1. Nộp đơn xin ly hôn tại nơi sinh sống được không ?

Thưa Luật sư! Xin luật sư cho tôi hỏi vợ chồng tôi kết hôn năm 2008 tại huyện Krông năng tỉnh Đăk Lăk nhưng đến năm 2010 gia đình chuyển lên tỉnh Gia Lai sinh sống cho đến nay vậy giờ muốn nộp đơn ly hôn nộp ở đâu ạ ?
Tôi chân thành cảm ơn.

>> Luật sư tư vấn pháp luật Hôn nhân về thủ tục ly hôn, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 quy định về thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo lãnh thố như sau:

1. Thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự của Tòa án theo lãnh thổ được xác định như sau:

a) Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc, nếu bị đơn là cá nhân hoặc nơi bị đơn có trụ sở, nếu bị đơn là cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các Điều 26, 28, 30 và 32 của Bộ luật này;

b) Các đương sự có quyền tự thỏa thuận với nhau bằng văn bản yêu cầu Tòa án nơi cư trú, làm việc của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cá nhân hoặc nơi có trụ sở của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cơ quan, tổ chức giải quyết những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các điều 26, 28, 30 và 32 của Bộ luật này;...

2. Thẩm quyền giải quyết việc dân sự của Tòa án theo lãnh thổ được xác định như sau:…

h) Tòa án nơi một trong các bên thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn cư trú, làm việc có thẩm quyền giải quyết yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn;

Như vậy, trước tiên, bạn phải xác định xem trường hợp của vợ chồng bạn là ly hôn đơn phương, hay ly hôn thuận tính. Nếu bạn ly hôn đơn phương thì thẩm quyền giải quyết là Tòa án nhân dân nơi chồng bạn đang cư trú (thường trú hoặc tạm trú) hoặc làm việc nên bạn không nhất thiết phải về nơi có hộ khẩu thường trú để nộp hồ sơ.

Còn nếu hai vợ chồng bạn đồng thuận ly hôn (ly hôn thuận tình) thì theo quy định tại điểm h khoản 2 Điều 39 BLTTDS, bạn có thể lựa chọng nộp đơn tại Tòa án nhân dân nơi một trong hai bên vợ, chồng đang cư trú, làm việc.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi ngay số: 1900.6162 để được giải đáp. Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Xem thêm:  Những rủi ro khi vắng mặt không lý do tại tòa án buổi hòa giải và giải quyết việc ly hôn ?

2. Thủ tục ly hôn khi đang nuôi con nhỏ ?

Chào luật sư, em có yêu cầu sau mong quý luật sư tư vấn giúp em: Em và chồng kết hôn được gần 03 năm hiện tại có 02 con một bé gái 22 tháng tuổi và em đang mang thai được 07 tháng. Nhưng cuộc sống hôn nhân của vợ chồng em không được hạnh phúc. Chồng em đi ngoại tình dù em và gia đình có khuyên bảo nhiều lần nhưng không được. Em muốn được ly hôn và nuôi cả hai con thì có được không?
Mong sớm nhận được tư vấn của luật sư, em xin cảm ơn!

Trả lời:

Căn cứ quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 về ly hôn theo yêu cầu của một bên như sau:

"Điều 56. Ly hôn theo yêu cầu của một bên

1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.

2. Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn.

3. Trong trường hợp có yêu cầu ly hôn theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Luật này thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc chồng, vợ có hành vi bạo lực gia đình làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của người kia."

Như vậy, cuộc sống hôn nhân của vợ chồng bạn không được hạnh phúc. Chồng bạn có đi ngoại tình, mặc dù bạn cũng như gia đình hai bên có khuyên bảo nhiều lần nhưng không được. Lúc này, bạn muốn ly hôn đơn phương thì bạn phải có các bằng chứng để chứng minh chồng bạn có hành vi ngoại tình như: video, hình ảnh, tin nhắn, cuộc gọi hoặc băng ghi âm, ghi hình hoặc có thể có xác nhận của những người làm chứng chứng minh chồng bạn ngoại tình,... Khi có các bằng chứng trên hoặc chính miệng chồng bạn có thừa nhận việc anh ấy ngoại tình thì bạn có thể nộp đơn ly hôn đơn phương cho Tòa án nhân dân cấp quận, huyện, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh nơi chồng bạn đang cư trú (tạm trú hoặc thường trú) hoặc nơi làm việc để yêu cầu Tòa án giải quyết vấn đề ly hôn cho vợ chồng bạn theo quy định tại Điều 29 và Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Bạn cần lưu ý: Khi bạn đang mang thai, sinh con hoặc nuôi con nhỏ dưới 12 tháng tuổi thì chồng bạn không được phép yêu cầu ly hôn. Tức là chồng bạn không được ly hôn đơn phương khi bạn không đồng ý, trừ trường hợp, bạn đồng ý hoặc tự bạn muốn ly hôn đơn phương (căn cứ khoản 3 Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014).

