1. Khái niệm về hợp đồng thử việc

Hợp đồng thử việc là sự thoả thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động về việc làm thử, thời gian thử việc, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong thời gian đó.

Hình thức của hợp đồng thử việc có thể bằng miệng hoặc bằng văn bản. Nó có thể là một bộ phận của hợp đồng lao động.

Thời gian thử việc không được quá 60 ngày đối với lao động chuyên môn kĩ thuật cao và không quá 30 ngày đối với lao động khác. Tiền lương của người lao động trong thời gian thử việc ít nhất phải bằng 70% mức lương cấp bậc của công việc làm thử. Trong thời gian thử việc, mỗi bên có quyền huỷ bỏ hợp đồng mà không phải báo trước, không phải bồi thường nếu việc làm thử không đạt yêu cầu mà hai bên đã thoả thuận. Hết thời gian thử việc, người sử dụng lao động phải thông báo kết quả thử việc. Khi việc làm thử đạt yêu cầu thì người sử dụng lao động phải nhận người lao động vào làm việc chính thức như đã thỏa thuận.

2. Thời gian thử việc tính như thế nào ?

Trước tiên cho tôi gửi lời cám ơn đến luật Minh Khuê. Chúc anh chị và công ty ngày 1 phát triển. Tôi xin hỏi câu hỏi như sau: Theo quy định thời gian thử việc không quá 60 ngày đối với trình độ từ cao đẳng trở lên. Cơ quan tôi cho thử việc từ 01/01/2016 đến 31/3/2016 tức 03 tháng không lương.
Tuy nhiên, khi lên thắc mắc với bộ phận tổ chức thì được trả lời rằng: Không tính những ngày không làm việc thứ 7 và chủ nhật hàng tuần. Vì vậy, tổng số ngày thử việc chỉ tầm 60 ngày. Như vậy cơ quan tôi có làm đúng theo quy định hay không?
Mong sớm nhận được hồi âm của công ty.

>> Luật sư tư vấn luật Lao động trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Điều 25 Bộ luật Lao động 2019 quy định:

Điều 25. Thời gian thử việc

Thời gian thử việc do hai bên thỏa thuận căn cứ vào tính chất và mức độ phức tạp của công việc nhưng chỉ được thử việc một lần đối với một công việc và bảo đảm điều kiện sau đây:

1. Không quá 180 ngày đối với công việc của người quản lý doanh nghiệp theo quy định của Luật Doanh nghiệp, Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp;

2. Không quá 60 ngày đối với công việc có chức danh nghề nghiệp cần trình độ chuyên môn, kỹ thuật từ cao đẳng trở lên;

3. Không quá 30 ngày đối với công việc có chức danh nghề nghiệp cần trình độ chuyên môn, kỹ thuật trung cấp, công nhân kỹ thuật, nhân viên nghiệp vụ;

4. Không quá 06 ngày làm việc đối với công việc khác.

Như vậy, theo quy định pháp luật không hề có quy định về thời gian thử việc phải là ngày làm việc mà pháp luật chỉ quy định "ngày" - "ngày" này được hiểu bao gồm cả ngày làm việc, ngày nghỉ hàng tuần, ngày nghỉ lễ,... Do đó, công ty bạn chỉ tính ngày làm việc không thôi là chưa chính xác.

>> Bài viết tham khảo thêm: Quy định về chấm dứt hợp đồng không xác định thời hạn khi người lao động đang có thai?

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi ngay số: 1900.6162 để được giải đáp. Rất mong nhận được sự hợp tác!

3. Thử việc không tốt không được trả lương ?

Tôi xin làm nhân viên bán hoa, chị chủ nói thử việc 3 ngày, làm tốt thì nhận, không thì mất 3 ngày. Hết 3 ngày chị bảo không đạt tôi yêu cầu trả lương thì chị bảo tôi làm chậm chị khăng khăng bảo qui định ở đây thử việc không tốt thì không trả lương. Sau đó, chị tính công cho tôi 6,8 giờ và trả 12000/giờ. Luật sư cho tôi hỏi rằng làm như vậy có đúng qui định không ạ ?
Cảm ơn!

