1. Khi chưa đủ chứng cứ trong phiên toà xét xử phúc thẩm có được xét xử lại ?\

>> Xem thêm: Điều tra viên là gì ? Quy định về điều tra viên trong vụ án hình sự

Thưa luật sư, Thẩm quyền xét xử phúc thẩm là Toà án nào ? Khi chưa có chứng cứ, tài liệu, đồ vật mà không thể thực hiện được ngay tại phiên tòa thì có được xét xử lại ?

Luật sư trả lời :

Căn cứ theo điều 344 bộ luật tố tụng hình sự 2015 về Toà án có thẩm quyền xét xử phúc thẩm quy định như sau :

Điều 344. Tòa án có thẩm quyền xét xử phúc thẩm

1. Tòa án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền xét xử phúc thẩm bản án, quyết định của Tòa án nhân dân cấp huyện bị kháng cáo, kháng nghị.

2. Tòa án nhân dân cấp cao có thẩm quyền xét xử phúc thẩm bản án, quyết định của Tòa án nhân dân cấp tỉnh thuộc phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ bị kháng cáo, kháng nghị.

3. Tòa án quân sự cấp quân khu có thẩm quyền xét xử phúc thẩm bản án, quyết định của Tòa án quân sự khu vực bị kháng cáo, kháng nghị.

4. Tòa án quân sự trung ương có thẩm quyền xét xử phúc thẩm bản án, quyết định của Tòa án quân sự cấp quân khu bị kháng cáo, kháng nghị.

2. Phiên tòa hình sự phúc thẩm bị hoãn trong trường hợp nào?

>> Xem thêm: Khám nghiệm hiện trường là gì? Khái quát chung về khám nghiệm hiện trường

Theo quy định pháp luật hiện hành, hoãn phiên toà hình sự là việc chuyển thời điểm tiến hành phiên toà hình sự đã định sang thời điểm khác muộn hơn. Việc hoãn phiên toà chỉ được thực hiện khi có các căn cứ do pháp luật tố tụng hình sự quy định.

Các trường hợp hoãn phiên tòa hình sự phúc thẩm được quy định tại Khoản 1 Điều 352 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 (có hiệu lực từ ngày 01/01/2018). Theo đó, Tòa án cấp phúc thẩm chỉ được hoãn phiên tòa khi thuộc một trong các trường hợp:

a) Có một trong những căn cứ quy định tại các điều 52, 53, 349, 350 và 351 của Bộ luật này;

b) Cần phải xác minh, thu thập bổ sung chứng cứ, tài liệu, đồ vật mà không thể thực hiện được ngay tại phiên tòa.

Trường hợp hoãn phiên tòa thì vụ án phải được xét xử lại từ đầu.

Về thời hạn hoãn phiên tòa và quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm được thực hiện theo quy định tại Điều 297 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015. Cụ thể:

Thời hạn hoãn phiên tòa không được quá 30 ngày kể từ ngày ra quyết định hoãn phiên tòa.

Về nội dung, quyết định hoãn phiên tòa có các nội dung chính:

- Ngày, tháng, năm ra quyết định;

- Tên Tòa án và họ tên Thẩm phán, Hội thẩm, Thư ký Tòa án;

- Họ tên Kiểm sát viên thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử tại phiên tòa;

- Vụ án được đưa ra xét xử;

- Lý do của việc hoãn phiên tòa;

- Thời gian, địa điểm mở lại phiên tòa.

Quyết định hoãn phiên tòa phải được chủ tọa phiên tòa thay mặt Hội đồng xét xử ký tên. Trường hợp chủ tọa phiên tòa vắng mặt hoặc bị thay đổi thì Chánh án Tòa án ra quyết định hoãn phiên tòa.

Quyết định hoãn phiên tòa phải được thông báo ngay cho những người tham gia tố tụng có mặt tại phiên tòa; gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp và những người vắng mặt tại phiên tòa trong thời hạn 02 ngày kể từ ngày ra quyết định.

3. Khi nào phiên tòa phúc thẩm được hoãn?

>> Xem thêm: Lú luận về động cơ phạm tội trong vụ án hình sự ?

