Căn cứ pháp lý:

- Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện khu vực - RCEP

1. Biện pháp tự vệ là gì?

Biện pháp tự vệ là việc tạm thời hạn chế nhập khẩu đối với một hoặc một số loại hàng hoá khi việc nhập khẩu chúng tăng nhanh gây ra hoặc đe doạ gây ra thiệt hại nghiêm trọng cho ngành sản xuất trong nước. Biện pháp tự vệ chỉ được áp dụng đối với hàng hoá, không áp dụng đối với dịch vụ, đầu tư hay sở hữu trí tuệ. Mỗi nước nhập khẩu là thành viên WTO đều có quyền áp dụng biện pháp tự vệ, nhưng khi áp dụng thì họ phải bảo đảm tuân theo các quy định của WTO (về điều kiện, thủ tục, cách thức áp dụng biện pháp tự vệ). Doanh nghiệp cần chú ý đến công cụ này để có thể yêu cầu Chính phủ sử dụng nhằm bảo vệ lợi ích của mình trước hàng hoá nhập khẩu nước ngoài khi cần thiết.

2. Vai trò của biện pháp tự vệ

Được sử dụng để “đối phó” với hành vi thương mại hoàn toàn bình thường (không có hành vi vi phạm pháp luật hay cạnh tranh không lành mạnh) nên về hình thức, việc áp dụng biện pháp tự vệ bị coi là đi ngược lại chính sách tự do hoá thương mại của WTO. Tuy vậy, đây là biện pháp được thừa nhận trong khuôn khổ WTO (với các điều kiện chặt chẽ để tránh lạm dụng).

Lý do là trong hoàn cảnh buộc phải mở cửa thị trường và tự do hoá thương mại theo các cam kết WTO, các biện pháp tự vệ là một hình thức “van an toàn” mà hầu hết các nước nhập khẩu là thành viên WTO đều mong muốn. Với chiếc van này, nước nhập khẩu có thể ngăn chặn tạm thời luồng nhập khẩu để giúp ngành sản xuất nội địa của mình tránh những đổ vỡ trong một số trường hợp đặc biệt khó khăn.

3. Khái quát về Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực (RCEP)

Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực (RCEP) là một hiệp định nhằm mở rộng và làm sâu sắc hơn sự gắn kết giữa ASEAN và Australia, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc và New Zealand. Tổng các nước tham gia RCEP chiếm khoảng 30% GDP toàn cầu và 30% dân số thế giới. Mục tiêu của Hiệp định RCEP là thiết lập một nền tảng quan hệ đối tác kinh tế hiện đại, toàn diện, chất lượng cao và cùng có lợi, tạo điều kiện thuận lợi cho việc mở rộng thương mại và đầu tư trong khu vực, đồng thời đóng góp vào sự tăng trưởng và phát triển kinh tế toàn cầu. Theo đó, Hiệp định sẽ mang lại cơ hội thị trường và việc làm cho doanh nghiệp và người dân trong khu vực. Hiệp định RCEP sẽ song hành và hỗ trợ một hệ thống thương mại đa phương cởi mở, bao hàm và dựa trên các quy tắc.

- Các đặc điểm chính của Hiệp định RCEP

Thứ nhất: Hiệp định RCEP là một hiệp định không chỉ được xây dựng cho hiện tại mà còn là một hiệp định cho tương lai. Hiệp định tổng hợp phạm vi của các Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) ASEAN+1 hiện có (các FTA của ASEAN với năm đối tác đối thoại) và cân nhắc về những thực tiễn thương mại mới nổi hoặc đang thay đổi, bao gồm thời đại của thương mại điện tử, tiềm năng của các doanh nghiệp siêu nhỏ, nhỏ và vừa, sự phát triển sâu rộng của chuỗi giá trị khu vực và sự phức tạp của cạnh tranh thị trường. Hiệp định RCEP được xây dựng và bổ sung thêm dựa trên Hiệp định WTO, trong những lĩnh vực mà các Bên đã đồng ý cập nhật hoặc vượt ra ngoài các điều khoản của Hiệp định.

