- 1. Nguyên tắc bình đẳng trước TAND.
- 1.1. Bình đẳng trước Tòa án trong Luật tố tụng hình sự.
- 1.2. Bình đẳng trước Tòa án trong Luật Tố tụng dân sự.
- 1.3. Bình đẳng trước Tòa án tỏng Luật tố tụng hành chính.
- 2. Trường hợp có văn bản quy phạm pháp luật mới không quy định nghĩa vụ pháp lý hoặc quy định hẹp hơn
1. Nguyên tắc bình đẳng trước TAND.
“Bình đẳng” theo nghĩa tiếng Việt là “ngang hàng nhau về địa vị và quyền lợi”. Bình đẳng trước pháp luật có nghĩa là các chủ thể đều bình đẳng trước sự điều chỉnh của pháp luật. Còn bình đẳng trước Tòa án có nghĩa là các chủ thể tham gia vụ án đều bình đẳng trước cơ quan xét xử, được cơ quan xét xử tạo điều kiện thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng một cách bình đẳng cũng như được Tòa án xem xét các quyền, lợi ích hợp pháp một cách bình đẳng với nhau.
Nguyên tắc bình đẳng được quy định trong hầu hết các văn bản quy phạm pháp luật. Đây là nguyên tắc chỉ đạo, bao trùm nhất, được thể hiện trong tất cả các hoạt động của các cơ quan nhà nước nói chung và trong hoạt động xét xử của Toà án nhân dân nói riêng. Trong hoạt động xét xử, để bảo đảm cho nguyên tắc này không bị vi phạm, đòi hỏi Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân phải tuân thủ nghiêm chỉnh các quy định của pháp luật trong khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình, từ các quy định của pháp luật tố tụng đến các quy định của pháp luật về nội dung.
Điều 12 Luật tổ chức Tòa án nhân dần năm 2014 đã quy định bảo đảm quyền bình đẳng trước Tòa án nhân dân: “Tòa án xét xử theo nguyên tắc mọi người đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt dân tộc, giới tính, tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần xã hội, địa vị xã hội; cá nhân, cơ quan, tổ chức đều bình đẳng trước Tòa án”. Tuy nhiên khi quy định cụ thể, Bộ luật tố tụng hình sự, Bộ luật tố tụng dân sự và Luật tố tụng hành chính năm 2015 hiện nay cũng như các văn bản luật tố tụng trước đây, mặc dù đều có quy định về nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng trước Tòa án, nhưng chỉ dừng ở việc thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng. Cụ thể:
1.1. Bình đẳng trước Tòa án trong Luật tố tụng hình sự.
Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 tại Điều 20 quy định: “Kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền và lợi ích hợp pháp liên quan đến vụ án và những người đại diện hợp pháp của họ đều có quyền bình đẳng trong việc đưa ra chứng cứ, đưa ra yêu cầu và tranh luận trước Toà án”.
Điểm b Khoản 1 Điều 3 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định: “Mọi người phạm tội đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt giới tính, dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần, địa vị xã hội”
Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 tại Điều 19 quy định: “Kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người đại diện hợp pháp của họ, người bảo vệ quyền lợi của đương sự đều có quyền bình đẳng trong việc đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, đưa ra yêu cầu và tranh luận dân chủ trước bà án. Tòa án có trách nhiệm tạo điều kiện cho họ thực hiện các quyển đó nhằm làm rõ sự thật khách quan của vụ án”.
Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 tại Điều 26 quy định: Tòa án có trách nhiệm tạo điều kiện cho Kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa, những người tham gia tố tụng khác thực hiện đầy đủ quyển, nghĩa vụ của mình và tranh tụng dấn chủ, bình đẳng trước Tòa án”.
Điều 16 BLTTHS năm 2015 quy định: “Bảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự…”. Theo đó, người bị buộc tội có quyền tự bào chữa, nhờ Luật sư hoặc người khác bào chữa. Cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng có trách nhiệm thông báo, giải thích và bảo đảm cho người bị buộc tội, bị hại, đương sự thực hiện đầy đủ quyền bào chữa, quyền và lợi ích hợp pháp của họ theo quy định của BLTTHS. BLTTHS năm 2015 đã bổ sung quyền của người bị buộc tội là quyền đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật và yêu cầu người bào chữa, có quyền thu thập, đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật để chứng minh cho người bị buộc tội.