Về việc giành quyền nuôi cả hai con sau khi ly hôn:

Căn cứ Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định như sau:

"Điều 81. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn

1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con."

Trong trường hợp này, bạn đang mang thai tháng thứ 07 và hai vợ chồng bạn có một con chung đang được 22 tháng tuổi. Lúc này, để được quyền giành nuôi cả hai con sau khi ly hôn thì trước hết bạn nên thỏa thuận với chồng bạn để chồng bạn đồng ý cho bạn nuôi cả hai con sau khi ly hôn, đồng thời bạn cần chứng minh được bạn có đủ điều kiện, đủ khả năng để trực tiếp nuôi dưỡng con sau khi ly hôn để Tòa án có căn cứ giao cả hai con cho bạn trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục, chăm sóc sau khi ly hôn.

Ngược lại, nếu chồng bạn cũng muốn giành quyền nuôi con sau khi ly hôn thì đối với cháu bạn đang mang thai được 07 tháng tuổi thì đương nhiên Tòa án sẽ ưu tiên và giao cháu cho bạn trực tiếp nuôi dưỡng. Còn đối với cháu đầu hiện nay đang được 22 tháng tuổi (dưới 36 tháng tuổi) thì bạn cũng sẽ được ưu tiên trực tiếp nuôi dưỡng vì ở độ tuổi này, các con của bạn rất cần sự chăm sóc, nuôi dưỡng từ người mẹ hơn là có sự chăm sóc, nuôi dưỡng từ người cha.

Như vậy, bạn có quyền làm đơn ly hôn đơn phương khi bạn có căn cứ chứng minh được chồng bạn có hành vi ngoại tình hoặc cuộc sống hôn nhân của vợ chồng bạn lâm vào tình trạng trầm trọng, không thể kéo dài được. Bên cạnh đó, bạn cũng có thể giành quyền nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cả hai con khi bạn chứng minh được mình có đủ điều kiện kinh tế, tài chính, công việc ổn định, bạn có đủ thời gian để chăm sóc, giáo dục con.

Trên đây là tư vấn của chúng tôi về yêu cầu của bạn. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại, gọi số: 1900.6162 để được giải đáp.

>> Xem thêm:  Mẫu đơn xin ly hôn bản mới nhất năm 2020

3. Thủ tục ly hôn với người Đài Loan ?

Thưa luật sư, Em và chồng người Đài Loan kết hôn hồi tháng 7 và vài ngày nữa em sẽ có visa đi Đài Loan. Nhưng giờ em không muốn đi nữa. Em thấy em không thể sống chung với chồng và gia đình chồng. Em và họ không hợp nhau. Em chưa đi Đài Loan lần nào. Em có thể không đi nữa được không? Có thể ly hôn được hay không? Và nếu không đi nữa em có phải bồi thường gì cho họ không? Họ có nói nếu em không đi Đài Loan sống họ sẽ thưa kiện em và em sẽ bị tù, có thật như vậy không ạ?
Mong được trả lời sớm! Em rất hoang mang. Cảm ơn luật sư.

Ly hôn khi đang nuôi con nhỏ 22 tháng tuổi và đang mang thai tháng thứ 07?

Luật sư tư vấn pháp luật hôn nhân trực tuyến, gọi: 1900.6162

Luật sư tư vấn:

Căn cứ luật hôn nhân và gia đình 2014: Bạn có quyền yêu cầu xin ly hôn đơn phương khi chứng minh được lý do xin ly hôn.

Khoản 1 Điều 56 Bộ luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định:

"Điều 56. Ly hôn theo yêu cầu của một bên

1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được..."

Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP ngày 23/12/2000 của Hội đồng thẩm phán TAND tối cao có hướng dẫn:

"a.1. Được coi là tình trạng của vợ chồng trầm trọng khi:

- Vợ, chồng không thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau như người nào chỉ biết bổn phận người đó, bỏ mặc người vợ hoặc người chồng muốn sống ra sao thì sống, đã được bà con thân thích của họ hoặc cơ quan, tổ chức, nhắc nhở, hoà giải nhiều lần.