Thứ hai: Hiệp định RCEP là toàn diện, cả về phạm vi và chiều sâu của các cam kết. Về phạm vi, Hiệp định RCEP có 20 Chương và bao gồm nhiều lĩnh vực trước đây chưa được đề cập trong các FTA ASEAN+1. Hiệp định RCEP có các điều khoản cụ thể liên quan đến thương mại hàng hóa, bao gồm cả quy tắc xuất xứ; thủ tục hải quan và tạo thuận lợi thương mại; các biện pháp an toàn thực phẩm và kiểm dịch động thực vật; tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật và quy trình đánh giá mức độ phù hợp; và phòng vệ thương mại. Hiệp định cũng đề cập đến thương mại dịch vụ, bao gồm các điều khoản cụ thể về dịch vụ tài chính; dịch vụ viễn thông; các dịch vụ chuyên nghiệp, và sự di chuyển tạm thời của các thể nhân. Ngoài ra, Hiệp định còn có các chương về đầu tư; sở hữu trí tuệ; thương mại điện tử; cạnh tranh; doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME); hợp tác kinh tế và kỹ thuật; mua sắm công; và các lĩnh vực thể chế pháp lý, bao gồm giải quyết tranh chấp. Về tiếp cận thị trường, Hiệp định RCEP đạt được tự do hóa trong thương mại hàng hóa và dịch vụ và mở rộng phạm vi cam kết về đầu tư.

Thứ ba: Hiệp định RCEP có các điều khoản vượt ra ngoài khuôn khổ các FTA ASEAN+1 hiện có, đồng thời ghi nhận mức độ phát triển và nhu cầu kinh tế riêng lẻ và đa dạng của các Bên tham gia RCEP. Hiệp định RCEP giải quyết các vấn đề cần thiết để hỗ trợ các Bên tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu và khu vực, đồng thời bổ sung các cam kết tiếp cận thị trường với những quy tắc cho phép mở cửa thương mại và đầu tư, nhằm tạo thuận lợi cho kinh doanh đồng thời với duy trì các mục tiêu chính sách công hợp pháp. Hiệp định RCEP cố gắng thúc đẩy cạnh tranh bằng cách thúc đẩy tăng năng suất bền vững, có trách nhiệm và mang tính xây dựng. Ngoài ra, Hiệp định RCEP còn có giá trị khác là tập hợp một bộ quy tắc giúp tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển và mở rộng chuỗi cung ứng khu vực giữa các Bên.

Thứ tư: Hiệp định RCEP bao gồm các quốc gia có trình độ phát triển đa dạng. Do đó, các Bên tham gia RCEP đã công nhận rằng sự thành công của Hiệp định sẽ được quyết định bởi khả năng mang lại lợi ích lẫn nhau của các bên. Hiệp định RCEP được thiết kế để đạt được mục tiêu này theo một số cách, bao gồm thông qua các hình thức linh hoạt phù hợp và các quy định về đối xử đặc biệt và khác biệt, cụ thể là đối với Campuchia, Lào, Myanmar và Việt Nam, nếu thích hợp, và linh hoạt thêm cho các Bên kém phát triển. Ngoài ra, Hiệp định RCEP còn bao gồm hợp tác kỹ thuật và nâng cao năng lực để hỗ trợ việc thực hiện các cam kết, giúp các Bên tối đa hóa lợi ích có được từ Hiệp định này. Hiệp định RCEP cũng bao gồm các điều khoản đảm bảo rằng các nền kinh tế có trình độ phát triển khác nhau, các doanh nghiệp có quy mô khác nhau và đối tượng khác rộng hơn đều có thể hưởng lợi ích từ Hiệp định.

4. Khái quát quy định về biện pháp tự vệ theo Hiệp định RCEP

Ngày 15/11/2020, Bộ trưởng Kinh tế của 15 quốc gia thành viên Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện khu vực -RCEP (bao gồm 10 nước ASEAN và 5 đối tác đã có FTA với ASEAN là Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Úc và New Zealand – trừ Ấn Độ) đã ký kết Hiệp định từ các đầu cầu truyền hình trực tuyến. Hiệp định này sẽ chính thức có hiệu lực trong vòng 60 ngày kể từ ngày được thông qua bởi ít nhất 6 nước thành viên ASEAN và 3 nước thành viên không thuộc ASEAN. Nội dung Phòng vệ thương mại được quy định tại chương 7 của Hiệp định. Về tổng thể, nội dung Chương Phòng vệ thương mại của Hiệp định RCEP về cơ bản phù hợp với các cam kết của Việt Nam ở WTO và pháp luật Việt Nam về phòng vệ thương mại. Các biện pháp gồm Chống bán phá giá, Chống trợ cấp và Tự vệ toàn cầu được quy định theo hướng bảo lưu nghĩa vụ các bên theo cam kết WTO và bổ sung một số cam kết cụ thể về thông báo, tham vấn, cấm sử dụng phương pháp Quy về không, công bố dữ liệu trọng yếu, xử lý thông tin mật và thủ tục thẩm tra tại chỗ. Một số nội dung cụ thể của chương PVTM như sau:

5. Tự vệ

5.1. Tự vệ trong giai đoạn chuyển tiếp

Tự vệ trong giai đoạn chuyển tiếp (cơ chế chuyển tiếp để giải quyết thiệt hại nghiêm trọng hoặc đe dọa gây ra thiệt hại nghiêm trọng cho ngành sản xuất trong nước gây ra bởi cam kết trong Hiệp định RCEP):

- Không áp dụng biện pháp hạn ngạch thuế quan hoặc hạn chế định lượng.

- Không muộn hơn 3 năm trước khi kết thúc giai đoạn chuyển đổi thì Uỷ ban Hàng hoá có thể thảo luận, rà soát việc thực thi, trong đó có vấn đề về thời hạn của biện pháp.

- Cung cấp báo cáo điều tra (bản cứng hoặc đường dẫn) (có thể bằng ngôn ngữ cuả nước điều tra).

 - Thời hạn điều tra: 1 năm - Thời hạn biện pháp: 3 năm và có thể gia hạn 1 năm. (thêm 1 năm nữa cho thành viên kém phát triển- LDC).

- Không áp dụng biện pháp trong vòng 1 năm kể từ khi giảm/xoá bỏ thuế.

- Nới lỏng biện pháp nếu biện pháp dài hơn 1 năm. - Không áp dụng lại với hàng hoá đã bị áp biện pháp tự vệ chuyển tiếp trong khoảng thời gian bằng với thời gian áp dụng trước đó của biện pháp hoặc trong vòng 1 năm kể từ ngày biện pháp hết hạn, tuỳ vào thời gian nào dài hơn.

- Không áp dụng biện pháp tự vệ chuyển tiếp hoặc biện pháp tự vệ chuyển tiếp tạm thời với hàng hoá của 1 bên nếu hàng hoá từ bên đó không vượt quá 3% tổng nhập khẩu hàng hoá đó của nước nhập khẩu từ tất cả các bên với điều kiện các bên có thị phần dưới 3% cộng lại không chiếm hơn 9%.

- Đền bù: tham vấn về việc đền bù trong vòng 30 ngày kể từ ngày áp biện pháp.

- Trả đũa: nếu không đạt được thoả thuận về đền bù trong vòng 30 ngày kể từ ngày tham vấn. Bên trả đũa sẽ thông báo cho bên kia ít nhất 30 ngày trước ngày trả đũa.

- Nghĩa vụ đền bù và quyền trả đũa chấm dứt khi biện pháp chấm dứt.

- Quyền trả đũa không được áp trong 3 năm đầu.

- Thành viên LDC: không bị yêu cầu đền bù; Không bị áp biện pháp tự vệ chuyển tiếp/tự vệ chuyển tiếp tạm thời; thời hạn áp biện pháp được dài hơn 1 năm.

- Biện pháp tạm thời: quy định về việc thông báo cho bên kia trước khi áp và tham vấn với bên có quyền lợi đáng kể ngay sau khi áp biện pháp.

- Quy định về vấn đề quản lý luật, thủ tục minh bạch.

- Ngôn ngữ trong các thông báo phải bằng tiếng Anh.

- Quy định về thông báo, tham vấn, thủ tục điều tra, đền bù, biện pháp tạm thời về cơ bản giống với quy định WTO.

5.2. Tự vệ toàn cầu:

- Khi bên khác có yêu cầu, bên áp dụng phải thông báo ngay lập tức hoặc thông báo đường dẫn các thông tin quan trọng về việc khởi xướng, biện pháp sơ bộ, kết luận điều tra cuối cùng.

