Câu hỏi: Khẳng định sau đúng hay sai, giải thích tại sao: "Hình phạt tiền không áp dụng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội "
Đáp án: Khẳng định sai. Bởi vì:
Theo quy định tại Điều 98 Bộ luật hình sự năm 2015: “Người dưới 18 tuổi phạm tội chỉ bị áp dụng một trong các hình phạt sau đây đối với mỗi tội phạm:
1. Cảnh cáo;
2. Phạt tiền;
3. Cải tạo không giam giữ;
4. Tù có thời hạn”.
Người dưới 18 tuổi phạm tội là người từ đủ 14 đến dưới 18 tuổi thực hiện hành vi phạm tội.
Điều 99 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định: “Phạt tiền được áp dụng là hình phạt chính đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi, nếu người đó có thu nhập hoặc có tài sản riêng”.
Như vậy đối với người dưới 18 tuổi phạm tội thì hình phạt tiền vẫn có thể được áp dụng trong trường hợp người đó từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi và có thu nhập hoặc có tài sản riêng. Còn đối với độ tuổi từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi thì không áp dụng hình phạt tiền.
Luật Minh Khuê phân tích chi tiết hơn quy định pháp lý này như sau:
1. Phạt tiền là gì?
Phạt tiền là một trong những hình phạt được tòa án quyết định trong bản án kết tội đối với người bị kết án về những tội phạm được bộ luật hình sự xác định. Phạt tiền là buộc người bị kết án phải nộp sung quỹ nhà nước khoản tiền nhất định.
Phạt tiền là hình phạt có tính chất kinh tế, đánh vào tài sản của bản thân người phạm tội, buộc người phạm tội phải nộp một khoản tiền nhất định sung và công quỹ nhà nước. Phạt tiền được áp dụng chủ yếu là nhằm tước bỏ những khoản tiền thu bất lợi chính hoặc một phần tài sản của người bị kết án để ngăn ngừa họ tái phạm, giáo dục răn đe họ sống và làm việc theo pháp luật. Hiện nay thì phần lớn phạt tiền được áp dụng là hình phạt bổ sung, chỉ trong một số trường hợp thì phạt tiền mới được áp dụng là hình phạt chính.
2. Thế nào là người dưới 18 tuổi phạm tội?
Người dưới 18 tuổi phạm tội là người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội mà bộ luật hình sự quy định là tội phạm. Tuy nhiên thì không phải tội nào người dưới 18 tuổi cũng bị truy cứu trách nhiệm hình sự mà chỉ những người từ đủ 14 tuổi trở lên mới bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
Tại điều 12 của bộ luật hình sự 2015 thì có quy định về tuổi chịu trách nhiệm hình sự. Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, trừ những tội phạm mà bộ luật này có quy định khác. Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại một trong các điều:
- Điều 123 Tội giết người
- Điều 134 Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác
- Điều 141 Tội hiếp dâm
- Điều 142 Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi
- Điều 143 Tội cưỡng dâm
- Điều 144 Tội cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi
- Điều 150 Tội mua bán người
- Điều 151 Tội mua bán người dưới 16 tuổi
- Điều 168 Tội cướp tài sản
- Điều 169 Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản
- Điều 170 Tội cưỡng đoạt tài sản
- Điều 171 Tội cướp giật tài sản
- Điều 173 Tội trộm cắp tài sản
- Điều 178 Tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản
- Điều 248 Tội sản xuất trái phép chất ma túy
- Điều 249 Tội tàng trữ trái phép chất ma túy
- Điều 250 Tội vận chuyển trái phép chất ma túy
- Điều 251 Tội mua bán trái phép chất ma túy
- Điều 252 Tội chiếm đoạt chất ma túy
- Điều 265 Tội tổ chức đua xe trái phép
- Điều 266 Tội đua xe trái phép
- Điều 286 Tội phát tán chương trình tin học gây hại cho hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử
- Điều 287 Tội cản trở hoặc gây rối loạn hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử
- Điều 289 Tội xâm nhập trái phép vào mạng máy tính, mạng viễn thông hoặc phương tiện điện tử của người khác
- Điều 290 Tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản
- Điều 299 Tội khủng bố
- Điều 303 Tội phá huỷ công trình, cơ sở, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia và
- Điều 304 Tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự của Bộ luật này.
Như vậy, người dưới 18 tuổi phạm tội ở 28 điều luật trên có thể sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo luật hình sự. Khi đưa ra quyết định hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội thì tòa án phải căn cứ vào điều 50 bộ luật hình sự và những quy định từ điều 90 đến 104 về người dưới 18 tuổi phạm tội.