1.2. Bình đẳng trước Tòa án trong Luật Tố tụng dân sự.
Bình đẳng về quyền và nghĩa vụ trong tố tụng dân sự là quy định liên quan đến pháp luật tố tụng dân sự được ghi nhận lần đầu tiên tại Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự năm 1989 do Hội đồng Nhà nước ban hành. Trong cuộc sống hằng ngày, mọi cá nhân, tổ chức đều bình đẳng với nhau trong quan hệ dân sự, giao dịch dân sự không phân biệt các yếu tố về giàu nghèo, địa vị xã hội, tôn giáo…và các vấn đề khác. Điều này được pháp luật dân sự ghi nhận, được xem như một nguyên tắc cơ bản. Và trong pháp luật tố tụng dân sự thì mọi đương sự đều được bình đẳng với nhau về quyền và nghĩa vụ trong quá trình thực hiện tố tụng bởi lẽ Tòa án nhân danh pháp luật, công bằng và lẽ phải để đưa ra phán quyết cuối cùng.
Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 tại Điều 8 quy định: “Mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật, trước Tòa án không phân biệt dân tộc, nam nữ, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ văn hoá, nghề nghiệp. Mọi cơ quan, tổ chức đều bình đẳng không phụ thuộc vào hình thức tổ chức, hình thức sở hữu và những vấn đề khác. Các đương sự đều bình đẳng về quyền và nghĩa vụ trong tố tụng dân sự, Toà án có trách nhiệm tạo điều kiện để họ thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình”.
Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 tại Điều 8 quy định: “Trong tố tụng dân sự mọi người đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt dân tộc, giới tính, tín ngưỡng, tôn giáo, thành phẩm xã hội, trình độ văn hóa, nghề nghiệp, địa vị xã hội. Mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân đều bình đẳng trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng trước Tòa án”.
1.3. Bình đẳng trước Tòa án tỏng Luật tố tụng hành chính.
Luật tố tụng hành chính năm 2010 tại Điều 10 quy định: “Mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật, trước Tòa án không phân biệt dân tộc, nam. nữ, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ văn hoá, nghề nghiệp. Mọi cơ quan, tổ chức đều bình đẳng không phụ thuộc vào hình thức tổ chức, hình thức sở hữu và những vấn đề khác. Các đương sự bình đẳng về quyền và nghĩa vụ trong quá trình giải quyết vụ án hành chính. Toà án có trách nhiệm tạo điều kiện để họ thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình”.
Luật tố tụng hành chính năm 2015 tại Điều 17 quy định: “Trong tố tụng hành chính, mọi người đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt dân tộc, giới tính, tín ngưỡng, tôn giáo, thành phẩm xã hội, trình độ văn hóa, nghề nghiệp, địa vị xã hội. Mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân bình đẳng trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ trong tố tụng hành chính trước Tòa án”...
Vấn đề đặt ra là quyền bình đẳng trước Tòa án không chỉ dừng lại ở quyền bình đẳng về quyền và nghĩa vụ tố tụng, mà còn liên quan đến quyền và nghĩa vụ của chủ thể thuộc về nội dung vụ án. Giữa quyền, lợi ích công cộng mà bên công tố đang đại diện và quyển, lợi ích của bên bị buộc tội trong vụ án hình sự; quyền, lợi ích của nguyên đơn và bị đơn trong vụ án dân sự; quyền, lợi ích của bên khởi kiện và bên bị kiện trong vụ án hành chính có được bình đẳng với nhau trước Tòa án hay không? Vấn đề này các luật hiện nay chưa có quy định trực tiếp.