6. Chống bán phá giá/chống trợ cấp theo Hiệp định RCEP

- Cấm sử dụng zeroing: (WTO không có quy định này)

- Thẩm tra tại chỗ: quy định cụ thể về thời gian thông báo (thông báo ít nhất 7 ngày trước khi định thẩm tra, ít nhất 7 ngày trước ngày thẩm tra sẽ cung cấp nội dung thẩm tra) (WTO không quy định cụ thể thời gian)

- Quy định cụ thể về hồ sơ công khai dưới dạng bản cứng (có thể xem và sao chụp trong giờ làm việc) hoặc bản mềm.(WTO không quy định cụ thể như vậy)

- Quy định cụ thể về thời gian thông báo nhận hồ sơ đầy đủ hợp lệ trước khi khởi xướng điều tra chống bán phá giá (7 ngày). (WTO không quy định cụ thể thời gian)

- Quy định cụ thể về việc thông báo trước khi khởi xướng điều tra trợ cấp ít nhất 20 ngày trước ngày khởi xướng. (WTO không quy định cụ thể thời gian)

- Công bố dữ liệu trọng yếu: quy định cụ thể về thời gian (ít nhất 10 ngày trước khi có quyết định cuối cùng) (WTO không quy định cụ thể thời gian).

- Quy định về việc mời tham vấn, cung cấp hồ sơ công khai, tóm tắt thông tin mật giống với WTO.

7. Các điểm mới về phòng vệ thương mại trong Hiệp định so với tiêu chuẩn của WTO

Các điểm mới về phòng vệ thương mại trong Hiệp định so với tiêu chuẩn của WTO là:

- Bổ sung các quy định giới hạn việc sử dụng các công cụ này để tránh lạm dụng và bảo đảm công bằng, minh bạch. Các quy định này tạo ra môi trường kinh doanh ổn định và thuận lợi hơn cho doanh nghiệp xuất khẩu. Do đó, bên cạnh việc tuân thủ quy định trong WTO, trong quy trình khởi xướng, điều tra, áp dụng biện pháp CBPG/CTC, cơ quan có thẩm quyền phải bảo đảm:

+ Công khai thông tin: tất cả các thông tin, dữ liệu tham khảo cần thiết được sử dụng để đưa ra quyết định về biện pháp phòng vệ thương mại phải được công khai ngay sau khi áp dụng biện pháp tạm thời và trước khi ra kết luận cuối cùng. Việc công khai phải bằng văn bản và phải cho các bên liên quan một thời gian hợp lý để bình luận.

+ Cơ hội bình luận: Các bên liên quan có cơ hội thể hiện quan điểm trong quá trình điều tra (với điều kiện không làm cản trở quá trình điều tra và dẫn đến bị quá hạn điều tra).

- Quy định nguyên tắc áp dụng mức thuế thấp hơn, tức là thuế chống bán phá giá hoặc chống trợ cấp chỉ ở mức đủ để loại bỏ thiệt hại (trong khi WTO không bắt buộc sử dụng quy tắc này). Điều này giúp hai bên hạn chế đưa ra những quyết định áp thuế với mức thuế quá cao không cần thiết.

- Một điểm đáng lưu ý là theo cam kết EVFTA, hai bên sẽ không áp dụng biện pháp chống bán phá giá, chống trợ cấp nếu việc này không phù hợp với lợi ích công cộng (tức là bên cạnh việc xem xét tình hình của ngành sản xuất trong nước thì nước điều tra cũng cần xem xét tình hình, quan điểm của nhà nhập khẩu, hiệp hội ngành hàng, tổ chức đại diện người tiêu dùng và các doanh nghiệp hạ nguồn).

- Biện pháp tự vệ toàn cầu: EVFTA quy định các bên tiếp tục tuân thủ các quy định của WTO về biện pháp tự vệ toàn cầu, đồng thời bổ sung thêm các cam kết sau:

+ Thông báo: bên khởi xướng điều tra/ chuẩn bị áp dụng biện pháp phải thông báo bằng văn bản tất cả các thông tin cơ bản và các căn cứ ra quyết định trong vụ việc theo yêu cầu của bên kia;

+ Cách thức: Phải tạo điều kiện để trao đổi song phương giữa hai bên về biện pháp tự vệ và chỉ được áp dụng chính thức biện pháp tự vệ sau 30 ngày kể từ khi trao đổi song phương thất bại.

- 2 Hiệp định cũng quy định về cơ chế tự vệ song phương, để bảo đảm việc cắt giảm thuế quan theo Hiệp định không gây ra các cú “sốc” đối với các ngành sản xuất trong nước, 2 Hiệp định quy định cơ chế tự vệ song phương trong thời gian chuyển đổi là 10 năm, tạo cơ sở pháp lý bảo đảm được quyền lợi của các bên được sử dụng công cụ tự vệ chính đáng trong việc bảo vệ ngành sản xuất trong nước nếu có thiệt hại hoặc đe doạ thiệt hại do việc cắt giảm thuế quan từ Hiệp định.