1. Liên đới bắt nguồn từ đâu

Nói chung, liên đới thụ động mang tính chất thỏa ước, vì trong hợp dồng, chủ nợ định rõ sự liên đới của nhũng người mắc nợ đối với chủ nợ..
Trong luật kinh doanh, được coi như có sự liên đới khi có nhiều người cam kết chung, nhưng trong luật dân sự thì không được giả định trước về sự liên đới.
- Sự liên đới có thể do một văn bản pháp luật quy định. Vì vậy, thì có sự liên đới theo luật, giữa nhiều người cùng mượn một vật của một người.
Bộ luật chung về thuế quy định những người đồng thừa kế phải liên đới nộp thuế về chuyển dịch tài sản của người chết. . 
Trong luật hình sự những đồng phạm hoặc tòng phạm về trọng tội hoặc khinh tội đều liên đói nộp tiền phạt, bồi hoàn, bồi thường và án phí, bảo đảm quyền lợi của người bị hại.

2. Nghĩa vụ dân sự liên đới

Điều 288 Bộ Luật Dân Sự 2015 quy định về việc nghĩa vụ dân sự liên đới như sau: 
"1. Nghĩa vụ liên đới là nghĩa vụ do nhiều người cùng phải thực hiện và bên có quyền có thể yêu cầu bất cứ ai trong số những người có nghĩa vụ phải thực hiện toàn bộ nghĩa vụ
Trường hợp một người đã thực hiện toàn bộ nghĩa vụ thì có quyền yêu cầu những người có nghĩa vụ liên đới khác phải thực hiện phần nghĩa vụ liên đới của họ đối với mình
Trường hợp bên có quyền đã chỉ định một trong số những người có nghĩa vụ liên đới thực hiện toàn bộ nghĩa vụ, nhưng sau đó lại miễn cho người đó thì những người còn lại cũng được miễn thực hiện nghĩa vụ.
Trường hợp bên có quyền chỉ miễn việc thực hiện nghĩa vụ cho một trong số những người có nghĩa vụ liên đới không phải thực hiện phần nghĩa vụ của mình thì những người còn lại vẫn phải liên đới thực hiện phần nghĩa vụ của họ."
Theo đó, Luật ghi nhận 1 đặc quyền của bên có quyền. Họ được quyền yêu cầu bất cứ ai có nghĩa vụ liên đới với họ phải thực hiện toàn bộ nghĩa vụ đó. 
Đây là một quyền lợi thật sự được mong muốn của người được thụ hưởng. Cũng là một quy định thật sự hợp lý của luật. Bởi, nếu như có nhiều người phải thực hiện nghĩa vụ với một người. 
Việc thực hiện nghĩa vụ này được chia đều cho từng người mà người có quyền lại không có đặc quyền trên. Trường hợp này người có quyền sẽ gặp rất nhiều bất lợi khi chờ đợi việc hoàn thành tất cả các nghĩa vụ từ những người có nghĩa vụ. 

Trong quan hệ nghĩa vụ liên đới, những người có nghĩa vụ luôn luôn liên quan với nhau trong cả quá trình thực hiện toàn bộ nghĩa vụ cũng như quyền yêu cầu của những người có quyền luôn được coi là một thể thống nhất.

Theo đó nghĩa vụ dân sự liên đới là loại nghĩa vụ của nhiều người, nhiều loại đối tượng khác nhau mà trong đó, một trong số những người có nghĩa vụ phải thực hiện toàn bộ nội dung của nghĩa vụ hoặc một trong số những người có quyền đều có thể yêu cầu bất cứ ai trong số những người có nghĩa vụ phải thực hiện toàn bộ nghĩa vụ.

Theo quy định của pháp luật: Theo Bộ luật dân sự 2015, các nghĩa vụ được coi là nghĩa vụ liên đới như:

- Tại khoản 4 Điều 142 BLDS 2015, trường hợp người không có quyền đại diện và người đã giao dịch cố ý xác lập, thực hiện giao dịch dân sự mà gây thiệt hại cho người được đại diện thì phải chịu trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại.

