CHƯƠNG VI
ĐIỀU ƯỚC VÀ HIỆP ƯỚC QUỐC TẾ
Điều 52
Tổng thống đàm phán và phê chuẩn các điều ước quốc tế.
Tổng thống được thông tin đầy đủ về việc đàm phán, ký kết các thỏa thuận quốc tế không cần phải phê chuẩn.
Điều 53
Việc phê chuẩn hoặc phê duyệt phải được thực hiện bằng một đạo luật đối với các điều ước hay hiệp ước quốc tế sau đây:
- Điều ước hoà bình;
- Điều ước về thương mại;
- Điều ước hay hiệp ước về tổ chức quốc tế;
- Điều ước liên quan đến tài chính của Nhà nước;
- Điều ước làm thay đổi quy định pháp luật trong nước;
- Điều ước liên quan đến nhân thân của con người;
- Điều ước về chuyển nhượng, trao đổi, sáp nhập lãnh thổ.
Các điều ước trên chỉ có hiệu lực sau khi được phê chuẩn hoặc phê duyệt.
Việc chuyển nhượng, trao đổi, sáp nhập lãnh thổ sẽ không có giá trị pháp lý nếu không có sự đồng ý của người dân trên lãnh thổ đó.
Điều 53-1
Đối với các quốc gia châu Âu cùng tham gia với Cộng hoà Pháp vào các cam kết trong lĩnh vực cư trú, bảo vệ quyền con người và các tự do cơ bản, Cộng hoà Pháp có thể ký kết với các quốc gia này các hiệp ước quy định thẩm quyền của mỗi bên trong việc xem xét các đơn xin cư trú.
Tuy nhiên, ngay cả trong trường hợp đơn xin cư trú không thuộc phạm vi thẩm quyền của mình theo quy định tại các điều ước trên, các cơ quan chức năng của Cộng hoà Pháp vẫn có quyền cho phép cư trú tị nạn đối với người nước ngoài bị truy bức do hoạt động vì tự do hoặc đề nghị được sự bảo hộ của Cộng hoà Pháp vì một lý do khác.
Điều 53-2
Cộng hoà Pháp có thể thừa nhận quyền tài phán của Toà án hình sự quốc tế theo các điều kiện quy định tại Công ước ký ngày 18 tháng 7 năm 1998.
Điều 54
Trong trường hợp, trên cơ sở có đề nghị của Tổng thống, Thủ tướng, Chủ tịch Hạ viện hoặc Chủ tịch Thượng viện hoặc của 60 Hạ nghị sỹ hoặc 60 Thượng nghị sỹ, Hội đồng Hiến pháp tuyên bố một cam kết quốc tế có điều khoản trái với Hiến pháp, thì cam kết quốc tế đó chỉ được phê chuẩn hoặc phê duyệt sau khi đã tiến hành sửa đổi Hiến pháp.
Điều 55
Điều ước hoặc hiệp ước quốc tế đã được phê chuẩn hoặc phê duyệt theo đúng quy định, thì ngay khi được công bố sẽ có giá trị pháp lý cao hơn luật trong nước, với điều kiện điều ước hoặc hiệp ước đó cũng được bên ký kết kia tôn trọng, áp dụng.
CHƯƠNG VII
HỘI ĐỒNG HIẾN PHÁP
Điều 56
Hội đồng Hiến pháp bao gồm chín thành viên có nhiệm kỳ chín năm và không được tái nhiệm. Ba năm một lần, Hội đồng Hiến pháp tiến hành thay thế 1/3 số thành viên. Ba thành viên do Tổng thống bổ nhiệm, ba thành viên do Chủ tịch Hạ viện bổ nhiệm và ba thành viên do Chủ tịch Thượng viện bổ nhiệm.
Bên cạnh chín thành viên nêu trên, các Tổng thống mãn nhiệm đương nhiên là thành viên suốt đời của Hội đồng Hiến pháp.
Chủ tịch Hội đồng Hiến pháp do Tổng thống bổ nhiệm. Trong trường hợp số phiếu của các thành viên ngang nhau, phiếu của Chủ tịch có giá trị quyết định.
Điều 57
Người đã là thành viên của Hội đồng Hiến pháp thì không được đồng thời kiêm nhiệm Bộ trưởng hoặc thành viên của Nghị viện. Các trường hợp bất khả kiêm nhiệm khác được quy định trong một đạo luật về tổ chức.
Điều 58
Hội đồng Hiến pháp đảm bảo cho cuộc bầu cử Tổng thống được tiến hành hợp lệ.
Hội đồng Hiến pháp xem xét, giải quyết các khiếu nại và công bố kết quả bầu cử.
Điều 59
Trong trường hợp có khiếu nại, Hội đồng Hiến pháp có quyền xem xét về tính hợp lệ của cuộc bầu cử Hạ viện và Thượng viện.
