Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật Dân sự của Công ty luật Minh Khuê

>> Luật sư tư vấn pháp luật Dân sự, gọi:  1900.6162

Luật Giáo dục nghề nghiệp năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2019 (sau đây gọi là Luật Giáo dục Nghề nghiệp).

1. Một số khái niệm cần biết

Giáo dục nghề nghiệp được coi là một trong các bậc của hệ thống giáo dục quốc dân. Theo quy định tại khoản 1, Điều 3 Luật Giáo dục nghề nghiệp, Giáo dục nghề nghiệp có vai trò quan trọng trong việc đào tạo trình độ sơ cấp, trình độ trung cấp, trình độ cao đẳng và các chương trình đào tạo nghề nghiệp khác cho người lao động, đáp ứng nhu cầu nhân lực trực tiếp trong sản xuất, kinh doanh và dịch vụ.

Các cơ sở giáo dục nghề nghiệp hay được biết tới là:

- Trung tâm giáo dục nghề nghiệp;

- Trường trung cấp;

- Trường cao đẳng.

Các cơ sở giáo dục nghề nghiệp thường được tổ chức theo các loại hình sau:

- Cơ sở giáo dục nghề nghiệp công lập (thuộc sở hữu Nhà nước, do Nhà nước đầu tư, xây dựng cơ sở vật chất);

- Cơ sở giáo dục nghề nghiệp tư thục (ngoài công lập -  thuộc sở hữu của các tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức kinh tế tư nhân hoặc cá nhân, do các tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức kinh tế tư nhân hoặc cá nhân đầu tư, xây dựng cơ sở vật chất).

- Cơ sở giáo dục nghề nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài gồm hai loại hình chính sau cơ sở giáo dục nghề nghiệp 100% vốn của nhà đầu tư nước ngoài; cơ sở giáo dục nghề nghiệp liên doanh giữa nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài.

Giáo dục thường xuyên, theo định nghĩa trong Luật giáo dục năm 2019 là giáo dục để thực hiện một chương trình giáo dục nhất định, được tổ chức linh hoạt về hình thức thực hiện chương trình, thời gian, phương pháp, địa điểm, đáp ứng nhu cầu học tập suốt đời của người học.

Đào tạo thường xuyên được giải thích tại Luật giáo dục nghề nghiệp là hình thức đào tạo vừa làm vừa học, học từ xa hoặc tự học có hướng dẫn đối với các chương trình đào tạo trình độ sơ cấp, trung cấp, cao đẳng và các chương trình đào tạo nghề nghiệp khác, được thực hiện linh hoạt về chương trình, thời gian, phương pháp, địa điểm đào tạo, phù hợp với yêu cầu của người học.

2. Khái quát về chương trình đào tạo thường xuyên tại cơ sở giáo dục nghề nghiệp

Các nội dung tổ chức đào tạo thường xuyên:

Theo quy định tại Điều 40 Luật Giáo dục Nghề nghiệp, việc đào tạo thương xuyên được thực hiện với các chương trình đào tạo sau đây

- Nhóm thứ 1: Đào tạo thường xuyên theo yêu cầu của người học hoặc chương trình bồi dưỡng, cập nhật, nâng cao kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp;

- Nhóm thứ 2: Đào tạo theo hình thức kèm cặp nghề, truyền nghề, tập nghề;

- Nhóm thứ 3: Đào tạo nội  dung chương trình chuyển giao công nghệ;

- Nhóm thứ 4: Các chương trình đào tạo khác có thời gian đào tạo dưới 03 tháng;

- Nhóm thứ 5: Các chương trình đào tạo để lấy bằng tốt nghiệp cao đẳng, trung cấp và chứng chỉ sơ cấp theo hình thức đào tạo thường xuyên

Yêu cầu đối với chương trình đào tạo thường xuyên tại cơ sở giáo dục nghề nghiệp:

- Các chương trình đào tạo quy định tại nhóm thứ 1, 2 , 3 và 4 nêu trên phải bảo đảm tính thiết thực, giúp người học có năng lực thực hiện được các công việc của nghề đã học, nâng cao khả năng lao động, tăng năng suất lao động hoặc chuyển đổi nghề nghiệp. 