- Vợ hoặc chồng luôn có hành vi ngược đãi, hành hạ nhau, như thường xuyên đánh đập, hoặc có hành vi khác xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm và uy tín của nhau, đã được bà con thân thích của họ hoặc cơ quan, tổ chức, đoàn thể nhắc nhở, hoà giải nhiều lần.

- Vợ chồng không chung thuỷ với nhau như có quan hệ ngoại tình, đã được người vợ hoặc người chồng hoặc bà con thân thích của họ hoặc cơ quan, tổ chức, nhắc nhở, khuyên bảo nhưng vẫn tiếp tục có quan hệ ngoại tình;

a.2. Để có cơ sở nhận định đời sống chung của vợ chồng không thể kéo dài được, thì phải căn cứ vào tình trạng hiện tại của vợ chồng đã đến mức trầm trọng như hướng dẫn tại điểm a.1 mục 8 này. Nếu thực tế cho thấy đã được nhắc nhở, hoà giải nhiều lần, nhưng vẫn tiếp tục có quan hệ ngoại tình hoặc vẫn tiếp tục sống ly thân, bỏ mặc nhau hoặc vẫn tiếp tục có hành vi ngược đãi hành hạ, xúc phạm nhau, thì có căn cứ để nhận định rằng đời sống chung của vợ chồng không thể kéo dài được.

a.3. Mục đích của hôn nhân không đạt được là không có tình nghĩa vợ chồng; không bình đẳng về nghĩa vụ và quyền giữa vợ, chồng; không tôn trọng danh dự, nhân phẩm, uy tín của vợ, chồng; không tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của vợ, chồng; không giúp đỡ, tạo điều kiện cho nhau phát triển mọi mặt".

-> Như vậy bạn cần chứng minh được lý do ly hôn là gì khi mới vừa kết hôn. Ngoài ra việc bạn sang Đài Loan hay không là quyền của bạn. Khi ly hôn và kết hôn 2 bên đều tự nguyện nên không đặt ra vấn đề bồi thường. Hiện tại bạn không vi phạm quy định gì của pháp luật, việc họ đưa bạn đi tù là ;không có căn cứ.

Thủ tục ly hôn đơn phương:

Bạn cần phải chuẩn bị một bộ hồ sơ bao gồm những giấy tờ sau gửi lên Tòa án nhân dân cấp quận/huyện nơi chồng bạn cư trú để được giải quyết:

- Đơn xin ly hôn đơn phương.

- Bản chính giấy đăng ký kết hôn của vợ chồng bạn.

- Bản sao có chứng thực sổ hộ khẩu của vợ chồn bạn.

- Bản sao có chứng thực chứng minh thư của vợ chồng bạn.

- Bản sao có chứng thực giấy khai sinh của con bạn (nếu có).

- Giấy tờ về tài sản (nếu có tranh chấp về tài sản).

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với Luật sư tư vấn thủ tục ly hôn trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc liên hệ văn phòng để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

>> Tham khảo bài viết liên quan: Ký đơn xin ly hôn có phải chịu bồi thường?

>> Xem thêm:  Thủ tục xin ly hôn khi đang mang thai ? Cơ quan nào có thẩm quyền giải quyết ly hôn ?

4. Vợ không tham dự phiên Tòa, có xét xử ly hôn được không?

Kính chào công ty luật Minh Khuê, em làm đơn ly hôn, khi ra tòa người vợ không ra tòa, tòa có xử cho cho em được ly hôn không?
Xin chân thành cảm ơn ạ!

Ly hôn với người Đài Loan khi không thể sống chung với chồng và gia đình chồng ?

Luật sư tư vấn luật hôn nhân gọi: 1900.6162

Trả lời:

Trong trường hợp của bạn, pháp luật về tố tụng dân sự có quy định về việc áp dụng chung những quy định của Bộ luật tố tụng dân sự vào giải quyết các việc dân sự như sau:

Điều 311, Bộ luật tố tụng dân sự 2004, sửa đổi 2011. Phạm vi áp dụng

"Tòa án áp dụng những quy định của Chương này, đồng thời áp dụng những quy định khác của Bộ luật này không trái với những quy định của Chương này để giải quyết những việc dân sự quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4, 6, 7 và 8 Điều 26, các khoản 1, 2, 3, 4, 5 và 7 Điều 28, khoản 1 và khoản 4 Điều 30, khoản 3 Điều 32 của Bộ luật này.