>> Luật sư tư vấn luật Lao động trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Điều 26 Bộ luật Lao động 2019 quy định thử việc vẫn được trả lương, cụ thể:

Điều 26. Tiền lương thử việc

Tiền lương của người lao động trong thời gian thử việc do hai bên thỏa thuận nhưng ít nhất phải bằng 85% mức lương của công việc đó.

Theo dữ liệu bạn đưa ra thì chị chủ tính tiền cho bạn là 12.000 đồng/giờ, đối với việc tính như thế này có chính xác theo quy định pháp luật hay không bạn cần phải biết thêm mức lương của công việc đó là bao nhiêu, có bằng lương tối thiểu vùng hay không. Sau khi xác định xong bạn có thể áp dụng quy định Bộ luật Lao động năm 2019 nêu trên để xác định chính xác.

>> Bài viết tham khảo thêm: Thử việc không đạt yêu cầu thì xử lý như thế nào ?

4. Tư vấn về ký hợp đồng thử việc ?

Kính gửi Luật Sư Em tên Trần Thị Hồng Tr. Xin luật sư tư vấn cho em, vì em không rành về hợp đồng lao động thử việc. Em nhận thử việc tại 1 Công Ty thời trang với chức vụ Quản Lý, tuy em chỉ tốt nghiệp phổ thông trung học nhưng với kinh nghiệm 5 năm em vẫn được nhận làm.
Em ký hợp đồng thử việc từ ngày 30/11/2015 đến 29/01/2015. Trong hợp đồng có bảng mô tả công việc nếu thất thoát hàng hoá sẽ đền 50% giá trị sản phẩm, đính kèm bảng hợp đồng. Ngày cuối cùng hết hợp đồng là 29 tức là thứ 6 ngày cuối tuần, trước đó em vẫn không nhận được bảng đánh giá hay gia hạn và do giờ làm việc quá nhiều, em kí hợp đồng là 8 tiếng/ 1 ngày, 6 ngày/ 1 tuần, tuy nhiên em làm thực tế là 10 đến 14 tiếng/1 ngày, cấp trên đều biết nhưng không chấm công, với lý do là, chức vụ Quản Lý không được chấm công thêm giờ, và không có người quản lý trực tiếp, do công ty chính ở Sài Gòn, em ở Cần Thơ, chỉ có 1 người kế toán, chị ta không biết gì về quản lý nên không chỉ dẫn và giúp đỡ em, sau 2 tháng thử việc, em không đồng ý với giờ làm việc và các làm việc, nên thứ 2 đầu tuần, tức ngày 01/02/206, em xin nghỉ việc, và do gần tết em báo trước và hỗ trợ cho công ty thêm 1 tuần, yêu cầu công ty xuống bàn giao. Nhưng công ty không chịu, nói là không kịp tuyển quản lý, tuy nhiên ngày 05/02/2016, em biết tin đã có quản lý mới, đang thực tập tại Cửa Hàng gần đó ( ở Cần Thơ có 3 Cửa Hàng), nhưng vẫn không chịu qua bàn giao, và yêu cầu làm làm tới ngày 15/02/2016, để kịp công ty nghỉ tết vô, mới làm việc được, ngày 16/02/2016. Công Ty kiểm hàng tuy nhiên không có mặt em, và kiểm ra thất thoát hàng hoá gần mười mấy triệu, yêu cầu em bồi thường, tuy nhiên em thấy không hợp lý Vì :

Thứ nhất khi em nhận cửa hàng trong thời gian thử việc, người kiểm tra hàng hoá là người của Công Ty.

Thứ hai, khi bắt đầu làm việc, công ty biết có nhân viên bán hàng gian dối trong kinh doanh nhưng không đuổi, để ở lại gần cả tháng, sau khi đuổi cũng không cho người kiểm tra hàng hoá, em là người mới, nhưng cũng không ở lại Cửa Hàng suốt, khoảng thời gian đó không biết có gì xảy ra.

Thứ ba, không ai chỉ em biết cách kiểm hàng, tự mình em làm, dù hàng hoá lên tới hơn 9 nghìn sản phẩm. Vậy luật sư cho em hỏi, em không còn hợp đồng, vậy em có cần bồi thường thiệt hại vật chất cho công ty không?