- Tại Điều 338 BLDS 2015, thì khi nhiều người cùng bảo lãnh một nghĩa vụ thì phải liên đới thực hiện việc bảo lãnh, trừ trường hợp có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định bảo lãnh theo các phần độc lập.

- Tại Điều 450 BLDS 2015, trường hợp quyền tài sản là quyền đòi nợ và bên bán cam kết bảo đảm khả năng thanh toán của người mắc nợ thì bên bán phải liên đới chịu trách nhiệm thanh toán, nếu khi đến hạn mà người mắc nợ không trả.

Thông qua các quy định của pháp luật dân sự, ta nhận thấy, các đặc điểm của nghĩa vụ dân sự liên đới như sau:

– Một đặc điểm vô cùng quan trọng đó là nghĩa vụ dân sự liên đới là một loại nghĩa vụ của nhiều người.

– Nghĩa vụ dân sự liên đới sẽ có sự liên quan trong việc thực hiện nghĩa vụ giữa những người có nghĩa vụ và sự liên quan trong việc hưởng quyền giữa người có quyền.

3. Căn cứ làm phát sinh nghĩa vụ liên đới

Theo Điều 275 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về các trường hợp cụ thể chịu trách nhiệm liên đới, có thể thấy nghĩa vụ dân sự liên đới phát sinh từ các căn cứ sau:

- Thứ nhất:  Thỏa thuận của các bên trong hợp đồng dân sự: Hợp đồng dân sự là sự thoả thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự. Các chủ thể trong quan hệ dân sự có vị trí độc lập, bình đẳng với nhau ví vậy pháp luật dân sự khi điều chỉnh các quan hệ dân sự cũng dựa trên sự tự thỏa thuận của các bên. Nếu trong hợp đồng, các bên đã thỏa thuận rõ về việc nghĩa vụ sẽ được liên đới thực hiện thì phải liên đới thực hiện nghĩa vụ đó.

- Thứ hai: Hành vi pháp lý đơn phương là một trong những căn cứ làm phát sinh nghĩa vụ liên đới.

- Thứ ba: Thực hiện công việc không có ủy quyền là một trong những căn cứ làm phát sinh nghĩa vụ liên đới.

- Thứ tư: Chiếm hữu, sử dụng tài sản hoặc được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật là một trong những căn cứ làm phát sinh nghĩa vụ liên đới.

- Thứ năm: Gây thiệt hại do hành vi trái pháp luật là một trong những căn cứ làm phát sinh nghĩa vụ liên đới.

-Thứ sáu: Các căn cứ khác do pháp luật quy định cụ thể.

Như vậy, theo quy định của pháp luật thì có thể thấy căn cứ làm phát sinh nghĩa vụ liên đới có thể thông qua sáu trường hợp cụ thể sau đây: Hợp đồng, Hành vi pháp lý đơn phương; Thực hiện công việc không có ủy quyền; Chiếm hữu, sử dụng tài sản hoặc được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật; Gây thiệt hại do hành vi trái pháp luật và các căn cứ khác do pháp luật quy định. Nghĩa vụ liên đới chỉ phát sinh dựa trên các căn cứ cụ thể nêu trên. Trong các trường hợp khác thì nghĩa vụ liên đới không phát sinh.

4. Trách nhiệm liên đới về bồi thường thiệt hại 

Điều 584 Bộ luật dân sự 2015 quy định Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại:

“1. Người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác.

2. Người gây thiệt hại không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp thiệt hại phát sinh là do sự kiện bất khả kháng hoặc hoàn toàn do lỗi của bên bị thiệt hại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.

3. Trường hợp tài sản gây thiệt hại thì chủ sở hữu, người chiếm hữu tài sản phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp thiệt hại phát sinh theo quy định tại khoản 2 Điều này.” 

