1. Pháp luật điều chỉnh đầu tư trước năm 1986 ở Việt Nam

Trong thời kỳ kháng chiến, nhiệm vụ trung tâm của Nhà nước ta là bảo toàn lãnh thổ, giành độc lập hoàn toàn (theo Lời nói đầu Hiến pháp năm 1946).

Sau khi thống nhất đất nước, từ năm 1975 đến năm 1986, nền kinh tế Việt Nam vận hành theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp, được điều tiết chủ yếu bởi các kế hoạch của Nhà nước. Vì thế, giai đoạn này pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư ít được chú trọng phát triển.

 

2. Pháp luật điều chỉnh đầu tư sau năm 1986 ở Việt Nam

Năm 1986, bước ngoặt về chính sách đầu tư được thể hiện trong Nghị quyết của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng, theo đó Việt Nam bước vào thời kỳ thực hiện đường lối đổi mới.

Có Đại hội VII và Đại hội VIII của Đảng tiếp tục khẳng định: “phát triển nền kinh tế nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa” (theo Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996).

Xuất phát từ chính sách huy động đa dạng các nguồn lực để phát triển, Nhà nước đã ban hành Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1987 để thu hút nguồn vấn, kỹ thuật và công nghệ từ nước ngoài. Trong quá trình thực hiện, do yêu cầu của thực tiễn, Luật này Hên tục được xem xét, sửa đổi bổ sung vào các năm 1990, 1992, 2000 và được thay thế bỏi các luật mới là Luật Đầu tư năm 2005 và Luật Doanh nghiệp năm 2005, cùng có hiệu lực từ ngày 01/7/2006. Để hoàn thiện hơn nữa thể chế, môi trường pháp lý trong rntóc cho hoạt động đầu tư trong nước và nưóc ngoài phát triển, Quốc hội Việt Nam đã thông qua Luật Đầu tư nám 2014, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2015.

 

3. Đặc điểm chính sách đầu tư nước ngoài ở Việt Nam sau khi ban hành Luật đầu tư nước ngoài

>> Xem thêm:  Thủ tục đăng ký kết hôn theo quy định mới năm 2022 ? Điều kiện kết hôn là gì ?

Từ khi áp dụng chính sách đổi mới, mở cửa thu hút đầu tư nước ngoài, Việt Nam bắt đầu tích cực có những cam kết quốc tế về đầu tư được thể hiện trong các điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết, như: BIT, hiệp định đầu tư khu vực, hiệp định thương mại, hiệp định thương mại tự do song phương, đa phương có quy định về đầu tư.

Cho đến nay, BIT là hình thức điều ước quốc tế về đầu tư phổ biến nhất mà Việt Nam tham gia kể từ khi Việt Nam ký kết BIT đầu tiên với Italia ngày 18/5/1990 (có hiệu lực ngày 06/5/1994). Cho tới nay, Việt Nam đã ký 66 BIT với các quốc gia trên thế giới.

 

4. Những văn bản về đầu tư khu vực Việt Nam ký kết

Ở phạm vi khu vực, Việt Nam đã ký BIT với nhiều nước ASEAN (08/10 quốc gia) từ khi trở thành thành viên của ASEAN năm 1995, cùng với đó Việt Nam còn tham gia các hiệp định về đầu tư chung của ASEAN như: Hiệp định về khuyến khích và bảo hộ đầu tư giữa các nưốc ASEAN năm 1987 (Hiệp định IGA), Nghị định thư sửa đổi Hiệp định IGA năm 1996, Hiệp định khung ASEAN về khu vực đầu tư năm 1998 (AIA) và Nghị định thư bổ sung, sửa đổi Hiệp đỊnh AIA năm 2001.

Hiện nay, Việt Nam cũng là thành viên của Hiệp định về đầu tư mới của ASEAN thay thế các điều ước nói trên là ACIA. Tuy nhiên, Hiệp định này đang được các quốc gia ASEAN tiếp tục sửa đổi để đưa vào những tiêu chuẩn bảo hộ đầu tư hiện đại hơn.