Đối với vụ án dân sự, tại Điều 3 Bộ luật dân sự năm 2015 cũng như tại các Bộ luật dân sự trước đây có quy định: “Mọi cá nhân, pháp nhân đều bình đẳng, không được lấy bất kỳ lý do nào để phân biệt đối xử; được pháp luật bảo hộ như nhau về các quyền nhân thân và tài sản”. Do đó, có thể khẳng định ngay, quyền và lợi ích hợp pháp dân sự giữa nguyên đơn và bị đơn và của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án dân sự là bình đẳng trước Tòa án.
Đối với vụ án hình sự và hành chính, một bên là Kiểm sát viên thực hành quyền công tố hoặc là cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền bị kiện hành chính, họ là đại diện cho nhà nước bảo vệ quyền và lợi ích công cộng; một bên là cá nhân, pháp nhân bị buộc tội hoặc là cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện hành chính, họ có quyền và lợi ích cụ thể. Nếu xét về thực thể, xã hội là cái toàn thể bao giờ cũng rộng lớn hơn cá nhân và tổ chức; nhưng xét về quyền và lợi ích, một bên liên quan đến quyền, lợi ích công cộng, còn một bên liên quan đến quyền con người, quyền sống, quyền tự do, quyền sở hữu..., tất cả đều là vô giá, không thể đo đếm và đổi chác. Trong xã hội hiện đại, chúng ta không thể đánh giá quyền, lợi ích công cộng cao hơn để bắt mọi cá nhân, tổ chức lúc nào cũng phải hy sinh và cũng không thể đánh giá là thấp hơn để quyền, lợi ích cá nhân, tổ chức có thể đứng trên quyển, lợi ích công cộng. Vậy chỉ có thể xem xét chúng là bình đẳng với nhau. Tuy nhiên, “bình đẳng” phải song hành với “công bằng” để có thể xem xét các quyền, lợi ích của các bên một cách hài hòa, đúng đắn phù hợp với mọi hoàn cảnh.
Từ những nhận định trên có thể khẳng định, đối với những vụ việc thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án, các quyền và lợi ích hợp pháp của mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân phải được bình đẳng với nhau trước Tòa án, đều được Tòa án xem xét một cách công bằng theo Hiến pháp và pháp luật. Việc thừa nhận nguyên tắc này có ý nghĩa quan trọng, giúp cho Tòa án thực hiện tốt nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng trước pháp luật, quyền bình đẳng trước Tòa án về quyền, nghĩa vụ tố tụng; nguyên tắc bảo đảm tranh tụng và nguyên tắc Thẩm phán, Hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật, qua đó thể hiện vị trí trung lập, phù hợp với vai trò bảo vệ công lý của Tòa án.
Do đó, để hoàn thiện nguyên tắc bình đẳng trước Tòa án, tác giả đề nghị cấp bổ sung vào Luật tổ chức Tòa án nhân dân và các luật tố tụng nội dung quy định như sau:
“Các quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân đều bình đẳng trước Tòa án, đều được Tòa án xem xét một cách công bằng theo Hiến pháp và pháp luật”.
Như vậy, quyền bình đẳng của mọi người trước Tòa án được pháp luật bảo vệ, quy định trong Luật Tổ chức Tòa án nhân dân và các Luật, bộ luật về tố tụng.