Điều 60
Hội đồng Hiến pháp đảm bảo cho các hoạt động trưng cầu ý kiến nhân dân được tiến hành hợp lệ và tuyên bố kết quả trưng cầu ý kiến nhân dân.
Điều 61
Các đạo luật về tổ chức, trước khi được được ban hành, và các Quy chế hoạt động của Hạ viện và Thượng viện, trước khi được áp dụng, phải trình lên Hội đồng Hiến pháp để xem xét tính hợp hiến của các văn bản đó.
Đối với các đạo luật khác, trước khi được ban hành, cũng có thể được trình lên Hội đồng Hiến pháp để xem xét tính hợp hiến khi có yêu cầu của Tổng thống, Thủ tướng, Chủ tịch Hạ viện, Chủ tịch Thượng viện hoặc 60 Hạ nghị sỹ hoặc 60 Thượng nghị sỹ.
Trong các trường hợp quy định tại hai khoản nêu trên, Hội đồng Hiến pháp phải xem xét và cho ý kiến trong thời hạn một tháng. Tuy nhiên, trong trường hợp khẩn cấp, theo yêu cầu của Chính phủ, thời hạn này có thể rút lại còn 8 ngày.
Cũng trong những trường hợp trên, việc chuyển văn bản sang cho Hội đồng Hiến pháp xem xét tính hợp hiến sẽ tạm đình chỉ thời hạn ban hành văn bản.
Điều 62
Quy định bị tuyên bố không hợp hiến thì không được ban hành và áp dụng.
Các quyết định của Hội đồng Hiến pháp không bị khiếu nại, kháng cáo, kháng nghị. Các quyết định này có hiệu lực áp dụng bắt buộc đối với tất cả các cơ quan quyền lực Nhà nước và tất cả các cơ quan hành chính và tư pháp.
Điều 63
Một đạo luật về tổ chức sẽ quy định về tổ chức và hoạt động của Hội đồng Hiến pháp, thủ tục và thời hạn giải quyết trước Hội đồng Hiến pháp.
CHƯƠNG VIII
CƠ QUAN TƯ PHÁP
Điều 64
Tổng thống là người đảm bảo cho sự độc lập của cơ quan tư pháp.
Tổng thống có sự hỗ trợ của Hội đồng thẩm phán tối cao.
Một đạo luật về tổ chức sẽ quy định về quy chế thẩm phán (46).
Các thẩm phán xét xử không thể bị bãi nhiệm, thuyên chuyển.
Điều 65
Tổng thống là Chủ tịch Hội đồng thẩm phán tối cao. Bộ trưởng Tư pháp là Phó chủ tịch đương nhiên của Hội đồng. Bộ trưởng Tư pháp có thể thay Tổng thống giữ quyền chủ tịch Hội đồng.
Hội đồng thẩm phán tối cao bao gồm hai Uỷ ban, một Uỷ ban phụ trách các thẩm phán xét xử và một Uỷ ban phụ trách các thẩm phán công tố.
Uỷ ban phụ trách thẩm phán xét xử có thành phần gồm Tổng thống, Bộ trưởng Tư pháp, năm thẩm phán xét xử, một thẩm phán công tố, một thẩm phán Toà án hành chính tối cao do Toà án hành chính tối cao chỉ định, ba ủy viên không thuộc Nghị viện cũng không thuộc ngành tư pháp, do Tổng thống chỉ định một, Chủ tịch Hạ viện chỉ định một và Chủ tịch Thượng viện chỉ định một.
Ủy ban phụ trách thẩm phán công tố có thành phần gồm Tổng thống, Bộ trưởng Tư pháp, năm thẩm phán công tố, một thẩm phán xét xử, thẩm phán Toà án hành chính tối cao và ba uỷ viên nêu tại khoản trên.
Ủy ban phụ trách thẩm phán xét xử đề cử người để được bổ nhiệm làm thẩm phán Tòa phá án (47), Chánh án Tòa phúc thẩm và Chánh án Tòa sơ thẩm thẩm quyền rộng. Đối với các thẩm phán xét xử khác, việc bổ nhiệm được thực hiện trên cơ sở có ý kiến thuận của Ủy ban.
Ủy ban thực hiện thẩm quyền của Hội đồng kỷ luật đối với các thẩm phán xét xử. Với tư cách là Hội đồng kỷ luật, Ủy ban có chủ tịch là Chánh án Tòa phá án.
Ủy ban phụ trách thẩm phán công tố có quyền cho ý kiến đối với việc bổ nhiệm các thẩm phán công tố, trừ trường hợp bổ nhiệm vào các vị trí công tác được đưa ra thảo luận và quyết định tại Hội đồng Bộ trưởng.
Ủy ban cho ý kiến về các biện pháp kỷ luật đối với thẩm phán công tố. Khi thực hiện chức năng này, Ủy ban có chủ tịch là Viện trưởng Viện công tố bên cạnh Tòa phá án.
Một đạo luật về tổ chức sẽ quy định các điều kiện áp dụng điều khoản này.
(46). Từ “Magistrat“ trong tiếng Pháp tạm dịch sang tiếng Việt là “Thẩm phán“, nhưng có nội hàm rộng hơn từ “Thẩm phán“ trong tiếng Việt. “Magistrat“ bao gồm những người tốt nghiệp Trường thẩm phán quốc gia, được Tổng thống bổ nhiệm để trở thành công tố viên (“Magistrat du parquet“, tạm dịch là “Thẩm phán công tố”) hoặc thẩm phán xét xử.
(47)Tòa phá án : Toà án tối cao thuộc ngạch xét xử tư pháp của Cộng hoà Pháp.
Điều 66
Một người không thể bị bắt giữ khi không có căn cứ pháp luật.
Cơ quan tư pháp, với tư cách là người bảo vệ cho tự do cá nhân, đảm bảo sự tuân thủ nguyên tắc này theo các điều kiện do pháp luật quy định.
CHƯƠNG IX
TÒA ÁN CÔNG LÝ TỐI CAO
Điều 67
Tại nước Cộng hoà Pháp có thành lập một Tòa án công lý tối cao.
Thành viên của Tòa án công lý tối cao bao gồm các Hạ nghị sỹ và các Thượng nghị sỹ có số lượng ngang nhau do Hạ viện và Thượng viện bầu ra. Việc bầu thành viên Toà án công lý tối cao được tiến hành mỗi khi bầu mới một phần hoặc toàn bộ thành viên của Hạ viện và Thượng viện. Các thành viên của Toà bầu ra Chánh án trong số các thành viên đó.
Một đạo luật về tổ chức sẽ quy định về thành phần của Tòa án công lý tối cao, quy chế hoạt động và thủ tục tố tụng trước Tòa án công lý tối cao.
Điều 68
Tổng thống chỉ chịu trách nhiệm về các hành vi thực hiện trong khi thực thi chức năng, nhiệm vụ của mình nếu các hành vi đó cấu thành tội đại phản quốc. Tổng thống chỉ bị đưa ra xét xử theo quyết định thống nhất của cả hai Viện trong Nghị viện. Quyết định này phải được biểu quyết công khai và phải đạt được đa số tuyệt đối tổng số phiếu của các thành viên của Nghị viện; Tổng thống do Toà án công lý tối cao xét xử.
CHƯƠNG X
TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ CỦA CÁC THÀNH VIÊN CHÍNH PHỦ
Điều 68-1
Thành viên Chính phủ chịu trách nhiệm hình sự về các hành vi thực hiện trong khi thực thi chức năng, nhiệm vụ của mình trong trường hợp phạm tội nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng theo quy định pháp luật vào thời điểm thực hiện hành vi đó.
Thành viên Chính phủ do Toà án công lý Cộng hòa xét xử.
Tòa án công lý Cộng hoà phải căn cứ vào định nghĩa tội phạm nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng cũng như các khung hình phạt luật định để xét xử.
Điều 68-2
Tòa án công lý Cộng hoà bao gồm 15 thẩm phán, trong đó 12 người là thành viên của Nghị viện, một nửa do Hạ viện bầu trong số các Hạ nghị sỹ, một nửa do Thượng viện bầu trong số các Thượng nghị sỹ và 3 người là thẩm phán xét xử của Tòa phá án, một trong ba thẩm phán này sẽ làm Chánh án Tòa án công lý Cộng hoà. Việc bầu các thành viên Nghị viện làm thẩm phán Tòa án công lý Cộng hoà được tiến hành mỗi khi bầu mới một phần hay toàn bộ thành viên của hai Viện trong Nghị viện.
Người nào bị thiệt hại do hành vi phạm tội của thành viên Chính phủ gây ra trong khi thi hành công vụ có quyền gửi đơn kiện lên một Ủy ban giải quyết đơn thư khiếu nại.
Ủy ban này có quyền quyết định đình chỉ vụ việc hoặc chuyển hồ sơ sang Viện trưởng Viện công tố bên cạnh Tòa phá án để khởi tố trước Tòa án công lý Cộng hoà.
Trên cơ sở ý kiến thuận của Ủy ban giải quyết đơn thư khiếu nại, Viện trưởng Viện công tố bên cạnh Tòa phá án có quyền chủ động khởi tố trước Tòa án công lý Cộng hoà.
Một đạo luật về tổ chức sẽ hướng dẫn chi tiết thi hành các quy định tại Điều này.
Điều 68-3
Các quy định tại chương này được áp dụng đối với cả các hành vi thực hiện trước khi chương này có hiệu lực áp dụng.