1. Hỏi về hoàn thuế thu nhập cá nhân (TNCN) đối với hợp đồng thử việc ?

Chào luật sư, hiện em đang thử việc mới mức lương 80% lương chính thức 9tr. Vì thử việc hđlđ dưới 3 tháng nên cty trừ lại lương của e 10%. Sau này lương chính thức của e cũng sẽ bị trừ theo quy định. Sau này em có lấy lại được số tiền thuế đã đóng không ? vì mức lương của em vừa đủ 9 triệu đồng ?
Em nhờ luật sư tư vấn. Em cảm ơn.
Người gửi : Jun Huynh

Trả lời:

Theo điều 28 của Bộ luật lao động năm 2012 quy định về tiền lương trong thời gian thử việc như sau :

Điều 28. Tiền lương trong thời gian thử việc

Tiền lương của người lao động trong thời gian thử việc do hai bên thoả thuận nhưng ít nhất phải bằng 85% mức lương của công việc đó.

Như vậy, trước tiên là mức lương trong thời gian thử việc của bạn 80% lương chính thức là không đúng quy định của pháp luật hiện hành bạn cần trao đổi để được nhận mức lương thử việc đúng quy định để đảm bảo quyền lợi bản thân.

Theo điểm i khoản 1 điều 25 Thông tư số 111/2013/TT - BTC của Bộ Tài chính : Hướng dẫn thực hiện Luật Thuế thu nhập cá nhân, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế thu nhập cá nhân và Nghị định số 65/2013/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Thuế thu nhập cá nhân và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế thu nhập cá nhân quy định về khấu trừ thuế thu nhập cá nhân như sau:

i) Khấu trừ thuế đối với một số trường hợp khác

Các tổ chức, cá nhân trả tiền công, tiền thù lao, tiền chi khác cho cá nhân cư trú không ký hợp đồng lao động (theo hướng dẫn tại điểm c, d, khoản 2, Điều 2 Thông tư này) hoặc ký hợp đồng lao động dưới ba (03) tháng có tổng mức trả thu nhập từ hai triệu (2.000.000) đồng/lần trở lên thì phải khấu trừ thuế theo mức 10% trên thu nhập trước khi trả cho cá nhân.

Trường hợp cá nhân chỉ có duy nhất thu nhập thuộc đối tượng phải khấu trừ thuế theo tỷ lệ nêu trên nhưng ước tính tổng mức thu nhập chịu thuế của cá nhân sau khi trừ gia cảnh chưa đến mức phải nộp thuế thì cá nhân có thu nhập làm cam kết (theo mẫu ban hành kèm theo văn bản hướng dẫn về quản lý thuế) gửi tổ chức trả thu nhập để tổ chức trả thu nhập làm căn cứ tạm thời chưa khấu trừ thuế thu nhập cá nhân.

Căn cứ vào cam kết của người nhận thu nhập, tổ chức trả thu nhập không khấu trừ thuế. Kết thúc năm tính thuế, tổ chức trả thu nhập vẫn phải tổng hợp danh sách và thu nhập của những cá nhân chưa đến mức khấu trừ thuế (vào mẫu ban hành kèm theo văn bản hướng dẫn về quản lý thuế) và nộp cho cơ quan thuế. Cá nhân làm cam kết phải chịu trách nhiệm về bản cam kết của mình, trường hợp phát hiện có sự gian lận sẽ bị xử lý theo quy định của Luật quản lý thuế.

Cá nhân làm cam kết theo hướng dẫn tại điểm này phải đăng ký thuế và có mã số thuế tại thời điểm cam kết.

Như vậy, việc công ty tạm thu 10% tiền thuế thu nhạp cá nhân của bạn như vậy là đúng theo quy định của pháp luật.

Ngoài ra theo điểm a, b khoản 1 điều 9 của Thông tư số 111/2013/TT-BTC quy định về mức giảm trừ gia cảnh cho cá nhân cư trú như sau :

1. Giảm trừ gia cảnh

Theo quy định tại Điều 19 Luật Thuế thu nhập cá nhân; khoản 4, Điều 1 Luật thuế thu nhập cá nhân được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 2 thông qua ngày 21 tháng 11 năm 2007 ; Điều 12 Nghị định số 65/2013/NĐ-CP, việc giảm trừ gia cảnh được thực hiện như sau:

a) Giảm trừ gia cảnh là số tiền được trừ vào thu nhập chịu thuế trước khi tính thuế đối với thu nhập từ kinh doanh, thu nhập từ tiền lương, tiền công của người nộp thuế là cá nhân cư trú.

Trường hợp cá nhân cư trú vừa có thu nhập từ kinh doanh, vừa có thu nhập từ tiền lương, tiền công thì tính giảm trừ gia cảnh một lần vào tổng thu nhập từ kinh doanh và từ tiền lương, tiền công.

b) Mức giảm trừ gia cảnh

b.1) Đối với người nộp thuế là 9 triệu đồng/tháng, 108 triệu đồng/năm.

b.2) Đối với mỗi người phụ thuộc là 3,6 triệu đồng/tháng.

Như vậy, sau khi quyết toán hết năm mà tổng thu nhập của bạn dưới 108 triệu đồng/năm. Căn cứ theo mức thu nhập hiện tại của bạn là khoảng 9 triệu đồng/tháng thì bạn sẽ chưa phải đóng thuế thu nhập cá nhân.

Do vậy, cuối năm khi thực hiện quyết toán thuế thu nhập cá nhân thì số tiền thuế bạn đã tạm nộp trong năm sẽ được hoàn lại.

Bạn có thể tham khảo thêm bài viết dưới đây để làm thủ tục hoàn thuế để nhận lại số tiền thuế đã tạm nộp : Hồ sơ hoàn thuế thu nhập cá nhân ?

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ Luật sư tư vấn pháp luật thuế trực tuyến qua tổng đài điện thoại, gọi số: 1900.6162 để được giải đáp. Trân trọng./.

2. Có phải bồi thường khi chấm dứt hợp đồng lao động thử việc ?

Kính gửi Luật Sư Em tên Trần Thị H. T. Xin luật sư tư vấn cho em, vì em không rành về hợp đồng lao động thử việc. Em nhận thử việc tại 1 Công Ty thời trang với chức vụ Quản Lý, tuy em chỉ tốt nghiệp phổ thông trung học nhưng với kinh nghiệm 5 năm em vẫn được nhận làm. Em ký hợp đồng thử việc từ ngày 30/11/2015 đến 29/01/2016.
Trong hợp đồng có bảng mô tả công việc nếu thất thoát hàng hoá sẽ đền 50% giá trị sản phẩm, đính kèm bản hợp đồng. Ngày cuối cùng hết hợp đồng là 29 tức là thứ 6 ngày cuối tuần, trước đó em vẫn không nhận được bảng đánh giá hay gia hạn và do giờ làm việc quá nhiều. Em kí hợp đồng là 8 tiếng/ 1 ngày, 6 ngày/ 1 tuần, tuy nhiên em làm thực tế là 10 đến 14 tiếng/1 ngày. Cấp trên đều biết nhưng không chấm công với lý do là chức vụ Quản Lý không được chấm công thêm giờ, và không có người quản lý trực tiếp, do công ty chính ở Sài Gòn, em ở Cần Thơ, chỉ có 1 người kế toán, chị ta không biết gì về quản lý nên không chỉ dẫn và giúp đỡ em. Sau 2 tháng thử việc, em không đồng ý với giờ làm việc và cách làm việc, nên thứ 2 đầu tuần, tức ngày 01/02/2016, em xin nghỉ việc, và do gần tết em báo trước và hỗ trợ cho công ty thêm 1 tuần, yêu cầu công ty xuống bàn giao. Nhưng công ty không chịu, nói là không kịp tuyển quản lý, tuy nhiên ngày 05/02/2016, em biết tin đã có quản lý mới, đang thực tập tại Cửa Hàng gần đó (ở Cần Thơ có 3 Cửa Hàng), nhưng vẫn không chịu qua bàn giao, và yêu cầu làm làm tới ngày 15/02/2016, để kịp công ty nghỉ tết, mới làm việc được. Ngày 16/02/2016, công ty kiểm hàng tuy nhiên không có mặt em, và kiểm ra thất thoát hàng hoá gần mười mấy triệu, yêu cầu em bồi thường.

Tuy nhiên em thấy không hợp lý. Vì:

Thứ nhất khi em nhận cửa hàng trong thời gian thử việc, người kiểm tra hàng hoá là người của Công ty.

Thứ hai, khi bắt đầu làm việc, công ty biết có nhân viên bán hàng gian dối trong kinh doanh nhưng không đuổi, để ở lại gần cả tháng, sau khi đuổi cũng không cho người kiểm tra hàng hoá, em là người mới, nhưng cũng không ở lại Cửa Hàng suốt. Khoảng thời gian đó không biết có gì xảy ra.

Thứ ba, không ai chỉ em biết cách kiểm hàng, tự mình em làm, dù hàng hoá lên tới hơn 9 nghìn sản phẩm. Vậy luật sư cho em hỏi, em không còn hợp đồng, vậy em có cần bồi thường thiệt hại vật chất cho công ty không?

Mong luật sư tư vấn, em xin cảm ơn!

>> Luật sư lao động trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đến Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn chúng tôi xin trả lời như sau:

Điều 29 Bộ luật lao động số 10/2012/QH13 quy định về Kết thúc thời gian thử việc như sau:

"1. Khi việc làm thử đạt yêu cầu thì người sử dụng lao động phải giao kết hợp đồng lao động với người lao động.

2. Trong thời gian thử việc, mỗi bên có quyền huỷ bỏ thoả thuận thử việc mà không cần báo trước và không phải bồi thường nếu việc làm thử không đạt yêu cầu mà hai bên đã thoả thuận.".

Như vậy trong thời gian thử việc từ ngày 30/11/2015 đến 29/01/2016 hai bên hoàn toàn có quyền hủy bỏ thỏa thuận thử việc mà không cần báo trước và không phải bồi thường.

Tuy nhiên, nếu đã quá ngày 29/1/2016 mà công ty vẫn giao việc cho bạn và bạn vẫn làm tức là hợp đồng lao động giữa bạn và công ty được giao kết. Công ty không giao kết hợp đồng lao động chính thức với bạn là đang làm trái quy định của pháp luật.

Bên cạnh đó, do hợp đồng lao động đương nhiên được xác lập cho nên khi bạn muốn chấm dứt hợp đồng lao động thì bạn cần tuân thủ đầy đủ các quy định của pháp luật về đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo điều 37 Bộ luật lao động năm 2012:

"Điều 37. Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động

1. Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn, hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trước thời hạn trong những trường hợp sau đây:

a) Không được bố trí theo đúng công việc, địa điểm làm việc hoặc không được bảo đảm điều kiện làm việc đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động;

b) Không được trả lương đầy đủ hoặc trả lương không đúng thời hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động;

c) Bị ngược đãi, quấy rối tình dục, cưỡng bức lao động;

d) Bản thân hoặc gia đình có hoàn cảnh khó khăn không thể tiếp tục thực hiện hợp đồng lao động;

đ) Được bầu làm nhiệm vụ chuyên trách ở cơ quan dân cử hoặc được bổ nhiệm giữ chức vụ trong bộ máy nhà nước;

e) Lao động nữ mang thai phải nghỉ việc theo chỉ định của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền;

g) Người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 90 ngày liên tục đối với người làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn và một phần tư thời hạn hợp đồng đối với người làm việc theo hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa được hồi phục.

2. Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại khoản 1 Điều này, người lao động phải báo cho người sử dụng lao động biết trước:

a) Ít nhất 3 ngày làm việc đối với các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và g khoản 1 Điều này;

b) Ít nhất 30 ngày nếu là hợp đồng lao động xác định thời hạn; ít nhất 03 ngày làm việc nếu là hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng đối với các trường hợp quy định tại điểm d và điểm đ khoản 1 Điều này;

c) Đối với trường hợp quy định tại điểm e khoản 1 Điều này thời hạn báo trước cho người sử dụng lao động được thực hiện theo thời hạn quy định tại Điều 156 của Bộ luật này.

3. Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, nhưng phải báo cho người sử dụng lao động biết trước ít nhất 45 ngày, trừ trường hợp quy định tại Điều 156 của Bộ luật này.".

Nếu bạn không chấm dứt hợp đồng lao động theo đúng quy định tại điều 37 tức là đang chấm dứt hợp đồng lao động trái luật. Với việc chấm dứt hợp đồng lao động trái luật thì bạn phải chịu trách nhiệm theo quy định tại điều 43 Bộ luật lao động năm 2012.

Về việc bồi thường thiệt hại vật chất cho công ty: theo điều 130, điều 131 Bộ luật lao động năm 2012 quy định:

"Điều 130. Bồi thường thiệt hại

1. Người lao động làm hư hỏng dụng cụ, thiết bị hoặc có hành vi khác gây thiệt hại tài sản của người sử dụng lao động thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.

Trường hợp người lao động gây thiệt hại không nghiêm trọng do sơ suất với giá trị không quá 10 tháng lương tối thiểu vùng do Chính phủ công bố được áp dụng tại nơi người lao động làm việc, thì người lao động phải bồi thường nhiều nhất là 03 tháng tiền lương và bị khấu trừ hằng tháng vào lương theo quy định tại khoản 3 Điều 101 của Bộ luật này.

2. Người lao động làm mất dụng cụ, thiết bị, tài sản của người sử dụng lao động hoặc tài sản khác do người sử dụng lao động giao hoặc tiêu hao vật tư quá định mức cho phép thì phải bồi thường thiệt hại một phần hoặc toàn bộ theo thời giá thị trường; trường hợp có hợp đồng trách nhiệm thì phải bồi thường theo hợp đồng trách nhiệm; trường hợp do thiên tai, hoả hoạn, địch họa, dịch bệnh, thảm họa, sự kiện xảy ra khách quan không thể lường trước được và không thể khắc phục được mặc dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép thì không phải bồi thường.

Điều 131. Nguyên tắc và trình tự, thủ tục xử lý bồi thường thiệt hại

1. Việc xem xét, quyết định mức bồi thường thiệt hại phải căn cứ vào lỗi, mức độ thiệt hại thực tế và hoàn cảnh thực tế gia đình, nhân thân và tài sản của người lao động.

2. Trình tự, thủ tục, thời hiệu xử lý việc bồi thường thiệt hại được áp dụng theo quy định tại Điều 123 và Điều 124 của Bộ luật này.

Đương nhiên, khi công ty yêu cầu bạn bồi thường thiệt hại thì công ty có nghĩa vụ chứng minh lỗi của bạn và mức độ thiệt hại thực tế của công ty, hoàn cảnh thực tế gia đình, thân nhân và tài sản của bạn. Nếu công ty không chứng minh được lỗi của bạn thì bạn không có trách nhiệm phải bồi thường.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật lao động bảo hiểm qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác!

3. Thử việc một ngày có được trả lương ?

Thưa luật sư, Mong luật sư tư vấn giúp: Mình có đi làm cho công ty ở Vũng Tàu. Ngày đầu tiên thử việc vì mình không có hồ sơ đầy đủ nên công ty này không viết "Giấy nhận thử việc" cho mình. Làm 1 ngày mình cảm thấy không phù hợp vì công ty này lời lẽ không nhất quán nên mình hỏi thẳng luôn nếu mình nghỉ trong thời gian thử việc thì họ bảo không trả lương luôn dù có báo trước hay không. Thế là hôm đó hết giờ làm đúng 17h30 mình đi về có kế toán, nhân viên và 1,2 vị quản lý ở đó chứng kiến.
Tối mình gọi cho người quản lý, cũng là người đã phỏng vấn mình là mình xin nghỉ luôn vì không hợp, ông này đồng ý và bảo sẽ thanh toán lương 1 ngày công cho mình. Hôm sau mình đến hỏi tiền lương thì kế toán bảo vì mình không nộp bộ hồ sơ xin việc (bao gồm bằng cấp, CMND, Đơn xin việc, SYLL có công chứng) nên không chi lương được. Gọi điện cho ông quản lý tên Trung, người hứa sẽ trả công cho mình thì ông ta để điện thoại chế độ từ chối tất cả các cuộc gọi đến. Lí do mình nghỉ công ty này chỉ sau 1 ngày làm việc mà không ráng làm hết cả tháng sau đó nghỉ (ít ra còn có lương) là gì?
Về nhà tìm hiểu thì lương thử việc theo quy định của Luật lao động là bằng 85% lương chinh thức, nhưng họ chỉ trả 70%. Sự việc cứ nghĩ là qua luôn nhưng hơn 1 tháng sau mình lại bị công ty này làm phiền, mới sáng sớm họ cho người giả làm người học Anh văn gọi hỏi địa chỉ nhà mình sau đó mình nhận được 1 cuộc gọi mà mình không nghe rõ. Sau đó là 1 loạt tin nhắn gửi đến máy mình mà mình không đọc hết được vì máy mình là máy đời cũ, toàn là "some missing text" nhưng đại loại là bà giám đốc muốn đối thoại gì đó (trước đó là gì mà có luật sư, công an và sẽ tìm đến nhà v.v) với mình. Nghĩ là người tên Trung phàn nàn vì mình gọi vụ lương, mình bảo là mình chỉ cần công ty thanh toán tiền lương 1 ngày thôi, không ngờ bà này kêu mình vu khống, tống tiền! Mình chẳng hiểu mình vu khống gì, còn ngày làm việc hôm đó bà này nói là hôm đó chỉ là buổi phỏng vấn, em không làm bài test, đùng đùng bỏ về, ...
Nếu mà có ra tòa thật, mình sẽ yêu cầu nhà mạng cung cấp ghi âm cuộc gọi mà bà ta đã gọi kêu mình đi làm cũng như cuộc gọi ông Trung kia hứa sẽ thanh toán tiền cho mình trong trường hợp cả công ty bị bà ta mớm lời và khu chung cư đó không có camera ghi lại ngày giờ mình đến làm việc hôm đó. Theo luật sư, mình có quyền đòi tiền công 1 ngày làm việc trong trường hợp này không? Nếu mình tiếp tục bị công ty kia làm phiền và bảo mình vu khống, tống tiền và tìm đến nhà lăng mạ hoặc mời công an đến làm việc thì công an cần có những thông tin gì để tin lời họ và mời mình lên đồn làm việc? Xin cám ơn.

Thử việc một ngày có được trả lương ?

Luật sư tư vấn luật lao động trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Bộ luật lao động số 10/2012/QH13 quy định:

Điều 28. Tiền lương trong thời gian thử việc

Tiền lương của người lao động trong thời gian thử việc do hai bên thoả thuận nhưng ít nhất phải bằng 85% mức lương của công việc đó.

Điều 29. Kết thúc thời gian thử việc

1. Khi việc làm thử đạt yêu cầu thì người sử dụng lao động phải giao kết hợp đồng lao động với người lao động.

2. Trong thời gian thử việc, mỗi bên có quyền huỷ bỏ thoả thuận thử việc mà không cần báo trước và không phải bồi thường nếu việc làm thử không đạt yêu cầu mà hai bên đã thoả thuận.

Hiện tại pháp luật chưa quy định cụ thể khi làm thử việc một ngày mà nghỉ thì có được nhận lương hay không. Nhưng theo quy định về tiền lương trong thời gian thử việc và quy định người lao động có thể nghỉ việc bất cứ khi nào trong thời gian thử việc nếu thấy không đạt yêu cầu, công việc không như thỏa thuận thì có thể nghỉ mà không cần báo trước. Do vậy, bạn vẫn có thể được nhận tiền lương của 1 ngày công đó.

Nếu trong trường hợp bạn tiếp tục bị công ty kia làm phiền, bị nói vu khống, tống tiền và tìm đến nhà lăng mạ hoặc mời công an đến làm việc thì:

Khi công an nhận được tin báo của bên công ty kia sẽ phải tiến hành điều tra, thu thập chứng cứ, dựa vào lời khai của đương sự, những tài liệu đọc được, thu thập được, các vật chứng, lời khai của người làm chứng,... để xác minh xem có dấu hiệu tội phạm không thì mới quyết định khởi tố vụ án. Nếu bạn không làm gì trái pháp luật thì không cần phải lo lắng khi bị công an mời đến giải quyết, ngược lại bạn có thể tố cáo ngược lại người bên công ty về tội vu khống theo Điều 122 Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung 2009 (Bộ luật hình sự số 37/2009/QH12 sửa đổi, bổ sung một số điều của Quốc hội):

1. Người nào bịa đặt, loan truyền những điều biết rõ là bịa đặt nhằm xúc phạm danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác hoặc bịa đặt là người khác phạm tội và tố cáo họ trước cơ quan có thẩm quyền, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ một năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

c) Đối với nhiều người;

d) Đối với ông, bà, cha, mẹ, người dạy dỗ, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh cho mình;

đ) Đối với người thi hành công vụ;

e) Vu khống người khác phạm tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ một triệu đồng đến mười triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Việc điều tra, thu thập chứng cứ để kết luận có dấu hiệu tội phạm sẽ phụ thuộc vào cơ quan chức năng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác!

4. Có được đền bù khi bị cho nghỉ việc trước 2 tháng thử việc ?

Xin chào Luật Minh Khuê! Em có vấn đề sau cần tư vấn giúp! Em bị công ty cho nghỉ trước thời hạn 02 tháng thử việc thì em sẽ được thanh toán lương như thế nào?
Công ty chỉ thanh toán đúng số ngày công em đã làm trong thời gian thử việc trước khi bị cho nghỉ? (Lương làm việc đến 19/12/2015: 5.000.000/25*15.5=3.100.000) 2. Công ty sẽ thanh toán tất cả ngày công đã làm thực tế + ngày công còn lại để đủ 02 tháng thử việc? (có nghĩa là công ty thanh toán đủ lương tháng 12 + lương tháng 01/2016 tính đến ngày 24/1/2016 là: 5.000.0000 + (5.000.000/23.5*18) = 8.829.000)
Thông tin chi tiết như sau: Thời gian thử việc: Từ 25/11/2015 đến 24/01/2016 Ngày cho nghỉ việc: kể từ 21/12/2015 Thời gian còn lại: 35 ngày Lương thử việc: 5.000.000/ tháng Đã thanh toán đủ và đúng lương tháng 11: 5.000.000/23*4.5=978.000 (Thứ 7 làm 1/2 ngày) Hồ sơ đã ký: Biên bản thỏa thuận (nghỉ việc từ 21/12/2015), công ty còn yêu cầu em viết Đơn xin thôi việc và Biên bản bàn giao công việc. Em cho rằng viết Đơn xin thôi việc là không hợp lý vì cty cho nghỉ chứ người lao động không xin nghỉ.
Vậy công ty yêu cầu viết Đơn xin thôi việc là đúng hay sai?
Trong trường hợp của em theo Luật lao động sẽ được thanh toán lương như thế nào?
Trân trọng cảm ơn !

>> Luật sư tư vấn luật lao động trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Bộ luật lao động 2012 có quy định về thử việc với những nội dung sau đây:

"Điều 26. Thử việc

1. Người sử dụng lao động và người lao động có thể thoả thuận về việc làm thử, quyền, nghĩa vụ của hai bên trong thời gian thử việc. Nếu có thoả thuận về việc làm thử thì các bên có thể giao kết hợp đồng thử việc.

Nội dung của hợp đồng thử việc gồm các nội dung quy định tại các điểm a, b, c, d, đ, g và h khoản 1 Điều 23 của Bộ luật này.

2. Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động mùa vụ thì không phải thử việc.

Điều 27. Thời gian thử việc

Thời gian thử việc căn cứ vào tính chất và mức độ phức tạp của công việc nhưng chỉ được thử việc 01 lần đối với một công việc và bảo đảm các điều kiện sau đây:

1. Không quá 60 ngày đối với công việc có chức danh nghề cần trình độ chuyên môn, kỹ thuật từ cao đẳng trở lên;

2. Không quá 30 ngày đối với công việc có chức danh nghề cần trình độ chuyên môn kỹ thuật trung cấp nghề, trung cấp chuyên nghiệp, công nhân kỹ thuật, nhân viên nghiệp vụ.

3. Không quá 6 ngày làm việc đối với công việc khác.

Điều 28. Tiền lương trong thời gian thử việc

Tiền lương của người lao động trong thời gian thử việc do hai bên thoả thuận nhưng ít nhất phải bằng 85% mức lương của công việc đó.

Điều 29. Kết thúc thời gian thử việc

1. Khi việc làm thử đạt yêu cầu thì người sử dụng lao động phải giao kết hợp đồng lao động với người lao động.

2. Trong thời gian thử việc, mỗi bên có quyền huỷ bỏ thoả thuận thử việc mà không cần báo trước và không phải bồi thường nếu việc làm thử không đạt yêu cầu mà hai bên đã thoả thuận".

Theo quy định trên, thì công ty có quyền hủy bỏ thỏa thuận thử việc với bạn mà không cần báo trước và không phải bồi thường nếu việc làm thử không đạt yêu cầu mà hai bên đã thỏa thuận. Vậy bạn bị công ty cho nghỉ việc trước thời gian nghỉ việc có hợp lệ hay không phải dựa vào công việc bạn làm có đạt yêu cầu hay không. Để biết công việc đã thực hiện có đạt yêu cầu thì Điều 7 nghị định số 05/2015/NĐ-CP hướng dẫn về thông báo kết quả thử việc như sau:

"Điều 7. Thông báo kết quả về việc làm thử

1. Trong thời hạn 03 ngày trước khi kết thúc thời gian thử việc đối với người lao động làm công việc có thời gian thử việc quy định tại Khoản 1 và 2 Điều 27 của Bộ luật Lao động, người sử dụng lao động phải thông báo cho người lao động kết quả công việc người lao động đã làm thử; trường hợp công việc làm thử đạt yêu cầu thì khi kết thúc thời gian thử việc, người sử dụng lao động phải giao kết ngay hợp đồng lao động với người lao động.

2. Khi kết thúc thời gian thử việc đối với người lao động làm công việc có thời gian thử việc quy định tại Khoản 3 Điều 27 của Bộ luật Lao động, người sử dụng lao động phải thông báo cho người lao động kết quả công việc người lao động đã làm thử; trường hợp công việc làm thử đạt yêu cầu thì người sử dụng lao động phải giao kết ngay hợp đồng lao động với người lao động".

Như vậy, công ty có nghĩa vụ phải thông báo kết quả công việc bạn đã làm thử trong thời hạn 3 ngày trước đưa ra quyết định về kết thúc thời gian thử việc cho bạn. Nếu không thông báo kết quả rằng bạn làm thử không đạt yêu cầu và cho bạn nghỉ việc làm thử cũng là vi phạm pháp luật. Việc xử phạt về vi phạm thử việc quy định tại Điều 6 nghị định 88/2015/NĐ-CP như sau:

“Điều 6. Vi phạm quy định về thử việc

1. Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với người sử dụng lao động khi có một trong các hành vi sau đây:

a) Yêu cầu thử việc đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động theo mùa vụ;

b) Không thông báo kết quả công việc người lao động đã làm thử theo quy định của pháp luật.

2. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến5.000.000 đồng đối với người sử dụng lao động có một trong các hành vi sau đây:

a) Yêu cầu người lao động thử việc quá 01 lần đối với một công việc;

b) Thử việc quá thời gian quy định;

c) Trả lương cho người lao động trongthời gian thử việc thấp hơn 85% mức lương của công việc đó;

d) Kết thúc thời gian thử việc, người lao động vẫn tiếp tục làm việc mà người sử dụng lao động không giao kết hợp đồng lao động với người lao động.