Mong luật sư tư vấn, em xin cảm ơn !

>> Luật sư tư vấn luật lao động trực tuyến, gọi:1900.6162

Trả lời:

Bộ luật lao động 2019 quy định về thời gian thử việc như sau:

Điều 27. Kết thúc thời gian thử việc

1. Khi kết thúc thời gian thử việc, người sử dụng lao động phải thông báo kết quả thử việc cho người lao động.

Trường hợp thử việc đạt yêu cầu thì người sử dụng lao động tiếp tục thực hiện hợp đồng lao động đã giao kết đối với trường hợp thỏa thuận thử việc trong hợp đồng lao động hoặc phải giao kết hợp đồng lao động đối với trường hợp giao kết hợp đồng thử việc.

Trường hợp thử việc không đạt yêu cầu thì chấm dứt hợp đồng lao động đã giao kết hoặc hợp đồng thử việc.

2. Trong thời gian thử việc, mỗi bên có quyền hủy bỏ hợp đồng thử việc hoặc hợp đồng lao động đã giao kết mà không cần báo trước và không phải bồi thường.

Như vậy, theo quy định nêu trên, thì NLĐ khi thử việc có quyền hủy bỏ thỏa thuận thử việc mà không cần báo trước và không phải bồi thường nếu việc làm thử không đạt yêu cầu.

Theo đó, nếu bị người sử dụng lao động yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại trong thời gian thử việc thì người lao động vẫn có quyền hủy bỏ thỏa thuận thử việc, không cần báo trước và cũng không có nghĩa vụ phải bồi thường (do không đạt yêu cầu đối với công việc được giao trong thử việc).

Tuy nhiên, nếu trong quá trình làm việc cho công ty, bạn có gây ra sai xót dẫn tới có thiệt hại thì sẽ phải bồi thường theo quy định điều 129 Bộ luật lao động 2019

Điều 129. Bồi thường thiệt hại

1. Người lao động làm hư hỏng dụng cụ, thiết bị hoặc có hành vi khác gây thiệt hại tài sản của người sử dụng lao động thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật hoặc nội quy lao động của người sử dụng lao động.

Trường hợp người lao động gây thiệt hại không nghiêm trọng do sơ suất với giá trị không quá 10 tháng lương tối thiểu vùng do Chính phủ công bố được áp dụng tại nơi người lao động làm việc thì người lao động phải bồi thường nhiều nhất là 03 tháng tiền lương và bị khấu trừ hằng tháng vào lương theo quy định tại khoản 3 Điều 102 của Bộ luật này.

2. Người lao động làm mất dụng cụ, thiết bị, tài sản của người sử dụng lao động hoặc tài sản khác do người sử dụng lao động giao hoặc tiêu hao vật tư quá định mức cho phép thì phải bồi thường thiệt hại một phần hoặc toàn bộ theo thời giá thị trường hoặc nội quy lao động; trường hợp có hợp đồng trách nhiệm thì phải bồi thường theo hợp đồng trách nhiệm; trường hợp do thiên tai, hỏa hoạn, địch họa, dịch bệnh nguy hiểm, thảm họa, sự kiện xảy ra khách quan không thể lường trước được và không thể khắc phục được mặc dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép thì không phải bồi thường.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật lao động bảo hiểm qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác!

5. Hợp đồng thử việc thời hạn 1 năm có trái luật ?

Em học chuyên ngành và ra đi làm được 1 năm.sau em chuyển cty CP SX ĐQ. 15/3/2015 em làm thử việc tại công ty CPSX ĐQ đến ngày 1/6/2015 GĐ có nói với em là chính thức nhận em vào làm nhân viên chính thức nhưng tới 1/7/2015 mới bắt đầu kí hợp đồng thời hạn 1 năm và tới khi kí hợp đồng mới đóng bảo hiểm.