Khi giải quyết những vụ việc có liên quan đến người dưới 18 tuổi thì cần phải tuân thủ một số nguyên tắc như là nguyên tắc chung, nguyên tắc miễn trách nhiệm hình sự, nguyên tắc quyết định hình phạt. Như là nguyên tắc xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội phải đảm bảo lợi ích tốt nhất của người dưới 18 tuổi và chủ yếu nhằm mục đích giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai làm, phát triển lành mạnh, trở thành công dân có ích cho xã hội. Nguyên tắc người dưới 18 tuổi phạm tội thuộc trong một số trường hợp theo quy định và có nhiều tình tiết giảm nhẹ, tự nguyện khắc phục phần lớn hậu quả nếu không thuộc trường hợp quy định tại điều 29 của Bộ luật hình sự 2015 thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự và áp dụng biện pháp giám sát, giáo dục . Hoặc nguyên tắc là việc truy cứu trách nhiệm hình sự người dưới 18 tuổi phạm tội chỉ trong trường hợp cần thiết và phải căn cứ vào những đặc điểm về nhân thân họ, tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội và yêu cầu của việc ngừa tội phạm. Nguyên tắc không xử phạt tù chung thân hoặc tử hình đối với người dưới 18 tuổi phạm tội....
3. Hình thức phạt tiền có áp dụng đối với người dưới 18 tuổi không?
Căn cứ pháp lý: Điều 98 Bộ luật hình sự 2015
Đối với các hình thức phạt được áp dụng đối với người dưới 18 tuổi thì Bộ luật hình sự được quy định một cách cụ thể như sau:
Người dưới 18 tuổi phạm tội chỉ bị áp dụng một trong các hình phạt sau đây đối với mỗi tội phạm:
- Cảnh cáo;
- Phạt tiền;
- Cải tạo không giam giữ;
- Tù có thời hạn;
Căn cứ theo trên thì người dưới 18 tuổi có thể bị áp dụng hình thức phạt tiền, phạt tiền là hình thức phạt chính đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi, nếu như người đó có thu nhập hoặc là có tài sản riêng. Mức phạt tiền đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội không quá một phần hai mức tiền phạt mà điều luật quy định.
Phạt tiền được áp dụng là hình phạt chính đối với các trường hợp như sau:
Căn cứ theo điều 35 của Bộ luật hình sự 2015 quy định về nguyên tắc chung khi phạt tiền thì phạt tiền là được áp dụng là hình phạt chính đối với các trường hợp như:
- Người phạm tội ít nghiệm trọng, phạm tội nghiêm trọng do bộ luật quy định;
- Người phạm tội rất nghiêm trọng xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, môi trường, trật tự công cộng, an toàn công cộng và một số tội phạm khác do Bộ luật này quy định.
Hình phạt tiền được áp dụng là hình phạt bổ sung đối với người phạm tội tham nhũng, ma túy, hoặc những tội phạm khác do bộ luật hình sự quy định
Mức tiền phạt được quyết định căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm của tội phạm, đồng thời có xét đến tình hình tài sản của người phạm tội, sự biến động của giá cả, nhưng không được thấp hơn 1.000.000 đồng
Bên cạnh đó thì tại điều 99 của bộ luật cũng quy định phạt tiền đối với người thành niên. Theo đó thì phạt tiền được áp dụng là hình phạt chính đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi nếu người đó có thu nhập hoặc tài sản riêng. Và mức phạt tiền đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội không quá một phần hai mức tiền phạt mà điều luật quy định. Không phạt tiền đối với người chưa thành niên phạm tội dưới 16 tuổi.
Tham khảo thêm:
- Người dưới 18 tuổi phạm tội trộm cắp tài sản thì xử lý thế nào?
- Hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội theo luật hình sự?
Trên đây là toàn bộ những nội dung mà chúng tôi muốn cung cấp cho các bạn có liên quan đến việc giải đáp thắc mắc cho các bạn về hình phạt tiền đối với người dưới 18 tuổi. Hi vọng rằng với những nội dung và thông tin mà chúng tôi cung cấp, đã giúp cho các bạn có một cái nhìn đúng hơn về hình phạt tiền với người dưới 18 tuổi. Ngoài ra thì đối với những vấn đề liên quan đến người dưới 18 tuổi phạm tội thì các bạn có thể liên hệ với chúng tôi thông qua số điện thoại của tổng đài tư vấn trực tiếp 1900.6162 để có thể được tư vấn hỗ trợ một cách nhanh chóng.