- Chương trình đào tạo tại nhóm thứ 5 nêu trên- do là chương trình đào tạo để lấy bằng tốt nghiệp cao đẳng, trung cấp và chứng chỉ sơ cấp nên chương trình học cũng phải bảo đảm các yêu cầu quy định tương tự đối với hình thức đạo tạo cao đẳng, tủng cấp, sơ cấp theo hình thức chính quy tại Điều 34 Luật Giáo dục nghề nhiệp như sau:

+) Chương trình đào tạo nghề nghiệp phải thể hiện rõ các nội dung gồm: Mục tiêu đào tạo trọng tâm của các trình độ đào tạo; Quy định chuẩn kiến thức, kỹ năng của người học sau khi tốt nghiệp; Phạm vi và cấu trúc nội dung, phương pháp và hình thức đào tạo; Cách thức đánh giá kết quả học tập đối với từng mô-đun, tín chỉ, môn học, từng chuyên ngành hoặc từng nghề và từng trình độ;

+) Chương trình đào tạo phải đảm bảo đảm tính khoa học, hiện đại, hệ thống, thực tiễn, linh hoạt đáp ứng sự thay đổi của thị trường lao động; có sự phân bố hợp lý thời gian giữa các khối lượng kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp và có sự phân hoá cấp độ giữa các trình độ đạo tạo nhưng bảo đảm việc liên thông giữa các trình độ giáo dục nghề nghiệp với các trình độ đào tạo khác trong hệ thống giáo dục quốc dân;

+) Chương trình đào tạo phải được định kỳ rà soát cập nhật, bổ sung cho phù hợp với kỹ thuật công nghệ trong sản xuất, kinh doanh và dịch vụ.

3. Quy định về giao kết hợp đồng đào tạo

Tại sao trong hoạt động giáo dục lại xuất hiện hợp đồng đào tạo ?

Thực chất đây là khái niệm trong Bộ luật Lao động. Và hợp đồng đào tạo cũng xuất hiện khi doanh nghiệp có nhu cầu đưa người lao động đi học nghề, tập nghề - nói chung là đào tạo để sử dụng cho doanh nghiệp.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 39, hợp đồng đào tạo được định nghĩa như sau:

Hợp đồng đào tạo là sự giao kết bằng lời nói hoặc bằng văn bản về quyền và nghĩa vụ giữa người đứng đầu cơ sở hoạt động giáo dục nghề nghiệp, lớp đào tạo nghề, tổ chức, cá nhân với người học tham gia các chương trình đào tạo thường xuyên quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều 40 của Luật này và trong trường hợp doanh nghiệp tuyển người vào đào tạo để làm việc cho doanh nghiệp.

Từ định nghĩa này, ta rút ra được ý chính sau, Hợp đồng đào tạo nghề được giao kết trong các trường hợp sau:

- Thứ nhất là hợp đồng đào tạo sẽ được giao kết khi doanh nghiệp có nhu cầu đưa người lao động tới các cơ sở giáo dục nghề nghiệp để đào tạo và sử dụng. 

- Thứ hai là Người học tham gia các chương trình đào tạo thường xuyên tại các nhóm thứ 1, 2, 3 và 4 nêu tại mục 2 cũng sẽ thuộc trường hợp giao kết hợp đồng đào tạo.

Nội dung hợp đồng đào tạo: Nội dung hợp đồng đào tạo được quy định tại khoản 2, 3 Điều 39 Luật giáo dục nghề nghiệp gồm:

- Tên nghề đào tạo hoặc các kỹ năng nghề đạt được;

- Địa điểm thực hiện hoạt động đào tạo;

- Thời gian hoàn thành khóa học;

- Mức học phí và phương thức thanh toán học phí;

- Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của mỗi bên khi vi phạm hợp đồng;

- Thanh lý hợp đồng;

- Các thỏa thuận khác không trái pháp luật và đạo đức xã hội.

- Cam kết về thời hạn làm việc cho doanh nghiệp;

- Cam kết của doanh nghiệp về việc sử dụng lao động sau khi học xong;

- Thỏa thuận về thời gian và mức tiền công cho người học trực tiếp hoặc tham gia làm ra sản phẩm cho doanh nghiệp trong thời gian đào tạo.

03 nội dung cuối được áp dụng thêm ngoài các nội dung trên cho trường hợp doanh nghiệp tuyển người vào đào tạo để làm việc cho doanh nghiệp.