Bên cạnh các hiệp định chuyên về đầu tư, Việt Nam cũng ký kết hiệp định thương mại và một số FTA, EPA có quy định khuyến khích và bảo hộ đầu tư. Ví dụ: Hiệp định về quan hệ thương mại song phương giữa Việt Nam và Hoa Kỳ năm 2000 dành Chương IV quy định về quan hệ đầu tư, Chương 11 của AANZFTA, Chương 9 FTA giữa Việt Nam và Hàn Quốc năm 2015 có nội dung toàn diện về đầu tư như ACIA hay một BIT điển hình. Các hiệp định FTA, EPA mà Việt Nam đã ký, phê chuẩn (ví dụ: CPTPP) cũng có hiệp định hoặc chương về đầu tư quy đỉnh chi tiết như vậy.

 

5. Hiệp định thương mại, hiệp định đối tác kinh tế có quy định về đầu tư và hiệp định đầu tư khu vực

- Năm 2000, Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ;

>> Xem thêm:  Thủ tục đăng ký kết hôn với người nước ngoài năm 2022 ?

- Năm 2008, Hiệp định đôì tác toàn diện ASEAN - Nhật Bản;

- Năm 2009, Hiệp định đầu tư toàn diện trong ASEAN và ; Hiệp định về thành lập Khu mậu dịch tự do ASEAN - Ôxtrâylia và Niu Dilân; Hiệp định đầu tư trong khuôn khổ Hiệp định khung giữa ASEAN và Hàn Quốc về hợp tác kinh tế toàn diện.

- Năm 2014, Hiệp định về đầu tư trong khuôn khổ Hiệp định khung giữa ASEAN và Ân Độ về hợp tác kinh tế toàn diện.

Cụ thể dưới đây chúng ta sẽ tìm hiểu các hiệp định thương mại, thương mại tự do, hiệp định đối tác kinh tế có quy định về đầu tư và hiệp định đầu tư khu vực mà Việt Nam đã ký:

- Năm 2015, Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - Hàn Quốc; Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - Liên minh kinh tế Á – Âu.

- Năm 2016, Hiệp định đối tác toàn diện xuyên Thái Bình Dương (chưa có hiệu lực do Hoa Kỳ rút khỏi Hiệp định này);

- Năm 2017, Hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (Việt Nam đã phê chuẩn tháng 11/2018);

- Năm 2018, Hiệp định đầu tư ASEAN - Hồng Kông.

Thực tiễn này cho thấy Việt Nam cam kết bảo hộ cùng một số đối tượng nhà đầu tư hay khoản đầu tư trong vài hiệp định khác nhau.

Ví dụ: Việt Nam cam kết bảo hộ nhà đầu tư của Thái Lan trong cả BIT giữa Việt Nam và Thái Lan và ACIA. Khi có tranh chấp xảy ra, nhà đầu tư có thể lựa chọn viện dẫn hiệp định đang có hiệu lực mà họ cho rằng quy định sự bảo hộ ưu đãi nhất. Ngay cả khi nhà đầu tư không có sự lựa chọn trực tiếp như vậy thì họ cũng có thể được hưởng các quy định có lợi khác từ những hiệp định mà quốc gia họ mang quốc tịch không phải là thành viên nếu viện dẫn điều khoản đối xử tối huệ quốc. Nghĩa vụ MFN yêu cầu Việt Nam dành cho nhà đầu tư của một bên ký kết các quy định thuận lợi nhất mà có thể viện dẫn từ các hiệp định điều chỉnh khoản đầu tư và nhà đầu tư của bên thú ba. Vì thế, sự khác biệt giữa các IIA có thể bớt ý nghĩa và nhà đầu tư có cơ hội lựa chọn những nghĩa vụ bảo hộ rộng hơn nghĩa vụ trong hiệp định gốc mà họ viện dẫn.

>> Xem thêm:  Năm 2022, độ tuổi đăng ký kết hôn đối với nam là bao nhiêu ?

 

6. Nội dung các điều ước quốc tế về đầu tư mà Việt Nam là thành viên

Cho đến nay, tuy số lượng các điều ước quốc tế về đầu tư trên thế giới lên tới 3.301 hiệp định nhưng Việt Nam là thành viên khoảng 66 BIT và 13 FTA, EPA. Tuy nhiên, về cơ bản, nội dung và cấu trúc của các BIT hay hiệp định/chương về đầu tư trong FTA, EPA có một mô thức chung.

