1.Giới thiệu
Mục này tập trung nghiên cứu về thanh toán trong thương mại quốc tế, đặc biệt là thanh toán hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế. Theo Điều 1 CISG, hợp đồng mua bán hàng hoá phải được kí kết giữa các bên có trụ sở kinh doanh đặt tại các nước khác nhau. Do người mua và người bán ở những nước khác nhau, nên vấn đề quan trọng đặt ra là làm thế nào để thực hiện hoạt động thanh toán. Người bán sau khi giao hàng, nhận vận đơn vận tải luôn muốn được thanh toán ngay lập tức, tuy nhiên, người mua khi chưa nhận được hàng sẽ chưa muốn thanh toán. Người mua có thể chỉ muốn thanh toán sau khi nhận hàng và chắc chắn là hàng đã đủ số lượng cũng như đạt yêu cầu về chất lượng. Cơ chế thanh toán trong trường hợp này cần sự tham gia của bên thứ ba, thường là ngân hàng - giữ vai trò như bên trung gian, để đảm bảo rằng người bán sẽ được thanh toán đúng thời hạn. Thông thường, sau khi gửi hàng hoá đi, người bán sẽ kí phát một hối phiếu ghi giá trị hàng được gửi, kèm theo vận đơn và các chứng từ cụ thể khác, trình hối phiếu cho ngân hàng - thường là ở nước người bán cư trú, để thanh toán hoặc chuyển nhượng. Người mua, thông qua ngân hàng ở nước người mua, sẽ trả tiền khi họ nhận được các chứng từ theo yêu cầu. Mục này đề cập đến hai loại thủ tục thanh toán trong thương mại quốc tế. Thứ nhất, hối phiếu kèm chứng từ và tín dụng chứng từ, có chức năng chủ yếu là đảm bảo an toàn thanh toán cho hàng hoá và dịch vụ khi chứng từ được xuất trình; và thứ hai, tín dụng dự phòng, thư bảo đảm và bảo lãnh với chức năng chủ yếu là đảm bảo sự an toàn trước trường hợp mất khả năng thanh toán hợp đồng cơ sở.
2.Hối phiếu kèm chứng từ
Trong hoạt động mua bán hàng hoá quốc tế, thuật ngữ ‘hối phiếu kèm chứng từ’ có nghĩa là một loại hối phiếu đi kèm chứng từ vận tải và sẽ được chấp nhận hoặc thanh toán khi chuyển giao chứng từ, ngược lại với một dạng hối phiếu là hối phiếu ‘trơn’. Theo một khái niệm tương tự, ‘hối phiếu kèm chứng từ’ là loại hối phiếu có đính kèm vận đơn (hay chứng từ sở hữu). Do đó, hối phiếu kèm chứng từ có thể được cấu trúc một bộ gồm: (A) Hối phiếu; và (B) Chứng từ vận tải - một chứng từ sở hữu, mà hình thức thông dụng nhất trong mua bán hàng hoá quốc tế chính là vận đơn. Để hiểu hối phiếu kèm chứng từ là gì, cần giải thích khái niệm về hối phiếu và chứng từ vận tải với chức năng là chứng từ sở hữu. Phần tiếp theo bắt đầu với khái niệm và chức năng của hối phiếu, sau đó đưa ra giới thiệu ngắn gọn về chức năng của chứng từ sở hữu, và cuối cùng sẽ phân tích hoạt động của hối phiếu kèm chứng từ. A. Hối phiếu Trên bình diện quốc tế, Công ước Liên hợp quốc về hối phiếu và trái phiếu quốc tế đã được thông qua vào năm 1988 với mục đích, như nhiều công ước quốc tế khác, hướng tới sự hài hoà hóa các quy định liên quan đến hối phiếu. Công ước này trước tiên hướng tới hối phiếu quốc tế với định nghĩa tại khoản 1 Điều 2. Theo luật Anh, mục 3(1) Đạo luật hối phiếu năm 1882 định nghĩa hối phiếu là ‘Một văn bản yêu cầu vô điều kiện do một người kí phát cho một người khác, đòi hỏi người này, theo yêu cầu, tại một thời điểm ấn định hay có thể ấn định trong tương lai, phải thanh toán một khoản tiền nhất định cho người cầm hối phiếu hay một người cụ thể hoặc theo yêu cầu của người này.’ Hối phiếu (hay còn gọi là ‘draft’), cùng với những phương tiện thanh toán khác (ví dụ, séc), thuộc về nhóm chứng từ gọi là giấy tờ có giá. Một giấy tờ có giá, chứng minh nghĩa vụ trả tiền của người này cho người khác, có hai đặc điểm nổi bật. Thứ nhất, nó có thể được chuyển nhượng và với sự chuyển nhượng, các quyền đi kèm cũng được chuyển nhượng, theo đó người được chuyển nhượng có thể nhân danh chính mình sử dụng giấy tờ có giá và dĩ nhiên không cần báo trước cho người mang nghĩa vụ về sự chuyển nhượng. Thứ hai, khi người được chuyển nhượng có thiện chí, họ sẽ nhận hối phiếu mà không đưa ra yêu sách đối với người chuyển nhượng. Hối phiếu là hợp đồng độc lập và không bị tác động do những vi phạm hợp đồng cơ sở mà dựa vào đó đã tạo ra hối phiếu. Do những đặc trưng nêu trên, hối phiếu được coi như tiền mặt. Trong trường hợp hối phiếu được chuyển nhượng có quyền truy đòi, người chuyển nhượng hối phiếu có thể phải chịu trách nhiệm trước người giữ hối phiếu tiếp theo, nếu người có trách nhiệm thanh toán hối phiếu không thực hiện nghĩa vụ thanh toán, trong trường hợp người giữ hối phiếu tiếp theo đã thông báo về việc không thực hiện đó. Trong trường hợp hối phiếu được chuyển nhượng không có quyền truy đòi, người chuyển nhượng không chịu trách nhiệm, và vì vậy, người giữ hối phiếu tiếp theo phải chịu thiệt hại. Vấn đề khác là hối phiếu có thể là hối phiếu trả ngay hoặc hối phiếu kì hạn. Hối phiếu trả ngay phải được thanh toán ngay khi xuất trình. Hối phiếu kì hạn phải được thanh toán dựa vào việc xuất trình hối phiếu, khi hối phiếu đến kì thanh toán (ví dụ, 90 ngày) sau khi kí. Hối phiếu kì hạn có thể được bán lấy tiền mặt, tuy nhiên, chắc chắn rằng giá trị của chúng (hối suất trả ngay) có thể thấp hơn mệnh giá của hối phiếu (do tiền hoa hồng hoặc tiền lãi).
3. Chức năng của chứng từ vận tải
Sau khi giao hàng, người bán sẽ nhận được chứng từ vận tải, thông thường bao gồm vận đơn hoặc các chứng từ sở hữu khác. Một chứng từ sở hữu sẽ có giá trị chuyển quyền chiếm hữu hợp pháp đối với hàng hoá. Ví dụ, theo tập quán của các thương nhân, vận đơn được thừa nhận như một chứng từ sở hữu. Chỉ người giữ chứng từ sở hữu mới có thể nhận hàng hoá vận tải ở nơi đến. Vì vậy, vận đơn có thể được chuyển nhượng để người giữ vận đơn bán lại hàng hoá hoặc dùng hàng hoá thế chấp với ngân hàng nhằm mục đích tăng tiền bảo đảm. Tóm lại, chứng từ vận tải trao cho người mua quyền nhận hàng hoá tại cảng đến.
