- 1. Khái niệm
- 2. Nguyên tắc giao kết hợp đồng điện tử
- 3. Đặc điểm của hoạt động điện tử
- 4.Phân loại hợp đồng điện tử
- - Hợp đồng thương mại điện tử
- - Hợp đồng lao động điện tử
- - Hợp đồng dân sự điện tử
- 5. Lợi ích của việc sử dụng hợp đồng điện tử
- 6. Giao dịch điện tử của cơ quan nhà nước
- 6.1 Các loại hình giao dịch điện tử của cơ quan nhà nước
- 6.2 Nguyên tắc tiến hành giao dịch điện tử của cơ quan nhà nước
1. Khái niệm
Theo luật giao dịch điện tử 2005 có quy định về khái niệm hợp đồng điện tử
Hợp đồng điện tử là hợp đồng được thiết lập dưới dạng thông điệp dữ liệu theo quy định của Luật này.
Hợp đồng điện tử có giá trị tương đương như hợp đồng truyền thống. Theo quy định tại Điều 33, 34 Luật Giao dịch điện tử 2005 thì “Hợp đồng điện tử là hợp đồng được thiết lập dưới dạng thông điệp dữ liệu. Giá trị pháp lý của hợp đồng điện tử không thể bị phủ nhận chỉ vì hợp đồng đó được thể hiện dưới dạng thông điệp dữ liệu.” Một số đặc điểm của hợp đồng điện tử có khác biệt so với hợp đồng thông thường là:
Việc thể hiện bằng thông điệp dữ liệu điện tử. Theo đó, hợp đồng điện tử được giao kết bằng thông điệp dữ liệu. Việc đề nghị giao kết, chấp nhận giao kết, nhận, gửi hợp đồng đều được thực hiện dưới dạng thông điệp dữ liệu.
Luật Giao dịch Điện tử quy định các yếu tố liên quan đến thông điệp dữ liệu bao gồm khái niệm người khởi tạo, người nhận thông điệp dữ liệu, thời điểm, địa điểm gửi, nhận thông điệp dữ liệu… Trong quá trình thực hiện hợp đồng, các thông báo dưới dạng thông điệp dữ liệu cũng có giá trị pháp lý như thông báo bằng phương pháp truyền thống. Chính yếu tố này cũng tạo nên tính hiện đại, nhanh chóng và tiết kiệm chi phí hơn rất nhiều so với hợp đồng truyền thống.
Có sự tham gia của ít nhất 3 chủ thể trong giao kết hợp đồng. Trong đó, ngoài bên mua và bên bán còn có các nhà cung cấp các dịch vụ mạng và các cơ quan chứng thực chữ ký điện tử;
Phạm vi áp dụng bị hạn chế trong lĩnh vực dân sự, kinh doanh, thương mại và các lĩnh vực khác do pháp luật quy định mới có thể sử dụng hợp đồng điện tử.
2. Nguyên tắc giao kết hợp đồng điện tử
Luật Giao dịch Điện tử đã đặt ra 3 nguyên tắc giao kết hợp đồng điện tử: các bên được thỏa thuận chọn phương tiện điện tử cho hợp đồng, hợp đồng điện tử phải tuân thủ Luật Giao dịch Điện tử và các quy định áp dụng cho hợp đồng truyền thống, và các bên được thỏa thuận yêu cầu kỹ thuật, chứng thực và các điều kiện khác để đảm bảo tính toàn vẹn và bảo mật của hợp đồng.
Như vậy pháp luật đã cho các bên cơ hội được thỏa thuận linh động, tự do nhiều yếu tố khác nhau khi giao kết hợp đồng điện tử, giúp đáp ứng các nhu cầu đa dạng của nhiều loại hợp đồng. Tuy nhiên, dù tự do giao kết nhưng không được trái với quy định và đạo đức xã hội. Doanh nghiệp cũng cần lưu ý rằng, khi giao kết hợp đồng điện tử thì đồng thời phải đảm bảo các điều kiện như hợp đồng truyền thống về mặt nội dung, hình thức hay thủ tục đăng ký liên quan với cơ quan nhà nước (nếu có). Chẳng hạn như, hợp đồng lao động điện tử phải có các nội dung bắt buộc theo pháp luật về lao động như thời hạn hợp đồng, thời giờ làm việc, nghỉ ngơi,…
3. Đặc điểm của hoạt động điện tử
Hợp đồng điện tử được hình thành trong các thông điệp và dữ liệu truyền gửi qua internet và các mạng viễn thông nên hợp đồng điện tử có những đặc điểm sau :
- Thể hiện bằng thông điệp dữ liệu điện tử : Đặc điểm nổi trội của hợp đồng là hình thức thể hiện. Trong giao kết hợp đồng điện tử, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác, đề nghị giao kết hợp đồng và chấp nhận giao kết hợp đồng có thể thực hiện thông qua thông điệp dữ liệu
- Có sự tham gia của ít nhất 3 chủ thể trong giao kết hợp đồng: Bên cạnh chủ thể giao kết thông thường là bên bán và bên mua còn có sự xuất hiện của bên thứ 3 có liên quan chặt chẽ đến hợp đồng điện tử- đó là các nhà cung cấp các dịch vụ mạng và các cơ quan chứng thực chữ ký điện tử. Bên thứ 3 này không tham gia vào quá trình đàm phán , giao kết hay thực hiện hợp đồng điện tử. Họ tham gia với tư cách là các cơ quan hỗ trợ nhằm đảm bảo tính hiệu quả và giá trị pháp lý cho việc giao kết và thực hiện hợp đồng điện tử
- Cách thức giao kết và thực hiện hợp đồng điện tử: Các bên tham gia đều có quyền thỏa thuận sử dụng phương tiện điện tử trong giao kết và thực hiện hợp đồng. Việc giao kết và thực hiện hợp đồng điện tử phải tuân thủ các quy định của pháp luật về hợp đồng: Khi giao kết và thực hiện hợp đồng điện tử, các bên có quyền thỏa thuận về yêu cầu kĩ thuật, chứng thực, các điều kiện bảo đảm tính toàn vẹn, bảo mật có liên quan đến hợp đồng điện tử đó.
- Hạn chế trong phạm vi áp dụng: Theo quy định của Luật giao dịch điện tử thì các giao dịch điện tử được áp dụng trong hoạt động của các cơ quan Nhà nước trong lĩnh vực dân sự, kinh doanh thương mại và các ,lĩnh vực khác do pháp luật quy định. Các quy định của giao dịch điện tử không áp dụng đối với việc, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà nước và các bất động sản khác, văn bản về thừa kế, giấy đăng ký kết hôn, quyết định ly hôn , giấy khai sinh, giấy khai tử.
- Tính phi biên giới: Trong giao dịch điện tử các bên giao kết hợp đồng thực hiện việc truyền thông tin, dữ liệu thông qua một hệ thống mạng mang tính chất toàn cầu, vì vậy không có khái niệm biên giới, lãnh thổ hay vùng miền,... Một bện tham gia giao dịch dù ở đâu, dù ở thời điểm nào cũng có thể giao dịch với đối tác của mình mà không có bất kì cản trở nào
- Tính vô hình, phi vật chất: Môi trường điện tử là môi trường ảo, do đó các hợp đồng điện tử mang tính vô hình, phi vật chất bởi vì hợp đồng điện tử tồn tại, được lưu trữ, được chứng minh bởi các dữ liệu điện tử không thể cảm nhận thấy hay cầm nắm một cách vật lý được
- Tính hiện đại chính xác: Hợp đồng điện tử sử dụng các thành tựu hiện đại của công nghệ thông tin như công nghệ điện tử,kỹ thuật số, tử tính, quang học,công nghệ truyền không dây... dữ liệu điện tử, chứng từ điện tử, thư điện tử, điện tín, fax và các hình thức tương tự khác.
4.Phân loại hợp đồng điện tử
- Hợp đồng thương mại điện tử
Hợp đồng thương mại điện tử chủ yếu là hợp đồng điện tử được giao kết giữa các bên trong đó có ít nhất một bên là thương nhân, chủ thể còn lại là chủ thể có tư cách pháp lý nhằm xác lập hợp đồng dưới dạng thông điệp dữ liệu. Trong hoạt động thương mại, các thông điệp dữ liệu đáp ứng các điều kiện, tiêu chuẩn kỹ thuật theo quy định của pháp luật thì được thừa nhận có giá trị pháp lý tương đương văn bản.
* Hợp đồng trong TMĐT có các đặc điểm sau đây:
- Hợp đồng TMĐT vẫn giữ các đặc điểm pháp lý của một hợp đồng thương mại: một bên chủ thể là thương nhân; mục đích của hợp đồng trong TMĐT là lợi nhuận; đối tượng của hợp đồng là hàng hóa; nội dung hợp đồng thương mại thể hiện quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ hợp đồng, đó là các điều khoản do các bên thỏa thuận.
- Hợp đồng TMĐT có các đặc điểm riêng: hợp đồng được thể hiện hoàn toàn dưới dạng thông điệp dữ liệu; trong quá trình giao kết và thực hiện hợp đồng, các bên không cần gặp trực tiếp mà thông qua các phương tiện điện tử.
- Hợp đồng lao động điện tử
Hợp đồng lao động điện tử là những thỏa thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động về việc làm được trả công, tiền lương, điều kiện lao động, sự quản lý, điều hành, giám sát của một bên, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệ lao động dưới dạng thông điệp dữ liệu điện tử và có giá trị như hợp đồng lao động bằng văn bản.
Mọi tranh chấp phát sinh giữa người sử dụng lao động và người lao động đều được giải quyết theo quy định của các luật liên quan, không phân biệt hình thức hợp đồng mà hai bên đã ký kết.
* Đặc điểm của hợp đồng điện tử trong hợp đồng lao động:
- Chủ thể của hợp đồng lao động điện tử là người lao động và người sử dụng lao động, mục đích của hợp đồng lao động là hoàn thành quá trình lao động, không phải là sự thực hiện kết quả lao động
- Hình thức của hợp đồng lao động điện tử là thông điệp dữ liệu theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử, trong quá trình ký kết hợp đồng người lao động và người sử dụng lao động không cần gặp mặt trực tiếp.
- Hợp đồng dân sự điện tử
Hợp đồng dân sự thông qua phương tiện điện tử là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự dưới hình thức thông điệp dữ liệu theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử.
Giao dịch dân sự thông qua phương tiện điện tử dưới hình thức thông điệp dữ liệu theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử được coi là giao dịch bằng văn bản.
5. Lợi ích của việc sử dụng hợp đồng điện tử
Bởi tất cả các hoạt động trong quá trình ký hợp đồng được thực hiện trên môi trường Internet dưới dạng thông điệp dữ liệu nên Hợp đồng điện tử mang lại cho doanh nghiệp những lợi ích cụ thể như:
- Tiết kiệm thời gian, chi phí giao dịch, đàm phán và ký kết hợp đồng nhanh chóng
- Giảm chi phí bán hàng
- Quá trình giao dịch, mua bán nhanh và chính xác
- Lưu trữ bảo mật an toàn
- Nâng cao năng lực cạnh tranh và khả năng hội nhập kinh tế quốc tế
6. Giao dịch điện tử của cơ quan nhà nước
6.1 Các loại hình giao dịch điện tử của cơ quan nhà nước
Có 3 loại hình cơ bản như:
+) Giao dịch điện tử trong nội bộ cơ quan nhà nước.
+) Giao dịch điện tử giữa các cơ quan nhà nước với nhau.
+) Giao dịch điện tử giữa cơ quan nhà nước với cơ quan, tổ chức, cá nhân.
6.2 Nguyên tắc tiến hành giao dịch điện tử của cơ quan nhà nước
Các nguyên tắc quy định tại các khoản 3, 4 và 5 Điều 5 của Luật giao dịch điện tử 2005.
Việc giao dịch điện tử của cơ quan nhà nước phải phù hợp với những quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan.
Cơ quan nhà nước trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình chủ động thực hiện từng phần hoặc toàn bộ giao dịch trong nội bộ cơ quan hoặc với cơ quan khác của Nhà nước bằng phương tiện điện tử.
Căn cứ vào điều kiện phát triển kinh tế - xã hội và tình hình cụ thể, cơ quan nhà nước xác định một lộ trình hợp lý sử dụng phương tiện điện tử trong các loại hình giao dịch quy định tại Điều 39 của luật.
Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền lựa chọn phương thức giao dịch với cơ quan nhà nước nếu cơ quan nhà nước đó đồng thời chấp nhận giao dịch theo phương thức truyền thống và phương tiện điện tử, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Khi tiến hành giao dịch điện tử, cơ quan nhà nước phải quy định cụ thể như sau:
+) Định dạng, biểu mẫu của thông điệp dữ liệu;
+) Loại chữ ký điện tử, chứng thực chữ ký điện tử trong trường hợp giao dịch điện tử cần có chữ ký điện tử, chứng thực chữ ký điện tử;
+) Các quy trình bảo đảm tính toàn vẹn, an toàn và bí mật của giao dịch điện tử.