- Về cấu trúc, các hiệp định thường gồm năm phần chính: (i) Lời mở đầu, (ii) Các quy định về phạm vi áp dụng, (iii) Các quy định thực chất vê' bảo hộ và khuyến khích đầu tư, (iv) Các quy định về giải quyết tranh chấp và (v) Các điều khoản về hiệu lực, sửa đổi, bổ sung.

- Về nội dung, tương tự như thực tiễn ký kết các IIA trên thế giới, các IIA mà Việt Nam tham gia có thể chia thành hai loại: Điều ước quốc tế về đầu tư truyền thống và Điều ước quốc tế về đầu tư hiện đại, thế hệ mới.

Các điều ước quốc tế về đầu tư truyền thông thường dài khoảng 10 trang A4 ở hình thức BIT với những điều khoản vắn tắt, chung chung, nội dung khó xác định, ít quy định về ngoại lệ và bảo lưu quyền điều tiết, quyền tự do thực hiện chính sách công của nước nhận đầu tư. Việt Nam ký kết hiệp định dạng truyền thống từ những hiệp định đầu tiên như BIT với Italia năm 1990, Hiệp định về khuyến khích và bảo hộ đầu tư ASEAN năm 1987 cho đến những hiệp định mới ký gần đây như BIT với Vênêxuêla năm 2008, BIT với Marốc năm 2012.

Các điều ước quốc tế hiện đại, thế hệ mái thường dài, với nhiều đổi mới về nội dung, được ký kết gần đây, chủ yếu trong khuôn khổ xây dựng các khu vực thương mại tự do và thường ở hình thức các hiệp định hay chương về đầu tư của FTA, EPA. Nhóm điều ước quốc tế này thường được soạn thảo và ký kết giữa nhiều bên khiến cho các bên đàm phán phải so sánh, đánh giá và tìm ra những cách thức quy định phù hợp nhất. Nhìn chung, điều ước quốc tế về đầu tư hiện đại quy định chi tiết, làm rõ nghĩa của những điều khoản đã bị giải thích và áp dụng mâu thuẫn, quá rộng trong phán quyết trọng tài, bổ sung nhiều ngoại lệ, bảo lưu để bảo đảm sự tự do theo đuổi các chính sách công chính đáng của nước nhận đầu tư như sức khỏe, đời sống con người, động, thực vật, bảo vệ môi trường, đạo đức cộng đồng, trật tự công...

Ví dụ: Việt Nam đã ký kết những điều ước quốc tế về đầu tư hiện đại như: ACIA, Hiệp định về đầu tư giữa ASEAN với các đối tác ngoại khối (Trung Quốc và Hàn Quốc, Ôxtrâylia và Niu Dilân), CPTPP, EVIPA.

Các điều ước quốc tế về đầu tư của Việt Nam, truyền thống hay hiện đại - thế hệ mối đều chứa đựng những bảo hộ chính dành cho nhà đầu tư là đối xử quốc gia, đối xử tối huệ quốc, đối xử công bằng và thỏa đáng, bảo vệ an ninh đầy đủ, bồi thường khi xảy ra tước quyền sở hữu, bảo đảm tự do chuyển tiền, quy định về bồi thường thiệt hại khi có chiến tranh, xung đột vũ trang, bạo loạn.

Bên cạnh nội dung thực chất, các hiệp định đặt ra cơ chế giải quyết tranh chấp giữa các bên ký kết và giữa nhà đầu tư với nước nhận đầu tư. Một điểm đặc biệt trong nội dung của các IIA là nhà đầu tư được trao quyền khởi kiện nước nhận đầu tư tại các cơ quan tài phán quốc tế mà phổ biến là trọng tài quốc tế khi cho rằng nưốc này vi phạm các cam kết bảo hộ trong HA. Pháp luật trong nước thường chỉ cho họ lựa chọn trọng tài, tòa án trong nước và chủ thể, đối tượng bị kiện có thể bị giới hạn trong phạm vi một số quyết định, văn bản pháp luật, cơ quan nhà nước.

>> Xem thêm:  Các loại hợp đồng lao động hiện nay ? Trình tự ký kết hợp đồng lao động ?

 

Trên đây là nội dung Luật Minh Khuê sưu tầm và biên soạn. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Luật Minh Khuê (Sưu tầm và Biên soạn).