Theo quy định tại khoản 1 Điều 352, Bộ luật tố tụng hình sự 2015, phiên tòa hình sự được hoãn trong các trường hợp sau:

“Tòa án cấp phúc thẩm chỉ được hoãn phiên tòa khi thuộc một trong các trường hợp:

a) Có một trong những căn cứ quy định tại các điều 52, 53, 349, 350 và 351 của Bộ luật này;

b) Cần phải xác minh, thu thập bổ sung chứng cứ, tài liệu, đồ vật mà không thể thực hiện được ngay tại phiên tòa.

Trường hợp hoãn phiên tòa thì vụ án phải được xét xử lại từ đầu.”

Như vậy, việc tạm ngừng một thời gian nhất định việc xét xử vụ án theo thủ tục phúc thẩm chỉ diễn ra khi thỏa mãn các điều kiện luật định quy định tại khoản 1 điều 352, Bộ luật tố tụng hình sự 2015. Cụ thể, “Trường hợp phải thay đổi Kiểm sát viên tại phiên tòa thì Hội đồng xét xử ra quyết định hoãn phiên tòa.” (Quy định tại khoản 2 điều 52 Bộ luật tố tụng hình sự 2015), “Trường hợp Kiểm sát viên bị thay đổi hoặc không thể tiếp tục thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử mà không có Kiểm sát viên dự khuyết để thay thế thì Hội đồng xét xử hoãn phiên tòa” ( Quy định tại điều 350 Bộ luật tố tụng hình sự 2015). Sự tham gia phiên tòa của Kiểm sát viên Viện kiểm sát cùng cấp là bắt buộc. Do vậy, trong trường hợp phải thay đổi Kiểm sát viên tại phiên tòa thì Hội đồng xét xử ra quyết định hoãn phiên tòa. Quyết định đó được gửi cho Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp hoặc Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp. Việc cử Kiểm sát viên khác tham gia phiên tòa do Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp hoặc Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp quyết định. Điều này đảm bảo cho hoạt động kiểm sát, hoạt động xét xử được liên tục, không bị gián đoạn, đáp ứng yêu cầu kiểm sát tính đúng đắn trong hoạt động tố tụng hình sự tại phiên tòa.

Phiên tòa phúc thẩm được hoãn trong “Trường hợp phải thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm tại phiên tòa thì Hội đồng xét xử ra quyết định hoãn phiên tòa.”. (Quy định tại khoản 2 điều 52 Bộ luật tố tụng hình sự 2015). Tại mỗi phiên tòa, sự có mặt của Thẩm phán, Hội thẩm là bắt buộc. Trong trường hợp này việc hoãn phiên tòa là hoàn toàn hợp lý, tạo điều kiện, thời gian để Thẩm phán, Hội thẩm nghiên cứu kỹ vụ việc cũng như đảm bảo các điều kiện cần thiết cho phiên tòa. Tương tự như vậy, “Trường hợp Thư ký Tòa án bị thay đổi hoặc không thể tiếp tục tham gia phiên tòa thì Tòa án vẫn có thể xét xử vụ án nếu có Thư ký Tòa án dự khuyết; nếu không có người thay thế thì tạm ngừng phiên tòa.” (quy định tại điều 349 Bộ luật tố tụng hình sự 2015).

Tại điểm a, khoản 1, điều 351 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 cũng quy định “Trường hợp người bào chữa vắng mặt lần thứ nhất vì lý do bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan thì phải hoãn phiên tòa, trừ trường hợp bị cáo đồng ý xét xử vắng mặt người bào chữa. Trường hợp người bào chữa vắng mặt không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan hoặc được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt thì Tòa án vẫn tiến hành xét xử.” Việc hoãn phiên tòa trong trường hợp vắng mặt người bà chữa nhằm bảo đảm cho quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự, người kháng cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến kháng cáo, kháng nghị. Tuy nhiên điều kiện để hoãn phiên tòa là người bào chữa vắng mặt lần thứ nhất, lý do bất khả kháng hay các trở ngại khách quan khiến người bào chữa không thể tham gia được phiên tòa.