4. Quy định về thời gian, phương pháp và người dạy chương trình đào tạo thường xuyên

Theo quy định tại Điều 41, thời gian và phương pháp đào tạo thương xuyên được quy định như sau:

Thời gian đào tạo

- Thời gian đào tạo đối với các chương trình quy định tại nhóm thứ 1, 2, 3 và 4 được thực hiện theo yêu cầu của từng chương trình, bảo đảm sự linh hoạt, phù hợp với từng đối tượng người học.

- Thời gian đào tạo thực hiện theo niên chế đối với các chương trình đào tạo tại nhóm 5 có thể dài hơn thời gian đào tạo cùng trình độ so với chương trình đào tạo chính quy được quy định tại Điều 33 Luật Giáo dục nghề nghiệp.

Quý khách hàng có thể tham khảo bài viết: Hoạt động của sở sở giáo dục nghề nghiệp khi thực hiện chương trình giáo dục chính quy tại mục số 3. Quy định về thời gian và phương pháp đào tạo để xem thông tin về thời gian đào tạo đối với chương trình giáo dục chính quy trong cơ sở giáo dục nghề nghiệp.

Phương pháp đào tạo: Phương pháp đào tạo trong chương trình giáo dục thường xuyên phải phát huy vai trò chủ động, năng lực tự học, kinh nghiệm của người học; sử dụng phương tiện hiện đại và công nghệ thông tin, truyền thông để nâng cao chất lượng, hiệu quả dạy và học.

5. Quy định về tổ chức, quản lý đào tạo thương xuyền và cấp văn bằng, chứng chỉ.

Hoạt động tổ chức, quản lý đào tạo thường xuyên được quy định tại Điều 43 Luật Giáo dục nghề nghiệp như sau: 

Chương trình đào tạo được thực hiện theo niên chế hoặc theo phương thức tích lũy mô-đun hoặc tín chỉ. Các cơ sở giáo dục tự chủ, tự tổ chức thực hiện chương trình theo phương thức phù hợp và chịu trách nhiệm về việc lựa chọn cũng như đảm bảo chất lượng dạy, học.

- Người học tích lũy đủ số mô-đun hoặc tín chỉ quy định trong chương trình đào tạo thì được công nhận hoàn thành chương trình; những mô-đun, tín chỉ đã tích lũy được công nhận và không phải học lại khi học các chương trình đào tạo khác.

Cơ sở giáo dục nghề nghiệp, doanh nghiệp, lớp đào tạo nghề được tổ chức đào tạo đối với các chương trình quy định tại nhóm thứ 1, 2, 3 và 4.

- Cơ sở giáo dục nghề nghiệp, cơ sở giáo dục đại học có đăng ký đào tạo trình độ cao đẳng được tổ chức đào tạo đối với chương trình quy định tại nhóm thứ 5 khi đã bảo đảm thực hiện nhiệm vụ đào tạo chính quy và được cơ quan quản lý nhà nước về đào tạo có thẩm quyền cho phép.

Quy định về việc cấp văn bằng, chứng chỉ:

- Hình thức kiểm tra hoặc thi khi kết thúc mô-đun, môn học, chương trình học được áp dụng với chương trình đào tạo nghề thường xuyên tại các nhóm thứ 1, 2, 3 và 4 tùy thuộc vào từng chương trình, do người đứng đầu cơ sở giáo dục nghề nghiệp, doanh nghiệp, người đứng đầu tổ chức, cá nhân mở lớp đào tạo nghề quyết định. 

Khi người học đã hết chương trình đào tạo, người đứng đầu cơ sở giáo dục nghề nghiệp, doanh nghiệp, lớp đào tạo nghề cấp chứng chỉ đào tạo. Chứng chỉ đào tạo phải ghi rõ nội dung đào tạo, thời gian khóa học.

- Đối với chương trình đào tạo thương xuyên tại nhóm thứ 5, việc kiểm tra, thi và cấp văn bằng, chứng chỉ giáo dục nghề nghiệp thực hiện tương tự chương trình giáo dục chính quy đối với trình độ giáo dục tương đương. Quý khách hàng có thể tham khảo mục số 5. Quy định về cấp văn bằng, chứng chỉ giáo dục nghề nghiệp trong bài viết Hoạt động của sở sở giáo dục nghề nghiệp khi thực hiện chương trình giáo dục chính quy.

Trên đây là tư vấn của chúng tôi.  Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Dân sự - Công ty luật Minh Khuê