Trong thời gian kí hợp đồng em không được hưởng phép năm vì quy định của công ty là làm đủ 1 năm mới được tính phép năm và phép năm chỉ được nghỉ sau khi đã đã làm nhân viên chính thức một năm.Vì bất bình với mức lương nên ngày 5/4/2016 em nộp đơn thôi việc cho GĐ và ghi rõ thời gian nghỉ là 5/5/2016. Nhưng tới ngày 13/4/2016 GĐ gặp em và nói làm hết ngày 15/4/2016 là em có thể nghỉ vì lí do GĐ đã tuyển được người nên em có thể nghỉ không dư người làm. Tới ngày 15/4/2106 em nhận được quyết định nghỉ việc từ ngày 13/4/2016 . cho em hỏi:

1/ GĐ cho em thử việc trong thời gian trên có vi phạm luật lao động không?

2/ phép năm GĐ em tính như vậy là đúng luật hay sai luật ? vì em làm gần 1 năm rồi mà chưa được tính ngày phép năm nào cả.

3/ thời gian GĐ em cho em nghỉ việc như vậy là đúng hay sai? nếu em muốn đòi lại quyền lợi cho mình thì phải làm sao?

Em rất mong nhận được sự tư vấn sớm từ văn phong luật sư Trân trọng cảm ơn.

Cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn chúng tôi.

Trả lời:

1/ Bộ luật lao động 2019 quy định về thử việc như sau:

Điều 25. Thời gian thử việc

Thời gian thử việc do hai bên thỏa thuận căn cứ vào tính chất và mức độ phức tạp của công việc nhưng chỉ được thử việc một lần đối với một công việc và bảo đảm điều kiện sau đây:

1. Không quá 180 ngày đối với công việc của người quản lý doanh nghiệp theo quy định của Luật Doanh nghiệp, Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp;

2. Không quá 60 ngày đối với công việc có chức danh nghề nghiệp cần trình độ chuyên môn, kỹ thuật từ cao đẳng trở lên;

3. Không quá 30 ngày đối với công việc có chức danh nghề nghiệp cần trình độ chuyên môn, kỹ thuật trung cấp, công nhân kỹ thuật, nhân viên nghiệp vụ;

4. Không quá 06 ngày làm việc đối với công việc khác.

Bạn không nêu rõ công việc của mình là gì nên chúng tôi không thể tư vấn cụ thể cho bạn về thời gian thử việc chính xác nhất. Nhưng có thể thấy, thời gian thử việc tối đa là không quá 60 ngày. Theo thông tin bạn cung cấp, bạn thử việc tại CTSX ĐQ từ 15/3/2015 - 1/6/ 2015 là 79 ngày. Như vậy, thời gian thử việc công ty áp dụng với bạn là sai quy định pháp luật.

2/ BLLĐ cũng quy định về nghỉ phép năm như sau:

Điều 113. Nghỉ hằng năm

1. Người lao động làm việc đủ 12 tháng cho một người sử dụng lao động thì được nghỉ hằng năm, hưởng nguyên lương theo hợp đồng lao động như sau:

a) 12 ngày làm việc đối với người làm công việc trong điều kiện bình thường;

b) 14 ngày làm việc đối với người lao động chưa thành niên, lao động là người khuyết tật, người làm nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm;

c) 16 ngày làm việc đối với người làm nghề, công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm.

2. Người lao động làm việc chưa đủ 12 tháng cho một người sử dụng lao động thì số ngày nghỉ hằng năm theo tỷ lệ tương ứng với số tháng làm việc.

3. Trường hợp do thôi việc, bị mất việc làm mà chưa nghỉ hằng năm hoặc chưa nghỉ hết số ngày nghỉ hằng năm thì được người sử dụng lao động thanh toán tiền lương cho những ngày chưa nghỉ.

4. Người sử dụng lao động có trách nhiệm quy định lịch nghỉ hằng năm sau khi tham khảo ý kiến của người lao động và phải thông báo trước cho người lao động biết. Người lao động có thể thỏa thuận với người sử dụng lao động để nghỉ hằng năm thành nhiều lần hoặc nghỉ gộp tối đa 03 năm một lần.

5. Khi nghỉ hằng năm mà chưa đến kỳ trả lương, người lao động được tạm ứng tiền lương theo quy định tại khoản 3 Điều 101 của Bộ luật này.

6. Khi nghỉ hằng năm, nếu người lao động đi bằng các phương tiện đường bộ, đường sắt, đường thủy mà số ngày đi đường cả đi và về trên 02 ngày thì từ ngày thứ 03 trở đi được tính thêm thời gian đi đường ngoài ngày nghỉ hằng năm và chỉ được tính cho 01 lần nghỉ trong năm.

7. Chính phủ quy định chi tiết điều này.

Như vậy, bạn phải làm việc tại công ty đủ 12 tháng ( hay 1 năm) thì bạn mới có quyền được nghỉ phép năm. Vậy công ty bạn quy định như vậy là đúng quy định pháp luật.

3/ Thời gian nghỉ việc:

Trong trường hợp này,bạn chưa làm hết thời gian quy định trong hợp đồng mà chấm dứt hợp đồng, theo quy định tại Điều 36 BLLĐ như sau:

Điều 36. Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người sử dụng lao động

1. Người sử dụng lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trong trường hợp sau đây:

a) Người lao động thường xuyên không hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động được xác định theo tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thành công việc trong quy chế của người sử dụng lao động. Quy chế đánh giá mức độ hoàn thành công việc do người sử dụng lao động ban hành nhưng phải tham khảo ý kiến tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở đối với nơi có tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở;

b) Người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 12 tháng liên tục đối với người làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn hoặc đã điều trị 06 tháng liên tục đối với người làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn từ 12 tháng đến 36 tháng hoặc quá nửa thời hạn hợp đồng lao động đối với người làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa hồi phục.

Khi sức khỏe của người lao động bình phục thì người sử dụng lao động xem xét để tiếp tục giao kết hợp đồng lao động với người lao động;

c) Do thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh nguy hiểm, địch họa hoặc di dời, thu hẹp sản xuất, kinh doanh theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền mà người sử dụng lao động đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng vẫn buộc phải giảm chỗ làm việc;

d) Người lao động không có mặt tại nơi làm việc sau thời hạn quy định tại Điều 31 của Bộ luật này;

đ) Người lao động đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định tại Điều 169 của Bộ luật này, trừ trường hợp có thỏa thuận khác;

e) Người lao động tự ý bỏ việc mà không có lý do chính đáng từ 05 ngày làm việc liên tục trở lên;

g) Người lao động cung cấp không trung thực thông tin theo quy định tại khoản 2 Điều 16 của Bộ luật này khi giao kết hợp đồng lao động làm ảnh hưởng đến việc tuyển dụng người lao động.

2. Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trong trường hợp quy định tại các điểm a, b, c, đ và g khoản 1 Điều này, người sử dụng lao động phải báo trước cho người lao động như sau:

a) Ít nhất 45 ngày đối với hợp đồng lao động không xác định thời hạn;

b) Ít nhất 30 ngày đối với hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn từ 12 tháng đến 36 tháng;

c) Ít nhất 03 ngày làm việc đối với hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn dưới 12 tháng và đối với trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều này;

d) Đối với một số ngành, nghề, công việc đặc thù thì thời hạn báo trước được thực hiện theo quy định của Chính phủ.

3. Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động quy định tại điểm d và điểm e khoản 1 Điều này thì người sử dụng lao động không phải báo trước cho người lao động.

Theo đó, bạn chỉ có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng khi thỏa mãn các điều kiện quy định tại Khoản 1 Điều 37, nếu không, bạn sẽ là đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật. Hơn nữa, Bạn làm việc tại đây theo hợp đồng có thời hạn 1 năm, nên theo điểm b Khoản 2 Điều 37 bạn sẽ phải báo trước ít nhất 3 ngày. Như vậy, bạn nộp đơn xin nghỉ việc từ 5/4/2016 thì sớm nhất là 8/4/2016 bạn mới được nghỉ việc,chứ không thể nghỉ việc ngay vào ngày 5/4/2016 được. Việc GĐ yêu cầu như vậy được coi là sự thỏa thuận của hai bên để chấm dứt HĐLĐ theo quy định tại Khoản 3 Điều 36 BLLĐ, và bạn cũng chấp nhận thời gian này. Như vậy quy đinh của GĐ bạn như vậy không vi phạm quy định pháp luật.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật lao động bảo hiểm qua Emailđể nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận Luật sư lao động - Công ty luật Minh Khuê