũ lực hoặc có thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần người khác nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Phạm tội đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu hoặc người không có khả năng tự vệ;

d) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;

đ) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

e) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;

b) Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên;

b) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.”

Quý khách có hành vi uy hiếp tinh thần, đe dọa người khác. Tuy nhiên, nếu mục đích của việc uy hiếp, đe dọa tinh thần ấy không nhằm chiếm đoạn tiền, tài sản khác từ bạn gái thì không đủ yếu tố cấu thành tội cưỡng đoạt tài sản.

Trường hợp 2: Đe dọa giết người

Điều 133 Bộ luật hình sự 2015 quy định về tội đe dọa giết người như sau:

“Điều 133. Tội đe dọa giết người

1. Người nào đe dọa giết người, nếu có căn cứ làm cho người bị đe dọa lo sợ rằng việc đe dọa này sẽ được thực hiện, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a) Đối với 02 người trở lên;

b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

c) Đối với người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân;

d) Đối với người dưới 16 tuổi;

đ) Để che giấu hoặc trốn tránh việc bị xử lý về một tội phạm khác.”

Mặt khách quan tội đe dọa giết người, chủ thể phải có hành vi “đe doạ” nạn nhân, sự đe dọa trên có thể được thực hiện bằng nhiều thủ đoạn như bằng lời nói trực tiếp, viết thư đe dọa, gửi qua zalo/facebook, điện thoại hoặc phương tiện khác, hành động đe dọa này có thể trực tiếp hoặc gián tiếp và nhằm vào một người cụ thể. Việc đe dọa phải gây ra tâm lý bất an, thực sự lo sợ cho người bị đe dọa.

Qúy khách đe dọa bạn gái, vậy hành vi này của Qúy khách cần xét thêm các vấn đề như:

- Nội dung và hình thức đe dọa Qúy khách thực hiện như thế nào?

- Thời gian, địa điểm cũng như hoàn cảnh cụ thể khi hành vi đe dọa xảy ra?

- Sự tương quan về lực lượng giữa người đe dọa và người bị đe dọa, giữa hoàn cảnh ra sao?

- Thái độ và xử sự của bạn gái Qúy khách sau khi bị đe doạ ra sao, có thực sự sợ hãi không?

Nếu hành vi của Qúy khách chỉ dừng lại ở việc đe dọa qua điện thoại, bạn gái biết và không hề lo sợ về việc đe dọa đó thì hành vi này của Qúy khách vẫn chưa cấu thành tội đe dọa giết người quy định tại Điều 133 nêu trên.

Luật Minh Khuê chỉ xét đến hai tội phạm trên vì hành vi của Qúy khách có những dấu hiệu của tội đó. Tuy nhiên, để xét rằng hành vi của Qúy khách đã đủ yếu tố cấu thành tội phạm chưa thì cần xét thêm những nội dung như đã phân tích ở từng trường hợp.

Pháp luật Việt Nam hiện này không có khái niệm “tống tình”, cũng như không có tội phạm mang tên “tống tình”. Do đó, nếu hành vi của Qúy khách chưa đủ các dấu hiệu đã phân tích ở hai trường hợp nêu trên thì không có có cơ sở để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với hành vi của Qúy khách.

Người yêu cũ tống tình bằng clip nhạy cảm?

Hành vi sử dụng clip, hình ảnh nhạy cảm để đe dọa, khống chế bị hại nhằm níu kéo tình cảm là hành vi vi phạm pháp luật, xâm phạm đến quyền và lợi ích của người khác. Ảnh hưởng lớn đến tinh thần của người khác. Vậy hành vi này có thể bị xử lý như thế nào?

Tùy theo mức độ, hậu quả của hành vi mà người vi phạm có thể bị xử phạt hành chính, phải chịu trách nhiệm dân sự hoặc có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.

Về xử phạt hành chính:

Theo điểm g khoản 3 điều 102 Nghị định 15/2020/NĐ-CP ngày 03/02/2020, hành vi cung cấp, trao đổi, truyền đưa hoặc lưu trữ, sử dụng thông tin số nhằm đe dọa, quấy rối, xuyên tạc, vu khống xúc phạm uy tín, danh dự nhân phẩm của người khác thì bị phạt tiền từ 10 triệu đồng đến 20.000.000 đồng.

Theo khoản 3 điều 32 và điều 34 Bộ luật Dân sự 2015, người sử dụng hình ảnh xâm phạm đến danh dự, uy tín nhân phẩm của người khác phải thu hồi, tiêu hủy, chấm dứt việc sử dụng hình ảnh và bồi thường thiệt hại, xin lỗi, cải chính công khai.

Điều 32, Điều 34 Bộ luật dân sự 2015 quy định:

"Điều 32. Quyền của cá nhân đối với hình ảnh

1. Cá nhân có quyền đối với hình ảnh của mình.

Việc sử dụng hình ảnh của cá nhân phải được người đó đồng ý.

Việc sử dụng hình ảnh của người khác vì mục đích thương mại thì phải trả thù lao cho người có hình ảnh, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.

2. Việc sử dụng hình ảnh trong trường hợp sau đây không cần có sự đồng ý của người có hình ảnh hoặc người đại diện theo pháp luật của họ:

a) Hình ảnh được sử dụng vì lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng;

b) Hình ảnh được sử dụng từ các hoạt động công cộng, bao gồm hội nghị, hội thảo, hoạt động thi đấu thể thao, biểu diễn nghệ thuật và hoạt động công cộng khác mà không làm tổn hại đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của người có hình ảnh.

3. Việc sử dụng hình ảnh mà vi phạm quy định tại Điều này thì người có hình ảnh có quyền yêu cầu Tòa án ra quyết định buộc người vi phạm, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan phải thu hồi, tiêu hủy, chấm dứt việc sử dụng hình ảnh, bồi thường thiệt hại và áp dụng các biện pháp xử lý khác theo quy định của pháp luật."

"Điều 34. Quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín

1. Danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân là bất khả xâm phạm và được pháp luật bảo vệ.

2. Cá nhân có quyền yêu cầu Tòa án bác bỏ thông tin làm ảnh hưởng xấu đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của mình.

Việc bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín có thể được thực hiện sau khi cá nhân chết theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc con thành niên; trường hợp không có những người này thì theo yêu cầu của cha, mẹ của người đã chết, trừ trường hợp luật liên quan có quy định khác.

3. Thông tin ảnh hưởng xấu đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân được đăng tải trên phương tiện thông tin đại chúng nào thì phải được gỡ bỏ, cải chính bằng chính phương tiện thông tin đại chúng đó. Nếu thông tin này được cơ quan, tổ chức, cá nhân cất giữ thì phải được hủy bỏ.

4. Trường hợp không xác định được người đã đưa tin ảnh hưởng xấu đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của mình thì người bị đưa tin có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố thông tin đó là không đúng.

5. Cá nhân bị thông tin làm ảnh hưởng xấu đến danh dự, nhân phẩm, uy tín thì ngoài quyền yêu cầu bác bỏ thông tin đó còn có quyền yêu cầu người đưa ra thông tin xin lỗi, cải chính công khai và bồi thường thiệt hại."

Về xử lý hình sự:

Người phạm tội có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo điều 155 Bộ luật Hình sự về tội Làm nhục người khác. Theo đó, người phạm tội có thể bị phạt cảnh cáo, phạt tiền từ 10.000.000 đến 30.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù 3 tháng đến 5 năm.

Do đó, để ngăn chặn kịp thời hành vi của người yêu cũ và bảo vệ chính mình, bạn cần làm đơn tố cáo gửi cơ quan công an cấp huyện có thẩm quyền (kèm theo các chứng cứ chứng minh hành vi đe dọa, tống tiền của người bạn trai cũ như tin nhắn, đoạn băng ghi âm...) để cơ quan này tiến hành điều tra, xử lý.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về “Tư vấn về pháp luật hình sự”. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và hồ sơ do quý khách cung cấp. Mục đích đưa ra bản tư vấn này là để quý khách tham khảo. Trường hợp trong bản tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong bản tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề, rất mong nhận được phản ánh của quý khách. Chúng tôi sẵn sàng giải đáp.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp.

Trân trọng cảm ơn!

Bộ phận tư vấn Pháp luật

Công ty Luật TNHH Minh Khuê