 Điều 587 Bộ luật dân sự năm 2015 quy địnhBồi thường thiệt hại do nhiều người cùng gây ra như sau:

“Trường hợp nhiều người cùng gây thiệt hại thì những người đó phải liên đới bồi thường cho người bị thiệt hại. Trách nhiệm bồi thường của từng người cùng gây thiệt hại được xác định tương ứng với mức độ lỗi của mỗi người; nếu không xác định được mức độ lỗi thì họ phải bồi thường thiệt hại theo phần bằng nhau.”

Như vậy, nếu N và nhóm bạn của mình có lỗi trong việc làm tấm lưới quây cá nhà bà T bị hở và một số cá của bà T bơi ra ngoài thì những người này đều có trách nhiệm bồi thường thiệt hạicho bà T tương ứng với mức độ lỗi của từng người. Trường hợp không xác định được mức độ lỗi của mỗi người thì từng người phải bồi thường thiệt hại theo phần bằng nhau.

5. Hậu quả của sự liên đới

a. Quan hệ giữa chủ nợ với những người cùng mắc nợ.

- Chủ nợ có quyền đối một người nào đó trong số người mắc nợ liên đới phải trả toàn bộ món nợ. Nói chung, họ chọn người nào có khả năng thanh toán nhất..

Nếu người đầu tiên không thanh toán được hoàn toàn thì họ có quyền yêu cầu một trong những người khác thanh toán.
Vì chỉ là một món nợ cho nên một người đã thanh toán thì những người khác không phải thanh toán nữa.
- Mỗi người mắc nợ có quyền khước từ tranh luận tại tòa về tính chấtt, đối tượng, lý do của món nợ về chứng thư khi vay nợ.
Chẳng hạn như mỗi người có quyền cho rằng hợp đồng là vô hiệu vì đối tượng của nó trái pháp luật.
- Ngoài ra, mỗi người đều có thể khước từ tranh luận vì lý do riêng cùa bản thân mình chứ không phải vì bản thân của ngưòi khác cùng nợ. Ví dụ: khi lập ước người đó còn chưa thành niên cho nên họ có thể yêu cầu hủy hợp đồng vì vô năng. Những người khác cùng nợ không có quyền viện lý do này và phải chịu trách nhiệm về toàn bộ món nợ.
- Cuối cùng, mỗi người được coi là người thay mặt cho những người khác. Nguyên tắc này có nhiều hậu quả, đặc biệt là:
+ Thời hiệu gián đoạn đối với một người, cũng gián đoạn đối với cả những người khác;
+ Nhắc trả nợ đối với một người cũng là nhắc đối với những người khác. Những người này phải trả lãi vì trả nợ chậm.
+ Nếu vật bị mất do lỗi của một người thì những người khác phải chịu trách nhiệm với chủ nợ.
+ Hiệu lực pháp luật của bản án đối với một người cũng là đối với tất cả những người khác, mặc dù những người này không tham gia vào vụ kiện.
b. Quan hệ giữa những người cùng vay nợ.
- Khi một người đã trả món nợ thì họ có quyền thay thế cho người chủ nợ kiện lại những người cùng vay nợ.
Tuy nhiên, họ không được đòi một trong những người đó trả toàn bộ món nợ mà chỉ được đòi mỗi người trả phần của mình, sau khi đã trừ phần của cá nhân người đã trả cho chủ nợ. Nếu có một người không trả được nợ thì phần này sẽ chia theo tỷ lệ tương ứng với phần của mỗi ngưòi mắc nợ;
Phần đó là bao nhiêu? Nếu không có sự thỏa thuận trước thì món nợ sẽ được chia đều cho những người vay nợ.
Ví dụ: bốn người lập ước liên đới về một nghĩa vụ trả 90 nghìn phrăng.
Chủ nợ kiện một người và người này đã trả toàn bộ món nợ. Trong số ba người khác thì có một người không có khả năng trả nợ. Người đã trả toàn bộ món nợ sẽ đòi hai người kia trả mỗi người 30 nghìn phrăng.

Mọi vướng mắc về các vấn đề pháp lý liên quan đến bài viết Hãy gọi ngay: 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật  trực tuyến qua tổng đài.

Công Ty Luật Minh Khuê xin cảm ơn!!