2. Trường hợp có văn bản quy phạm pháp luật mới không quy định nghĩa vụ pháp lý hoặc quy định hẹp hơn
Bổ sung quy định về việc áp dụng pháp luật trong trường hợp có văn bản quy phạm pháp luật mới không quy định nghĩa vụ pháp lý hoặc quy định nghĩa vụ pháp lý hẹp hơn (hay quyền pháp lý rộng hơn)
Tại khoản 4 Điều 156 của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 có quy định: “Trong trường hợp văn bản quy phạm pháp luật mới không quy định trách nhiệm pháp lý hoặc quy định trách nhiệm pháp lý nhẹ hơn đối với hành vi xảy ra, trước ngày văn bản có hiệu lực thì áp dụng văn bản mới”. Đầy là quy định thể hiện tính nhân đạo của pháp luật. Trong thực tiễn còn đặt ra, có những trường hợp văn bản quy phạm pháp luật mới xóa bỏ nghĩa vụ pháp lý hoặc quy định nghĩa vụ pháp lý hẹp hơn (tức quyền pháp lý rộng hơn) thể hiện sự tiến bộ pháp lý, theo quy định thông thường thì chỉ có chủ thể tham gia quan hệ pháp luật kể từ ngày văn bản có hiệu lực mới được hưởng, vậy những trường hợp chủ thể tham gia trước đó có quyển được hưởng sự tiến bộ pháp lý đó hay không? Vấn đề này, pháp luật hiện nay quy định chưa thống nhất, có những trường hợp pháp luật cho áp dụng, có trường hợp không, có trường hợp còn bỏ ngỏ. Chẳng hạn như một số trường hợp sau đầy:
Pháp luật đất đai và dân sự trước ngày 01/7/2004 quy định rất nhiều các nghĩa vụ pháp lý liên quan đến việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất, như khoản 2 Điều 3, Điều 30, Điều 31 của Luật Đất đai năm 1993; các điều từ Điều 705 đến Điểu 707 và Điều 711 của Bộ luật dân sự năm 1995. Khi Luật đất đai năm 2003 được ban hành, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2004, các nghĩa vụ pháp lý liên quan bị thu hẹp rất nhiều, như khoản 1 Điều 106, điểm b khoản 1 Điều 127, khoản 1 Điều 146. Sau đó, Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004 để hướng dẫn Tòa án giải quyết những tranh chấp liên quan đến giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất xác lập trước ngày 01/7/2004 theo tinh thần pháp lý tiến bộ của Luật đất đai năm 2003.
Trường hợp khác, Điều 129 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định về việc xử lý đối với những giao dịch dân sự vi phạm về hình thức như sau: “Giao dịch dân sự đã được xác lập theo quỵ định phải bằng văn bản nhưng văn bản không đúng quy định của luật mà một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bèn, Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực của giao dịch đó; Giao dịch dân sự đã được xác lập bằng văn bản nhưng vi phạm quy định bắt buộc về công chứng, chứng thực mả một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực của giao dịch đó. Trong trường hợp này, các bên không phải thực hiện việc công chứng, chứng thực”.
Quy định này được áp dụng cho những giao dịch dân sự được xác lập kể từ ngày 01/01/2016 (là ngày Bộ luật dân sự năm 2015 có hiệu lực) trở đi. Đối với những giao dịch dân sự được xác lập trước ngày 01/01/2016 thì theo Điều 688 Bộ luật dân sự năm 2015 về điều khoản chuyển tiếp thì sẽ áp dụng Điều 134 Bộ luật dân sự năm 2005 xử lý: “Trong trường hợp pháp luật quy định hình thức giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch mà các bên không tuân theo thì theo yêu cầu của một hoặc các bên, Toà án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác quyết định buộc các bên thực hiện quy định về hình thức của giao dịch trong một thời hạn; quá thời hạn đó mà không thực hiện thì giao dịch vô hiệu”.
Trường hợp khác, về điều kiện thế chấp nhà ở theo Luật nhà ở năm 2005 quy định: “Chủ sở hữu nhà ở được thế chấp nhà ở để bảo đảm thực hiện một hoặc nhiều nghĩa vụ nếu giá trị của nhà ở đó lớn hơn tổng giá trị các nghĩa vụ nhưng chỉ được thế chấp tại một tổ chức tín dụng” (Điều 114). Khi Luật nhà ở năm 2014 được ban hành, quy định về điều kiện thế chấp được mở rộng hơn: “Chủ sở hữu nhà ở là tổ chức được thế chấp nhà ở tại tổ chức tín dụng đang hoạt động tại Việt Nam. Chủ sở hữu nhà ở là cá nhấn được thế chấp nhà ở tại tổ chức tín dụng tổ chức kinh tế đang hoạt động tại Việt Nam hoặc cá nhân theo quy định của pháp luật” (Điều 144).
Bộ phận tư vấn luật - Luật Minh Khuê