1. Hệ thống tiền tệ quốc tế là gì?
Hệ thống tiền tệ quốc tế (The International Monetary System- ISM) là một hệ thống các tập quán, quy tắc, thủ tục và các tổ chức điểu hành các quan hệ tài chính giữa các quốc gia. Hệ thống Bretton Woods (BWS) là hệ thống tiền tệ quốc tế hình thành sau Chiến tranh thế giới thứ hai được khởi thảo vào đầu năm 1941 giữa Mỹ và Anh quốc và được phê chuẩn tại Hội nghị tiền tệ quốc tế bao gồm 44 nưốc diễn ra ỏ Bretton Woods, New Hampshire.
2. Nội dung chính của BWS là gì?
- Hình thành hai tổ chức quốc tế mới là Quỹ tiền tệ quốc tế (international Monetary Fund- IMF) và Ngân hàng tái thiết và phát triển quốc tế thường được gọi là Ngân hàng thế giới (World Bank-WB). Nhiệm vụ của IMF là theo dõi và giám sát BWS còn nhiệm vụ ban đầu của WB là trợ giúp công cuộc tái thiết những nền kinh tế châu Âu bị chiến tranh tàn phá. Trong thực tế WB gồm có hai tổ chức là Ngân hàng tái thiết và phát triển quốc tế (International Bank for Recontructìon and Development- IBRD) và Hiệp hội phát triển quốc tế (International Development Association -IDA). Hiệp hội có vai trò là huy động vốn từ các nước giàu để cho vay lại các -nưốc nghèo kém phát triển.
- Hình thành hệ thông chế độ tỷ giá cố định nhưng có thể điều chỉnh: Theo thoả ước về IMF, mỗi đồng tiền quốc gia được ấn định một tỷ giá trung tâm với đồng USD và được phép dao động với biên độ +1%. Tỷ giá đồng USD tự nó được cố định với giá vàng là $35/ounce. Việc cố định giá đồng USD vào giá vàng là để cho BWS có được sự tin cậy tuyệt đối, Chính phủ Mỹ cam kết duy trì chuyển đổi USD ra vàng không hạn chế tại mức giá cố định nói trên.
Mỗi quốc gia được yêu cầu duy trì tỷ giá trung tâm của đồng bản tệ với USD nhưng trong những trường hợp cán cân thanh toán quốc tế bị mất cân đối cơ bản thì có thể tiến hành phá giá hay nâng giá đồng tiền.Trong trường hợp tỷ giá thay đổi nhỏ hơn 10% thì IMF không có ý kiến can thiệp nhưng nếu thay đổi ở mức độ cao hơn thì phải có sự chấp thuận của IMF. Khả năng thay đổi tỷ giá trung tâm là giải pháp cuối cùng nhằm giúp cân bằng cán cân thanh toán (Balance Payment-BP) và đây được xem như một trong những đặc điểm cơ bản của BWS.
- IMF và hạn mức tín dụng thường xuyên (Credit Facilities). Mục tiêu chính của IMF là giám sát và thúc đẩy hợp tác quốc tế trong lĩnh vực tiền tệ và thúc đẩy tăng trưởng thương mại thế giới. Trong việc thúc đẩy thương mại, nhiệm vụ cơ bản của IMF là đảm bảo cho hệ thống chế độ tỷ giá cố định hoạt động một cách trơn tru và hiệu quả. Nói một cách khác, nó làm giảm tối thiểu nhu cầu phá giá và nâng giá đồng tiền của các quốc gia thành viên bằng cách cung cấp cho mỗi quốc gia thành viên một hạn mức tín dụng thường xuyên để tài trợ cho thâm hụt tạm thời của BP.
Mỗi một thành viên của IMF được phân bổ một hạn mức tín dụng, độ lớn của hạn mức này tỷ lệ với tầm quan trọng của nền kinh tế và được phản ánh bằng tỷ trọng đóng góp của mỗi quốc gia vào IMF. Cơ cấu đóng góp vào IMF của mỗi quốc gia như sau: 1/4 là bằng tài sản dự trữ (chủ yếu là bằng vàng), 3/4 còn lại bằng đồng bản tệ. Như vậy, IMF luôn có một khoản tiền trong tay cho vay những nước phải đối mặt với khó khăn về BP. Mỗi quốc gia có khó khăn về BP được quyền tự động rút lần đầu bằng 25% hạn mức tín dụng (gọi là khoản rút vốn bằng vàng), sau đó chỉ những quốc gia chấp nhận chính sách kinh tế khắc khổ do IMF đưa ra sau mỗi lần rút vốn sẽ được quyền rút vốn bốn lần tiếp theo mỗi lần 25% của hạn mức tín dụng (gọi là các khoản rút vốn tín dụng). IMF bắt đầu hoạt động cho vay từ tháng 3 năm 1947 với tổng nguồn vốn ban đầu là 8 tỷ USD.