Việc dân sự là việc cá nhân, cơ quan, tổ chức không có tranh chấp, nhưng có yêu cầu Tòa án công nhận hoặc không công nhận một sự kiện pháp lý là căn cứ làm phát sinh quyền, nghĩa vụ dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động của mình hoặc của cá nhân, cơ quan, tổ chức khác; yêu cầu Tòa án công nhận cho mình quyền về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động."

Vì vậy, có thể áp dụng những quy định chung của phiên tòa sơ thẩm vào việc giải quyết việc dân sự, miễn là những quy định đó không trái với quy định tại chương “Thủ tục giải quyết việc dân sự”. Theo đó, sự vắng mặt của đương sự được giải quyết như sau:

Điều 199. Sự có mặt của đương sự, người đại diện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự

"1. Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ nhất, đương sự hoặc người đại diện của họ, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự phải có mặt; trường hợp có người vắng mặt thì Hội đồng Xét Xử hoãn phiên tòa, trừ trường hợp người đó có đơn đề nghị Xét Xử vắng mặt.
Tòa án thông báo cho đương sự, người đại diện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự biết việc hoãn phiên tòa.

2. Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai, đương sự hoặc người đại diện của họ, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự phải có mặt tại phiên tòa, nếu vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng thì Xử lý như sau:

a) Nguyên đơn, người đại diện theo pháp luật vắng mặt mà không có người đại diện tham gia phiên tòa thì bị coi là từ bỏ việc khởi kiện và Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án đối với yêu cầu khởi kiện của người đó, trừ trường hợp người đó có đơn đề nghị Xét Xử vắng mặt. Nguyên đơn có quyền khởi kiện lại, nếu thời hiệu khởi kiện vẫn còn;

b) Bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu độc lập vắng mặt mà không có người đại diện tham gia phiên tòa thì Tòa án tiến hành Xét Xử vắng mặt họ;"

Căn cứ vào quy định trên, trường hợp vợ bạn vắng mặt khi tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ nhất thì tòa sẽ hoãn phiên xét xử. Thời gian hoãn phiên tòa không quá 30 ngày làm việc. Nếu tòa triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt thì tòa sẽ tuyên bố xử vắng mặt. Căn cứ xác định thời hạn hoãn phiên tòa:

"Điều 208. Thời hạn hoãn phiên tòa và quyết định hoãn phiên tòa

1. Trong trường hợp Hội đồng Xét Xử quyết định hoãn phiên tòa theo quy định tại khoản 2 Điều 51, khoản 2 Điều 72, các điều 199, 204, 205, 206, 207, 215, khoản 4 Điều 230 và các trường hợp khác theo quy định của Bộ luật này, thì thời hạn hoãn phiên tòa sơ thẩm là không quá ba mươi ngày, kể từ ngày ra quyết định hoãn phiên tòa."

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

>> Tham khảo bài viết liên quan: Chồng không đến theo giấy triệu tập thì Tòa có thể xử ly hôn không ?

>> Xem thêm:  Tư vấn thủ tục ly hôn trực tuyến qua tổng đài điện thoại

5. Vợ bỏ đi 10 năm rồi thì ly hôn như thế nào ?

Thưa luât sư, vợ tôi bỏ nhà đi nay gân 10 năm rồi, bỏ con lại khi đó con mới được 09 tháng. Xin luât cho biết tôi phải làm sao để ly hôn ?
Tôi xin chân thành cảm ơn!

Luật sư tư vấn:

Căn cứ theo Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về ly hôn theo yêu cầu của một bên như sau:

"1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.

2. Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn.

3. Trong trường hợp có yêu cầu ly hôn theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Luật này thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc chồng, vợ có hành vi bạo lực gia đình làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của người kia."

Như vậy, bạn hoàn toàn có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết vấn đề ly hôn của hai vợ chồng bạn khi bạn có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.

Theo như thông tin bạn cung cấp, vợ bạn đã bỏ đi được 10 năm, con bạn lúc đó mới được 09 tháng tuổi. Bạn không nói rõ hiện nay bạn có thể liên hệ được với vợ bạn hay không. Do vậy, chúng tôi sẽ tư vấn cho bạn như sau:

Trường hợp thứ nhất, bạn có thể liên hệ được với vợ bạn hoặc ít nhất bạn, người thân, bạn bè trong gia đình vẫn biết được tin tức của vợ bạn. Biết rõ cô ấy hiện nay đang ở đâu? Làm gì? Sống như thế nào? Chỉ là vợ bạn không muốn trở về và không muốn gặp lại bạn và con. Lúc này, nếu bạn muốn ly hôn thì bạn cần liên hệ với vợ bạn để yêu cầu cả hai vợ chồng cùng ly hôn hoặc bạn phải biết nơi vợ bạn đang cư trú là ở đâu để nộp đơn tại Tòa án nhân dân cấp quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh nơi vợ bạn đang cư trú, nếu không thì bạn rất khó để có thể giải quyết vấn đề ly hôn với vợ bạn.