3. Biện pháp khắc phục hậu quả:

Buộc trả đủ 100% tiền lương của công việc đó cho người lao động đối với hành vi vi phạm quy định tại Điểm a Khoản 1,Điểm a, Điểm b và Điểm c Khoản 2 Điều này.”

Nếu công ty cho bạn nghỉ việc mà không thông báo kết quả công việc bạn đã làm thử thì sẽ bị phạt cảnh cáo 500.000 tới 1.000.000 đồng.

Công ty yêu cầu bạn tự viết đơn xin nghỉ việc là sai, vì việc giao kết hợp đồng thử việc là do thỏa thuận, và việc thực hiện hợp đồng là quyền và nghĩa vụ của bạn, nếu bạn không muốn thì công ty không thể ép bạn viết đơn xin nghỉ, mà chỉ có thể ra quyết định hủy bỏ thỏa thuận thử việc với bạn nếu bạn không đạt yêu cầu.

Bạn có thể dựa vào những thông tin chúng tôi cung cấp để xem xét công ty có vi phạm pháp luật về việc cho bạn nghỉ việc trong thời gian thử việc không. Nếu có vi phạm, bạn có thể khiếu kiện ra tòa án nhân dân cấp huyện nơi công ty có trụ sở.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật lao động bảo hiểm qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác!

5. Có phải đóng bảo hiểm xã hội cho người lao động đang trong thời gian thử việc không ?

Kính thưa Luật sư, em có một số câu hỏi về luật lao động như sau. Em ký hợp đồng với Công ty vào ngày 10/10/2016 với thời gian thử việc 2 tháng (hưởng 80% mức lương chính thức) và đến 12/12/2016 thì em được hưởng 100% lương chính thức.
Tuy nhiên cho đến nay 19/03/2017 em vẫn chưa được đóng bảo hiểm. Em muốn hỏi là thử việc với mức lương 80% lương chính thức và đến thời điểm hiện tại em vẫn chưa được đóng bảo hiểm thì công ty có vi phạm quy định của luật lao động hay không? Mức xử lý như thế nào? Em ký hợp đồng với công ty là 2 năm tuy nhiên làm được 5 tháng thì em đơn phương nghỉ việc, nộp đơn nghỉ việc trước 1 tuần rồi em nghỉ và chuyển sang làm việc tại một công ty khác. Như vậy thì em đã vi phạm quy định của luật lao động và mức xử phạt vi phạm của em là như thế nào?
Mong luật sư giải đáp giúp em ạ!

Luật sư tư vấn:

Khoản 1 điều 2 Luật Bảo hiểm xã hội 2014 quy định các đối tượng bắt buộc tham gia bảo hiểm xã hội gồm:

a) Người làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, hợp đồng lao động xác định thời hạn, hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn từ đủ 03 tháng đến dưới 12 tháng, kể cả hợp đồng lao động được ký kết giữa người sử dụng lao động với người đại diện theo pháp luật của người dưới 15 tuổi theo quy định của pháp luật về lao động;

b) Người làm việc theo hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ 01 tháng đến dưới 03 tháng;

c) Cán bộ, công chức, viên chức;

d) Công nhân quốc phòng, công nhân công an, người làm công tác khác trong tổ chức cơ yếu;

đ) Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp quân đội nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ, sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn kỹ thuật công an nhân dân; người làm công tác cơ yếu hưởng lương như đối với quân nhân;

e) Hạ sĩ quan, chiến sĩ quân đội nhân dân; hạ sĩ quan, chiến sĩ công an nhân dân phục vụ có thời hạn; học viên quân đội, công an, cơ yếu đang theo học được hưởng sinh hoạt phí;

g) Người đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng quy định tại Luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng;

h) Người quản lý doanh nghiệp, người quản lý điều hành hợp tác xã có hưởng tiền lương;

i) Người hoạt động không chuyên trách ở xã, phường, thị trấn.

Như vậy, theo thông tin bạn cung cấp thì bạn đã là nhân viên chính thức của công ty, được ký kết hợp đồng lao động xác định thời hạn là 2 năm. Do đó, bạn thuộc đối tượng bắt buộc tham gia bảo hiểm xã hội.

Điều 21 Luật bảo hiểm xã hội 2014 quy định về trách nhiệm của người sử dụng lao động như sau:

1. Lập hồ sơ để người lao động được cấp sổ bảo hiểm xã hội, đóng, hưởng bảo hiểm xã hội.

2. Đóng bảo hiểm xã hội theo quy định tại Điều 86 và hằng tháng trích từ tiền lương của người lao động theo quy định tại khoản 1 Điều 85 của Luật này để đóng cùng một lúc vào quỹ bảo hiểm xã hội.