3. Tạo quyền rút vốn đặc biệt (SDR)
Mặc dù trong những năm thập kỷ 60 của thế kỷ XX hệ thống tiền tệ quốc tế chưa chịu một áp lực thực sự căng thẳng. Tuy nhiên, thực tế cho thấy dự trữ quốc tế tăng không kịp với tốc độ tăng trưởng của thương mại quốc tế làm nổi lên mối lo ngại rằng, tăng trưởng thương mại quốc tế và tăng trưởng kinh tế thế giới có nguy cơ bị kìm hãm. Hơn thế nữa cơ chế tạo dự trữ theo BWS là quá phụ thuộc vào mức độ thâm hụt cán cân thanh toán của Mỹ. Qua phân tích tình hình các nước thành viên của IMF đã nhóm họp với nhau để thảo luận tìm ra giải pháp nhằm tăng bổ sung nguồn dự trữ quốc tế cho các nước thành viên.
Kết quả của những cuộc thảo luận thận trọng dẫn đến bản "Sửa đổi lần thứ nhất các điều khoản của IMF” năm 1967. Nội dung của lần sửa đổi này là: trao cho IMF thiết lập tài khoản rút vốn đặc biệt để bổ sung vào hệ thống hạn mức tín dụng của IMF. Theo kế hoạch, tài sản dự trữ mới được tạo ra bỏi IMF có tên gọi là "Quyền rút vốn đặc biệt” (Special Drawing Right-SDR). Không giống như các hạn mức tín dụng là phải có tiền ký quỹ làm vật bảo đảm, giá trị của SDR như là tài sản dự trữ được hình thành trên cơ sở được các nước thành viên chấp nhận là phương tiện thanh toán giữa các ngân hàng TW của họ với IMF. Theo kế hoạch mỗi thành viên của IMF được phân bổ một số lượng SDR nhất định và tỷ lệ thuận với hạn mức tín dụng tại IMF. Giá trị ban đầu của SDR được xác định bằng 1/35ounce vàng (tương đương với 1 USD), việc định giá này phản ánh rõ chế độ bản vị vàng trong thời kỳ này. Trong hạn mức phân bổ các quốc gia có thể rút SDR vào bất kỳ lúc nào khi cán cân thanh toán gặp khó khăn hoặc có nhu cầu bổ sung vào nguồn dự trữ của mình.
Thực chất thì BWS với đặc trưng là chế độ bản vị vàng và hệ thống chế độ tỷ giá cố định đã lỗi thời khi vào ngày 15-8-1971, Tổng thôhg Mỹ Nixon chính thức công bố rằng “đồng USD không tiếp tục được chuyển ra vàng nữa". Sau đó, tháng 6-1972, nước Anh thả nổi đồng pound, tháng 1- 1973, Thụy Sĩ thả nổi đồng frăng, tiếp đó tháng 2-1973 là nước Nhật thả nổi đồng yên và vào ngày 19-3-1973, các đồng tiền châu Âu đã liên kết cùng thả nổi với đồng USD. Việc áp dụng chê độ tỷ giá thả nổi có nghĩa là không có bất cứ một thỏa thuận chung nào được áp dụng và cũng không có thỏa thuận nào về các Quy tắc áp dụng đối với chính sách tỷ giá trong tương lai.
Vào tháng 11-1975, các nước công nghiệp đã nhóm họp tại Raỉnbouilet để thỏa thuận sửa đổi các điều khoản của IMF nhằm hợp pháp hoá hoạt động cho chế độ tỷ giá thả nổi. Nội dung của bản "Sửa đổi lần thứ hai các điều khoản của IMF" được soạn thảo tại cuộc họp hàng năm của IMF tại Kingston, Jamaica tháng 1-1976. Tại Kingston, các nước thành viên đã chính thức công bố hợp pháp hoá hoạt động cho chế độ tỷ giá thả nổi. Ngoài ra, hội nghị còn đề ra mục tiêu tăng cường vị thế của SDR trong dự trữ quốc tế và công bố chính thức rằng SDR trở thành tài sản dự trữ quốc tế chính. Đến tháng 7-1976, giá trị của SDR được đổi từ 1 USD sang phương pháp xác định theo rổ tiền tệ của 16 đồng tiền. Đến tháng 1-1981 SDR được xác định lại bằng rổ tiền tệ của năm đồng tiền chính là đôla Mỹ, mác Đức, yên Nhật, frăng Pháp và pound của Anh quốc.
Sửa đổi lần thứ hai có hiệu lực vào tháng 4-1978, chính thức cho phép mỗi thành viên quyền quyết định rộng rãi trong việc lựa chọn chế độ tỷ giá của mình và thông báo cho IMF. Mỗi thành viên được tự do lựa chọn chế độ tỷ giá theo ý muốn như: tỷ giá cố định với SDR hoặc cố định với bất cứ đồng tiền nào khác; tỷ giá thả nổi tập thể; hay bất cứ chế độ tỷ giá nào mà quốc gia chọn. Chỉ có một điều không được làm là không được gắn cố định đồng tiền của mình với vàng. Sửa đổi lần này cũng định nghĩa vai trò của IMF là người trông nom hệ thống tiền tệ quốc tế nhằm đảm bảo cho nó hoạt động có hiệu quả. Như vậy, với sửa đổi lần thứ hai này là sự thừa nhận chính thức điểm châấm hết cho hệ thông Bretton Woods.
Tóm lại, kể từ sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai, hệ thống tiền tệ quốc tế đã trải qua thời kỳ hệ thống Bretton Woods và ngày nay là một hệ thống đa dạng và phức tạp. Trong một chừng mực nào đó, sự vận động của hệ thống tiền tệ quốc tế phản ánh sự phát triển của nền kinh tế thế giới từ chỗ một thế giới với vị thế độc tôn của nưóc Mỹ đến một thế giới mà quyền lực kinh tế bị chia sẻ cho nhiều nước. Trong lĩnh vực thương mại hàng hải quyền lực kinh tế phân tán càng cao sẽ làm cho mức độ phụ thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh tế các nước càng lớn, san lấp một phần sự chênh lệch phi kinh tế về vị thế thương mại, cân bằng dần mối quan hệ giữa các bên trong giao dịch.
4. Nghị định thư SDR
Những cuộc khủng hoảng kinh tế và ảnh hưởng của tình trạng lạm phát toàn cầu đã dẫn đến việc những giối hạn trách nhiệm của tất cả các Công ước về vận tải nói riêng và vận tải hàng hải nói chung đã bị xói mòn nghiêm trọng. Do đó, việc bảo vệ quyền lợi cho chủ hàng của các Công ước này bị giảm đi rất nhiều. Mặt khác, dưới góc nhìn của tài chính quốc tế thì sự lỗi thời của Hệ thốhg Bretton Woods cùng với việc đoạn tuyệt với chế độ bản vị vàng của đồng tiền của các quốc gia đã làm thay đổi cơ bản các chuẩn mực kinh tế. Hoàn cảnh này đặt ra sự cần thiết phải sửa đổi lại giới hạn trách nhiệm cho phù hợp.
Kết quả là một hội nghị ngoại giao đã được tổ chức tại Brussels để thảo luận về vấn đề này, hội nghị thu hút sự tham gia của 37 quốc gia. Tại đây, một Nghị định thư mới đã được bàn bạc thảo luận rất kỹ càng và ra đòi Nghị định thư 1979 sửa đổi Nghị định thư Visby (thường được gọi tắt là Nghị định thư SDR). Nghị định thư này được 07 quốc gia ký tại Brussels và nó có hiệu lực vào tháng 2-1984 với sự tham gia của 11 quốc gia thành viên, trong đó không có một nước nào thuộc loại đang phát triển.
5. Nội dung cơ bản của Nghị định thư SDR
Điều 2:
"(1) Điều IV, mục 5 (a) của Công ước được thay đổi như sau:
(a) Trừ khi loại và trị giá hàng hóa đã được người gửi hàng khai trước khi chất lên tàu và có ghi trong vận tải đơn, người chuyên chở hay tàu trong mọi trường hợp không phải chịu trách nhiệm về mọi tổn thất hay thiệt hại gây cho hàng hóa hay liên quan đến hàng hóa quá số tiền tương đương với 666,67 đơn vị tính toán cho một kiện hay đơn vị, hoặc 2 đơn vị tính toán với mỗi kg trọng lượng cả bì của số hàng hóa bị tổn thất, hại tổn hại tùy theo trị giá nào cao hơn.
(2) Điều IV, mục 5 (d) của Công ước được thay đổi như sau:
(d) Đơn vị tính toán nói trong Điều này là Special Drawing Right (quyền rút vốn đặc biệt) do quỹ tiền tệ quốc tế xác định. Những số tiền nói ở tiểu mục (a) của đoạn này được quy đổi ra tiền quốc gia trên cơ sở giá trị của đồng tiền này vào ngày do luật của Tòa án thụ lý vụ việc quyết định.