Phiên tòa phúc thẩm được hoãn khi “cần phải xác minh, thu thập bổ sung chứng cứ, tài liệu, đồ vật mà không thể thực hiện được ngay tại phiên tòa” (khoản 2 điều 352 Bộ luật tố tụng hình sự 2015). Trong trường họp này, việc hoãn phiên tòa là cần thiết, các thông tin cần xác minh, thu thập chứng cứ, tài liệu, đồ vật… có thể có ảnh hưởng lớn tới bản án được tòa tuyên, vì vậy để đảm bảo tính chính xác, công minh và lẽ phải, Tòa án cấp phúc thẩm được hoãn phiên tòa.

Vụ án sẽ được xét xử lại từ đầu nếu bị hoãn phiên tòa.

4. Thời hạn hoãn phiên tòa và quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm

>> Xem thêm: Nguyên tắc “Bảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự”

Khoản 2 điều 352 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 quy định “Thời hạn hoãn phiên tòa và quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm được thực hiện theo quy định tại Điều 297 của Bộ luật này”

Như vậy, thời hoãn hoãn phiên tòa phúc thẩm tương tự với thời hạn hoãn phiên tòa sơ thẩm tức không được quá 30 ngày kể từ ngày ra quyết định hoãn phiên tòa.

Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm bao gồm các nội dung chính sau:

a) Ngày, tháng, năm ra quyết định;

b) Tên Tòa án và họ tên Thẩm phán, Hội thẩm, Thư ký Tòa án;

c) Họ tên Kiểm sát viên thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử tại phiên tòa;

d) Vụ án được đưa ra xét xử;

đ) Lý do của việc hoãn phiên tòa;

e) Thời gian, địa điểm mở lại phiên tòa.

Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm phải được chủ tọa phiên tòa thay mặt Hội đồng xét xử ký tên. Trường hợp chủ tọa phiên tòa vắng mặt hoặc bị thay đổi thì Chánh án Tòa án ra quyết định hoãn phiên tòa. Quyết định hoãn phiên tòa phải được thông báo ngay cho những người tham gia tố tụng có mặt tại phiên tòa; gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp và những người vắng mặt tại phiên tòa trong thời hạn 02 ngày kể từ ngày ra quyết định.

5. Áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế trong giai đoạn xét xử phúc thẩm

>> Xem thêm: Mớm cung là gì ? Quy định của pháp luật về hành vi mớm cung

1. Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án cấp phúc thẩm có quyền quyết định việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế.

Việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp tạm giam do Chánh án, Phó Chánh án Tòa án quyết định. Việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ các biện pháp ngăn chặn khác, biện pháp cưỡng chế do Thẩm phán chủ tọa phiên tòa quyết định.

2. Thời hạn tạm giam để chuẩn bị xét xử không được quá thời hạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm quy định tại Điều 346 của Bộ luật này.

Trường hợp còn thời hạn tạm giam bị cáo mà xét thấy cần phải tiếp tục tạm giam bị cáo thì Tòa án cấp phúc thẩm sử dụng thời hạn tạm giam theo quyết định tạm giam của Tòa án cấp sơ thẩm. Trường hợp đã hết thời hạn tạm giam bị cáo theo quyết định tạm giam của Tòa án cấp sơ thẩm thì Chánh án, Phó Chánh án Tòa án ra quyết định tạm giam mới.

Đối với bị cáo đang bị tạm giam, nếu xét thấy cần tiếp tục tạm giam để hoàn thành việc xét xử thì Hội đồng xét xử ra quyết định tạm giam cho đến khi kết thúc phiên tòa.

3. Đối với bị cáo đang bị tạm giam bị xử phạt tù mà đến ngày kết thúc phiên tòa thời hạn tạm giam đã hết thì Hội đồng xét xử ra quyết định tạm giam bị cáo để bảo đảm việc thi hành án, trừ trường hợp quy định tại khoản 4 và khoản 5 Điều 328 của Bộ luật này.

Đối với bị cáo không bị tạm giam nhưng bị xử phạt tù thì Hội đồng xét xử có thể ra quyết định bắt tạm giam bị cáo ngay sau khi tuyên án.

Thời hạn tạm giam là 45 ngày kể từ ngày tuyên án.

Mọi vướng mắc pháp lý liên quan đến luật hình sự, luật tố tụng hình sự - Hãy gọi ngay: 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê