Lương của em mỗi tháng 15 triệu đồng. Đến tháng 10/2014 do Công ty làm ăn thua lỗ nên em chấp nhận giảm lương xuống còn 7,5 triệu (giảm chung cả Công ty) và nhận lại nếu Công ty phát triển lên. Đến tháng 3/2015 do gặp một số sự cố nên Công ty tạm dừng để bàn bạc lại kế hoạch khác. Đến ngày 12 tháng 05/2015 công ty thông báo tạm ngưng hoạt động và trong cơ cấu nhân sự không có tên em (chỉ giữ lại Công nhân trông coi cơ sở vật chất). Vậy luật sư cho em hỏi, Công ty có phải thanh toán lương tháng 3, 4 và nửa tháng 5 cho em không? Việc công ty chấm dứt công việc mà không báo trước có hợp lý không? Em có thể kiện không? 

Xin cảm ơn luật sư!

Người gửi: Ng

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục hỏi đáp pháp luật lao động của Công ty Luật Minh Khuê.

>> Luật sư tư vấn luật lao động gọi:1900.6162

Trả lời:

Cám ơn bạn đã gửi câu hỏi đến công ty chúng tôi. Câu hỏi của bạn được tư vấn như sau:

Các văn bản pháp luật được sử dụng:

Bộ luật lao động 2019

Nội dung câu trả lời tư vấn:

1. Hợp đồng bằng miệng có hợp pháp không?

Theo quy định tại Khoản 2 Điều 14 Bộ luật lao động 2019:

Hai bên có thể giao kết hợp đồng lao động bằng lời nói đối với hợp đồng có thời hạn dưới 01 tháng, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 18, điểm a khoản 1 Điều 145 và khoản 1 Điều 162 của Bộ luật này.

Trong câu hỏi, bạn chưa nêu rõ là thỏa thuận thời hạn lao động của bạn có hay không và thỏa thuận làm việc bao nhiêu tháng. Nhưng theo quy định trên, hợp đồng bằng lời nói hợp pháp khi hợp đồng đó là hợp đồng làm việc tạm thời có thời hạn dưới 1 tháng.

Cũng theo quy định tại Khoản 2 điều 20 Bộ luật lao động 2019:

...

2. Khi hợp đồng lao động quy định tại điểm b khoản 1 Điều này hết hạn mà người lao động vẫn tiếp tục làm việc thì thực hiện như sau:

a) Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày hợp đồng lao động hết hạn, hai bên phải ký kết hợp đồng lao động mới; trong thời gian chưa ký kết hợp đồng lao động mới thì quyền, nghĩa vụ và lợi ích của hai bên được thực hiện theo hợp đồng đã giao kết;

b) Nếu hết thời hạn 30 ngày kể từ ngày hợp đồng lao động hết hạn mà hai bên không ký kết hợp đồng lao động mới thì hợp đồng đã giao kết theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều này trở thành hợp đồng lao động không xác định thời hạn;

c) Trường hợp hai bên ký kết hợp đồng lao động mới là hợp đồng lao động xác định thời hạn thì cũng chỉ được ký thêm 01 lần, sau đó nếu người lao động vẫn tiếp tục làm việc thì phải ký kết hợp đồng lao động không xác định thời hạn, trừ hợp đồng lao động đối với người được thuê làm giám đốc trong doanh nghiệp có vốn nhà nước và trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 149, khoản 2 Điều 151 và khoản 4 Điều 177 của Bộ luật này.

Như vậy, theo quy định trên, sau khi hết hạn hợp đồng bằng lời nói (tối đa là 01 tháng), bạn đã tiếp tục làm việc nên hợp đồng bằng miệng của bạn chuyển thành hợp đồng không xác định thời hạn với thời hạn. Vậy nên, bạn vẫn đang là nhân viên công ty.

2. Việc công ty chấm dứt công việc mà không báo trước có hợp lý không? Có thể kiện không? 

Theo thông tin bạn cung cấp, công ty sau khi tạm ngưng hoạt động đã cho nhiều người lao động nghỉ việc chỉ giữ lại nhân viên trông coi cơ sở vật chất. Có thể thấy, công ty sau khi làm ăn thua lỗ vì lí do kinh tế đã ảnh hưởng đến việc làm của nhiều người lao động nên theo điều 42 BLLĐ: 

2. Những trường hợp sau đây được coi là vì lý do kinh tế:

a) Khủng hoảng hoặc suy thoái kinh tế;

b) Thực hiện chính sách, pháp luật của Nhà nước khi cơ cấu lại nền kinh tế hoặc thực hiện cam kết quốc tế.

3. Trường hợp thay đổi cơ cấu, công nghệ mà ảnh hưởng đến việc làm của nhiều người lao động thì người sử dụng lao động phải xây dựng và thực hiện phương án sử dụng lao động theo quy định tại Điều 44 của Bộ luật này; trường hợp có chỗ làm việc mới thì ưu tiên đào tạo lại người lao động để tiếp tục sử dụng.

4. Trong trường hợp vì lý do kinh tế mà nhiều người lao động có nguy cơ mất việc làm, phải thôi việc thì người sử dụng lao động phải xây dựng và thực hiện phương án sử dụng lao động theo quy định tại Điều 44 của Bộ luật này.

5. Trong trường hợp người sử dụng lao động không thể giải quyết được việc làm mà phải cho người lao động thôi việc thì phải trả trợ cấp mất việc làm theo quy định tại Điều 47 của Bộ luật này.

6. Việc cho thôi việc đối với người lao động theo quy định tại Điều này chỉ được tiến hành sau khi đã trao đổi ý kiến với tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở đối với nơi có tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở mà người lao động là thành viên và thông báo trước 30 ngày cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và cho người lao động.

Như vậy, khi công ty cho bạn thôi việc thì công ty phải chi trả trợ cấp mất việc làm cho bạn.

Tuy nhiên, theo quy định tại Khoản 2 điều 47 BLLĐ:

Thời gian làm việc để tính trợ cấp mất việc làm là tổng thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động trừ đi thời gian người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp và thời gian làm việc đã được người sử dụng lao động chi trả trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm.

Như vậy, bạn có thể kiện do công ty chấm dứt hợp đồng mà chưa hoàn thành các nghĩa vụ tài chính cho bạn.

Tiếp đó, doanh nghiệp chỉ được chấm dứt hợp đồng lao động vì lí do kinh tế sau khi đã trao đổi với tổ chức đại diện tập thể lao động tại cơ sở và thông báo trước 30 ngày cho Sở Lao động Thương binh và Xã hội.

3. Người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động

Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, doanh nghiệp cần báo cho người lao động biết trước:

- Ít nhất 45 ngày đối với hợp đồng lao động không xác định thời hạn;

- Ít nhất 30 ngày đối với hợp đồng lao động xác định thời hạn;

- Ít nhất 03 ngày làm việc đối với hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng.

Trong trường hợp đơn phương chấm dứt HĐLĐ, người sử dụng lao động đã vi phạm quy định về thời hạn báo trước, bên vi phạm phải bồi thường cho bên kia một khoản tiền tương ứng với tiền lương của người lao động trong những ngày không báo trước.

4. Công ty có phải thanh toán lương tháng 3, 4 và nửa tháng 5 cho người lao động không? 

Theo khoản 3 điều 99 BLLĐ 2019:

...

3. Nếu vì sự cố về điện, nước mà không do lỗi của người sử dụng lao động hoặc do thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh nguy hiểm, địch họa, di dời địa điểm hoạt động theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc vì lý do kinh tế thì hai bên thỏa thuận về tiền lương ngừng việc như sau:

a) Trường hợp ngừng việc từ 14 ngày làm việc trở xuống thì tiền lương ngừng việc được thỏa thuận không thấp hơn mức lương tối thiểu;

b) Trường hợp phải ngừng việc trên 14 ngày làm việc thì tiền lương ngừng việc do hai bên thỏa thuận nhưng phải bảo đảm tiền lương ngừng việc trong 14 ngày đầu tiên không thấp hơn mức lương tối thiểu.

Như vậy, tiền lương ngừng việc tháng 3,4 và nửa tháng 5 của bạn sẽ trả nhưng với mức do bạn và doanh nghiệp thỏa thuận nhưng không được thấp hơn mức lương tối thiểu vùng do Chính phủ quy định.

5. Trợ cấp mất việc làm

Điều 47 Bộ luật lao động 2019 quy định:

Điều 47. Trợ cấp mất việc làm

1. Người sử dụng lao động trả trợ cấp mất việc làm cho người lao động đã làm việc thường xuyên cho mình từ đủ 12 tháng trở lên mà bị mất việc làm theo quy định tại khoản 11 Điều 34 của Bộ luật này, cứ mỗi năm làm việc trả 01 tháng tiền lương nhưng ít nhất bằng 02 tháng tiền lương.

2. Thời gian làm việc để tính trợ cấp mất việc làm là tổng thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động trừ đi thời gian người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp và thời gian làm việc đã được người sử dụng lao động chi trả trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm.

3. Tiền lương để tính trợ cấp mất việc làm là tiền lương bình quân của 06 tháng liền kề theo hợp đồng lao động trước khi người lao động mất việc làm.

4. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.

Khoản 2 đến 6 Điều 8 Nghị định 145/2020/NĐ-CP:

Người sử dụng lao động có trách nhiệm chi trả trợ cấp mất việc làm theo quy định tại Điều 47 của Bộ luật Lao động đối với người lao động đã làm việc thường xuyên cho mình từ đủ 12 tháng trở lên mà bị mất việc làm theo quy định tại khoản 11 Điều 34 của Bộ luật Lao động.

Trường hợp người lao động có thời gian làm việc thường xuyên cho người sử dụng lao động từ đủ 12 tháng trở lên mất việc làm nhưng thời gian làm việc để tính trợ cấp mất việc làm quy định tại khoản 3 Điều này ít hơn 24 tháng thì người sử dụng lao động có trách nhiệm chi trả trợ cấp mất việc làm cho người lao động ít nhất bằng 02 tháng tiền lương.

Thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm là tổng thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động trừ đi thời gian người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp và thời gian làm việc đã được người sử dụng lao động chi trả trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm, trong đó:

a) Tổng thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động bao gồm: thời gian người lao động đã trực tiếp làm việc; thời gian thử việc; thời gian được người sử dụng lao động cử đi học; thời gian nghỉ hưởng chế độ ốm đau, thai sản theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội; thời gian nghỉ việc để điều trị, phục hồi chức năng lao động khi bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp mà được người sử dụng lao động trả lương theo quy định của pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động; thời gian nghỉ việc để thực hiện nghĩa vụ công dân theo quy định của pháp luật mà được người sử dụng lao động trả lương; thời gian ngừng việc không do lỗi của người lao động; thời gian nghỉ hằng tuần theo Điều 111, nghỉ việc hưởng nguyên lương theo Điều 112, Điều 113, Điều 114, khoản 1 Điều 115; thời gian thực hiện nhiệm vụ của tổ chức đại diện người lao động theo quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều 176 và thời gian bị tạm đình chỉ công việc theo Điều 128 của Bộ luật Lao động.

b) Thời gian người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp bao gồm: thời gian người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật và thời gian người lao động thuộc diện không phải tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật nhưng được người sử dụng lao động chi trả cùng với tiền lương của người lao động một khoản tiền tương đương với mức người sử dụng lao động đóng bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động theo quy định của pháp luật về lao động, bảo hiểm thất nghiệp.

c) Thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm của người lao động được tính theo năm (đủ 12 tháng); trường hợp có tháng lẻ ít hơn hoặc bằng 06 tháng được tính bằng 1/2 năm, trên 06 tháng được tính bằng 01 năm làm việc.

Cám ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đến công ty chúng tôi.

Bạn có thể gọi điện cho Luật sư tư vấn pháp luật lao động:1900.6162để được tư vấn trực tiếp.

Trân trọng!

Bộ phận tư vấn pháp luật lao động - Công ty luật Minh Khuê