3. Giới thiệu người lao động thuộc đối tượng quy định tại điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 45 và Điều 55 của Luật này đi khám giám định mức suy giảm khả năng lao động tại Hội đồng giám định y khoa.

4. Phối hợp với cơ quan bảo hiểm xã hội trả trợ cấp bảo hiểm xã hội cho người lao động.

5. Phối hợp với cơ quan bảo hiểm xã hội trả sổ bảo hiểm xã hội cho người lao động, xác nhận thời gian đóng bảo hiểm xã hội khi người lao động chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc hoặc thôi việc theo quy định của pháp luật.

6. Cung cấp chính xác, đầy đủ, kịp thời thông tin, tài liệu liên quan đến việc đóng, hưởng bảo hiểm xã hội theo yêu cầu của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền, cơ quan bảo hiểm xã hội.

7. Định kỳ 06 tháng, niêm yết công khai thông tin về việc đóng bảo hiểm xã hội cho người lao động; cung cấp thông tin về việc đóng bảo hiểm xã hội của người lao động khi người lao động hoặc tổ chức công đoàn yêu cầu.

8. Hằng năm, niêm yết công khai thông tin đóng bảo hiểm xã hội của người lao động do cơ quan bảo hiểm xã hội cung cấp theo quy định tại khoản 7 Điều 23 của Luật này.

Như vậy việc bạn đã bắt đầu làm việc chính thức từ 12/12/2016 mà đến 19/3/2017 bạn vẫn chưa được đóng bảo hiểm xã hội là trái quy định của pháp luật. Khi người sử dụng lao động khi trốn đóng, chậm đóng, chiếm dụng tiền đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp từ 30 ngày trở lên thì ngoài việc phải đóng đủ số tiền chưa đóng, chậm đóng và bị xử lý theo quy định của pháp luật, còn phải nộp số tiền lãi bằng 02 lần mức lãi suất đầu tư quỹ bảo hiểm xã hội bình quân của năm trước liền kề tính trên số tiền, thời gian chậm đóng; nếu không thực hiện thì theo yêu cầu của người có thẩm quyền, ngân hàng, tổ chức tín dụng khác, kho bạc nhà nước có trách nhiệm trích từ tài khoản tiền gửi của người sử dụng lao động để nộp số tiền chưa đóng, chậm đóng và lãi của số tiền này vào tài khoản của cơ quan bảo hiểm xã hội ( quy định tại điều 122 Luật Bảo hiểm xã hội 2014)

Khoản 1 điều 37 quy định về quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng của người lao động xác định thời hạn như sau:

Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn, hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trước thời hạn trong những trường hợp sau đây:

a) Không được bố trí theo đúng công việc, địa điểm làm việc hoặc không được bảo đảm điều kiện làm việc đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động;

b) Không được trả lương đầy đủ hoặc trả lương không đúng thời hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động;

c) Bị ngược đãi, quấy rối tình dục, cưỡng bức lao động;

d) Bản thân hoặc gia đình có hoàn cảnh khó khăn không thể tiếp tục thực hiện hợp đồng lao động;

đ) Được bầu làm nhiệm vụ chuyên trách ở cơ quan dân cử hoặc được bổ nhiệm giữ chức vụ trong bộ máy nhà nước;

e) Lao động nữ mang thai phải nghỉ việc theo chỉ định của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền;

g) Người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 90 ngày liên tục đối với người làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn và một phần tư thời hạn hợp đồng đối với người làm việc theo hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa được hồi phục.

Trong trường hợp đơn xin nghỉ việc của bạn có lí do "không được bảo đảm điều kiện làm việc đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động" vì không được đóng bảo hiểm thì bạn cần báo trước ít nhất 3 ngày làm việc với người sử dụng lao động. Ở trường hợp này do bạn đã nộp đơn xin nghỉ trước 1 tuần, nếu đã được phê duyệt đơn thì bạn không vi phạm pháp luật.

Trong trường hợp đơn xin nghỉ việc của bạn có lí do như bản thân hoặc gia đình có hoàn cảnh khó khăn không thể tiếp tục thực hiện hợp đồng lao động thì bạn cần báo trước ít nhất 30 ngày làm việc. Ở trường hợp này việc bạn nghỉ việc ngay sau khi nộp đơn 1 tuần và làm việc tại công ty khác là quy định của pháp luật. Theo quy định tại điều 43 Bộ luật Lao động 2012 thì bạn sẽ:

-Không được trợ cấp thôi việc và phải bồi thường cho người sử dụng lao động nửa tháng tiền lương theo hợp đồng lao động.

-Phải bồi thường cho người sử dụng lao động một khoản tiền tương ứng với tiền lương của người lao động trong những ngày không báo trước.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ 1900.6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Lao động - Công ty luật Minh Khuê