Giá trị đồng tiền của một quốc gia thành viên quỹ tiền tệ quốc tế được tính toán so với SDR theo cách thức tính giá trị của Quỹ tiền tệ quốc tế có hiệu lục vào ngày điều hành, chuyển dịch thứ tiền đó. Giá trị đồng tiền của một quốc gia không là thành viên quỹ tiền tệ quốc tế so vói SDR được tính theo cách của quốc gia đó quyết định.
Tuy nhiên, một quốc gia không phải là thành viên Quỹ tiền tệ quốc tế và luật pháp quốc gia đó không cho phép áp dụng những quy định của các đoạn câu trên có thể vào lúc phê chuẩn hay tham gia Nghị định thư 1979 hay vào bất cứ lúc nào sau đó tuyên bố là các giới hạn trách nhiệm quy định trong Công ước này áp dụng trên lãnh thổ của mình được ấn định như sau:
(i) Đối với số tiền 666,67 đơn vị tính toán nói ở tiểu mục (a) của mục 5 Điều này là 10.000 đơn vị tiền tệ.
(ii)Đối với số tiền hai đon vị tính toán nói ở tiểu mục (a) của mục 5 Điều này là 30 đon vị tiền tệ.
Đơn vị tiền tệ nói trong câu trên tương ứng với 65 miligam vàng 900/1000 nguyên chất. Việc quy đổi các số tiền nói trong câu này ra tiền quốc gia được thực hiện theo pháp luật của quốc gia sở tại.
Việc tính toán quy đổi nói trong các câu trên được thực hiện theo phưong cách nào đó để thể hiện trong đồng tiền quốc gia, với một chừng mực có thể, một giá trị thực tế cho các số tiền nói ở tiểu mục (a) mục 5 của Điều này, cũng như đã thể hiện trong các đơn vị tính toán".
Khi người ta đưa ra giới hạn bằng đồng bảng vàng Anh quốc hay đồng frăng vàng Pháp không phải là vì đó là hai quốc gia đóng vai trò sáng lập ra Công ước mà là vì vào những thời điểm này đó là những đồng tiền mạnh đại biểu cho một nền kinh tế ổn định ít bị biến động. Tuy nhiên, thực tế đã cho thấy lạm phát không loại trừ với bất kỳ quốc gia nào, giá trị của những đồng tiền này cũng bị lung lay dữ dội. Mặt khác, việc quy định như vậy cũng có sự bất tiện khi một giao dịch thương mại hàng hải được thực hiện giữa hai chủ thể ở hai quốc gia bất kỳ, thì ngoài việc phải phụ thuộc vào giá trị đồng tiền của hai quốc gia đó, giao dịch còn phải phụ thuộc vào giá trị đồng tiền của một quốc gia khác nữa. Điều này nhiều khi đã dẫn đến những điều bất tiện, đặc biệt là khi có những tranh chấp kéo dài và giữa thời gian đó các tỷ giá giữa các đồng tiền nói trên biến đổi thất thường. Vì vậy, nội dung chính của Nghị định thư 1979 là thay thế giới hạn trách nhiệm 10.000 Frăng vàng Pháp cho mỗi kiện hàng và 30 frăng vàng Pháp cho mỗi kg hàng hóa bị hư hại bằng giới hạn mới là 666,67 SDR và 2 SDR cho mỗi kg hàng hóa bị hư hại.
Với vị thế và uy tín ngày càng tăng lên của SDR trong nền tài chính quốc tế người ta hy vọng đưa ra một giới hạn trách nhiệm tương đối ổn định về giá trị làm cơ sở cho việc bảo vệ quyền lợi của các bên liên quan. Tuy nhiên, Nghị định thư SDR không thu hút được nhiều quốc gia tham gia bởi vì:
- Thứ nhất, không phải quốc gia nào cũng là thành viên của IMF.
- Thứ hai, SDR chỉ là một giá trị quy ước mà không phải là một đồng tiền cụ thể, nó có thể bị thay đổi, quy định lại hoặc thậm chí hủy bỏ phụ thuộc vào cơ chế điều hành của IMF tùy theo từng thời kỳ nhất định do đó nó chưa tạo được lòng tin đối với nhiều quốc gia đặc biệt là các nước đang phát triển.
Tuy nhiên, đến nay Nghị định thư SDR vẫn có hiệu lực tại một số quốc gia và nó vẫn là một phần của luật pháp quốc tế điều chỉnh mối quan hệ trách nhiệm giữa chủ hàng và chủ tàu đối với các thiệt hại của hàng hóa.