4.Hoạt động của hối phiếu kèm chứng từ
Các bên của hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế có thể thoả thuận thực hiện thanh toán qua hối phiếu kèm chứng từ. Người bán sẽ gửi một hối phiếu kèm chứng từ cho người mua để bảo đảm rằng người mua không nhận vận đơn, chứng từ cho phép người mua có quyền chuyển nhượng hàng hoá mà không chấp nhận hay thanh toán hối phiếu như thoả thuận trước đó giữa các bên. Nếu người mua không chấp nhận hoặc không thanh toán hối phiếu (phụ thuộc vào việc hối phiếu trả ngay hay hối phiếu kì hạn), thì người mua chắc chắn sẽ hoàn trả hối phiếu cho người bán, và nếu người mua chiếm giữ vận đơn bất hợp pháp, thì quyền sở hữu hàng hoá sẽ không chuyển sang cho người mua. Thuận lợi của người bán là khi hối phiếu được người mua chấp nhận, người bán có thể nhận được tiền trước khi đến kì hạn của hối phiếu, bằng việc bán cho một ngân hàng với giá thấp hơn. Đối với người mua, người mua được hoãn việc thanh toán cho đến khi hối phiếu hết kì hạn. Tuy nhiên, với hối phiếu kèm chứng từ, khó khăn chính đối với người bán là người mua có thể không thực hiện nghĩa vụ thanh toán hối phiếu. Trong trường hợp đó, bên được người bán giảm giá hối phiếu có thể truy đòi người bán. Trong trường hợp người mua không thực hiện nghĩa vụ thanh toán, có thể phát sinh vấn đề là người mua có thể tiến hành bán hàng hoá mà người mua có vận đơn - một chứng từ sở hữu. Đây là hành vi bất hợp pháp hay còn gọi là hành vi gian lận của người mua khi quyền sở hữu hàng hoá chưa thực sự chuyển giao cho người mua, bởi vì họ chưa chấp nhận hay thanh toán hối phiếu. Để tránh rủi ro do sự gian lận của người mua mà không thực hiện nghĩa vụ thanh toán hối phiếu, người bán sẽ nghĩ đến việc nhờ thu qua ngân hàng. Ngân hàng của người bán (ngân hàng nhờ thu) có thể gửi đi hối phiếu và chứng từ vận tải cho ngân hàng đại lí của mình (ngân hàng thu hộ) tại nước người mua với mệnh lệnh không tách rời các chứng từ, trừ khi người mua chấp nhận hoặc thanh toán hối phiếu. Ngân hàng thu hộ sẽ xuất trình bộ chứng từ cho người mua, yêu cầu họ chấp nhận hoặc thanh toán hối phiếu. Mối quan hệ giữa người bán và ngân hàng trả tiền, người trả tiền và ngân hàng nhờ thu thường được điều chỉnh bởi Bộ quy tắc nhờ thu của ICC (bản mới nhất là URC 522 xuất bản năm 1995), thường được biết dưới tên gọi Bộ quy tắc thống nhất về nhờ thu hoặc URC. Thực tế, trong trường hợp này, đã có sự kết hợp của hai phương thức thanh toán trong thương mại quốc tế, đó là hối phiếu kèm chứng từ và nhờ thu; nói cách khác, đó là phương thức nhờ thu với sự hỗ trợ của chứng từ (nhờ thu kèm chứng từ).
5.Đặc điểm của hối phiếu
Để xác định một chứng nhận vay nợ ngắn hạn có phải là hối phiếu hay không, chúng ta cần xác định thông qua các đặc điểm nổi bật sau của hối phiếu:
- Tính bắt buộc
Người phát hành hối phiếu có nghĩa vụ bắt buộc phải thanh toán khoản nợ cho người hưởng hối phiếu ngay khi đến hạn hoặc nhận được hối phiếu đòi nợ. Đây là đặc điểm quan trọng nhất của hối phiếu. Theo quy định, người phát hành hối phiếu không được từ chối thanh toán nợ với bất kỳ lý do nào.
- Tính trừu tượng
Các thông tin được biểu đạt trên tờ hối phiếu chỉ thể hiện khoản tiền vay và nội dung liên quan đến việc thanh toán khoản nợ (kỳ hạn trả nợ, người trả tiền hối phiếu, người ký phát hối phiếu,…). Ngoài ra, hối phiếu không ghi rõ mục đích của việc vay vốn, sinh ra tờ hối phiếu này.
- Tính lưu thông
Bản chất của hối phiếu là một loại giấy đòi nợ. Chính vì vậy, so với nhiều loại giấy chứng nhận vay nợ, hối phiếu có thể được chuyển nhượng từ người này sang người khác trong suốt thời hạn có giá trị của hối phiếu.
Các bên tham gia hối phiếu
Để phát hành hối phiếu trong một hoạt động kinh doanh, thương mại, đặc biệt là thương mại quốc tế, cần có rất nhiều các bên cùng tham gia, cụ thể:
Drawer – người ký phát hối phiếu: Người nhận tiền. Đây có thể là người xuất khẩu, các bên cung ứng dịch vụ, người bán,…
Drawee – người bị ký phát: Người trả tiền. Là người nhập khẩu hàng hóa.
Beneficiary – người hưởng lợi: Là người được nhận khoản tiền thanh toán.
Acceptor – người chấp nhận: khi drawee chấp nhận thì acceptor có trách nhiệm thanh toán hối phiếu đó khi tới hạn.
Endorser – người chuyển nhượng: người có khả năng chuyển quyền hưởng lợi từ hối phiếu sang cho người khác bằng thủ tục ký hậu hoặc trao tay
Holder or Bearer – người cầm phiếu: người có quyền nhận hối phiếu khi hối phiếu được thanh toán.
Luật Minh Khuê (sưu tầm và biên tập)