Trường hợp thứ hai, kể từ thời điểm vợ bạn bỏ đi đến nay, bạn cũng như gia đình, bạn bè không còn bất kỳ thông tin nào của vợ bạn. Khi đó, bạn có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố vợ bạn mất tích hoặc tuyên bố chết theo quy định của Điều 68 Bộ luật Dân sự năm 2015:

"Điều 68. Tuyên bố mất tích

1. Khi một người biệt tích 02 năm liền trở lên, mặc dù đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc người đó còn sống hay đã chết thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, Tòa án có thể tuyên bố người đó mất tích.

Thời hạn 02 năm được tính từ ngày biết được tin tức cuối cùng về người đó; nếu không xác định được ngày có tin tức cuối cùng thì thời hạn này được tính từ ngày đầu tiên của tháng tiếp theo tháng có tin tức cuối cùng; nếu không xác định được ngày, tháng có tin tức cuối cùng thì thời hạn này được tính từ ngày đầu tiên của năm tiếp theo năm có tin tức cuối cùng.

2. Trường hợp vợ hoặc chồng của người bị tuyên bố mất tích xin ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình.

3. Quyết định của Tòa án tuyên bố một người mất tích phải được gửi cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú cuối cùng của người bị tuyên bố mất tích để ghi chú theo quy định của pháp luật về hộ tịch."

Vợ bạn đã bỏ đi được 10 năm, do đó, đã trên 02 năm không có tin tức xác thực về việc vợ bạn còn sống hay đã chết thì bạn có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố vợ bạn mất tích khi bạn đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự như loa đài, báo chí, trên truyền hình,... nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc vợ bạn còn sống hay đã chết thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, Tòa án có thể tuyên bố vợ bạn mất tích. Lúc này, bạn yêu cầu ly hôn với vợ bạn thì Tòa án sẽ giải quyết vấn đề ly hôn cho bạn mà không cần sự có mặt của vợ bạn.

Hoặc bạn có thể yêu cầu Tòa án tuyên bố vợ bạn chết khi bạn đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật nhưng vẫn không có thông tin gì của bạn theo Điều 71 Bộ luật Dân sự năm 2015:

"Điều 71. Tuyên bố chết

1. Người có quyền, lợi ích liên quan có thể yêu cầu Tòa án ra quyết định tuyên bố một người là đã chết trong trường hợp sau đây:

a) Sau 03 năm, kể từ ngày quyết định tuyên bố mất tích của Tòa án có hiệu lực pháp luật mà vẫn không có tin tức xác thực là còn sống;

b) Biệt tích trong chiến tranh sau 05 năm, kể từ ngày chiến tranh kết thúc mà vẫn không có tin tức xác thực là còn sống;

c) Bị tai nạn hoặc thảm họa, thiên tai mà sau 02 năm, kể từ ngày tai nạn hoặc thảm hoạ, thiên tai đó chấm dứt vẫn không có tin tức xác thực là còn sống, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác;

d) Biệt tích 05 năm liền trở lên và không có tin tức xác thực là còn sống; thời hạn này được tính theo quy định tại khoản 1 Điều 68 của Bộ luật này.

2. Căn cứ vào các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này, Tòa án xác định ngày chết của người bị tuyên bố là đã chết.

3. Quyết định của Tòa án tuyên bố một người là đã chết phải được gửi cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của người bị tuyên bố là đã chết để ghi chú theo quy định của pháp luật về hộ tịch."

Sau khi Tòa án tuyên bố vợ bạn đã chết thì thời điểm hôn nhân giữa bạn và vợ bạn chấm dứt được xác định theo ngày chết được ghi trong bản án, quyết định của Tòa án tuyên bố vợ bạn đã chết. Lúc này, bạn không cần làm đơn ly hôn với vợ bạn thì hôn nhân của hai người cũng sẽ chấm dứt kể từ thời điểm Tòa án tuyên bố vợ bạn đã chết theo quy định của pháp luật.

Trên đây là tư vấn của chúng tôi về yêu cầu của bạn. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại: 1900.6162 để được giải đáp.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Hôn nhân - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Tư vấn giải quyết cưỡng chế thi hành án khi chồng không thực hiện nghĩa vụ tài sản sau ly hôn ?