1. Định nghĩa về hợp hiến
Chủ nghĩa hợp hiến (được hiểu theo khái niệm miêu tả) là hệ thống có những định chế chính trị với một đạo luật tối cao (thường được gọi là “hiến pháp”), trong đó tất cả (đặc biệt là toàn bộ hệ thống chính quyền) được cai quản bởi đạo luật tối cao này, mà chỉ có dân ý (được định nghĩa qua thủ tục định chế đã được ấn định trước, thường là qua cơ cấu bầu cử tuyệt đại đa số) mới có thể thay thế và sửa đổi nó ; đạo luật tối cao này cũng khó thay đổi vì không dễ gì thu thập đủ sự ủng hộ đa số cần thiết. Thêm vào đó, có sự phân chia, kiểm soát và cân bằng quyền lực và cơ quan tư pháp độc lập chuyên về lý luận luật pháp bảo tồn sự tối cao của hiến pháp. Một số tác giả, vì nghĩ rằng có nhiều lý thuyết về hiến pháp và định nghĩa chủ nghĩa hợp hiến một cách lỏng lẻo là bất cứ hệ thống chính trị nào có hiến pháp (đủ loại), sẽ gọi định nghĩa về chủ nghĩa hợp hiến của chúng ta là “chủ nghĩa hợp hiến tự do”. Trong tiểu luận này, tôi sẽ dùng các thuật ngữ “ chủ nghĩa hợp hiến” và “ chủ nghĩa hợp hiến tự do” có cùng nghĩa như nhau, bởi vì “các hệ thống hợp hiến, cả trong quá khứ lẫn hiện tại, đều… chính là các chế độ tự do”.
Hợp hiến là đúng với quy định của Hiến pháp; phù hợp với tinh thần, nội dung các quy định của Hiến pháp. Trong hệ thống pháp luật các nước, Hiến pháp là đạo luật cơ bản có giá trị pháp lí của đạo luật gốc cao nhất; các văn bản quy phạm pháp luật khác - phải được ban hành trên cơ sở Hiến pháp và phải phù hợp với Hiến pháp. Nghiêm chỉnh chấp hành Hiến pháp là nghĩa vụ của mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân. Mọi hành vi vi phạm Hiến pháp, pháp luật đều bị xử lí nghiêm khắc theo quy định của pháp luật.
Tại Hoa Kỳ, không chỉ bản thân hiến pháp hạn chế quyền lực của chính phủ, mà còn quy định rằng ba ngành khác nhau của chính phủ hạn chế quyền hạn của các ngành khác của chính phủ bằng cách áp đặt một hệ thống kiểm soát và cân bằng. Ví dụ, ở Hoa Kỳ, Tổng Thống, người đứng đầu ngành hành pháp của chính phủ, không thể tuyên bố chiến tranh chống một quốc gia khác mà không có sự chấp thuận của Quốc hội. Hiến pháp Hoa Kỳ được thành lập theo cách này để hạn chế quyền lực của bất kỳ một nhánh nào của chính phủ.
Một hình thức khác của chủ nghĩa hợp hiến trên thế giới tồn tại ở Vương quốc Anh, New Zealand, và Israel Các quốc gia này có hiến pháp bất thành văn. Một hiến pháp bất thành văn là không phải là một hiến pháp đã được viết ra thành văn bản, mà là một hệ thống luật không được viết ra, mà phụ thuộc rất nhiều vào ưu tiên lập pháp và thủ tục quốc hội. Bất chấp thiếu vắng một văn bản vật thể thực sự, trong đó luật tối cao của đất được sử dụng, loại “hiến pháp” này có thể được tham khảo tại tòa án ở các quốc gia, này, mà bản thân các chính phủ cũng tuân thủ và không thể hành động chống lại.
2. Biểu hiện của hợp hiến trên thực tế
Ở nước ta, Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao việc tuân thủ Hiến pháp, bãi bỏ các văn bản do cơ quan nhà nước ban hành trái với Hiến pháp. Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật cũng khẳng định nguyên tắc tuân thủ Hiến pháp, các văn bản quy phạm pháp luật phải hợp hiến. Bộ Tư pháp có trách nhiệm thẩm định tính hợp hiến của các dự thảo văn bản quy phạm pháp luật.
Tính hợp hiến của các văn bản là yêu cầu quan trọng của Nhà nước pháp quyền. Hiện nay, ở nhiều nước có Toà án Hiến pháp để xem xét và tuyên bố một văn bản hoặc một bàfffi vi của cơ quan nhà nước, nhà chức trách trung ương là có hợp hiến hay không.
3. Các yếu tố của Chủ nghĩa Hiến pháp
Các yếu tố của Chủ nghĩa Hiến pháp - Chính quyền bị giới hạn quyền lực gồm:i. Chính quyền phù hợp với Hiến pháp; ii. Phân quyền; iii. Chủ quyền thuộc về nhân dân, iv. Tư pháp độc lập và có tòa án Hiến pháp; v. Luật dân quyền/quyền con người; vi. Kiểm soát cảnh sát; vii. Quân đội nằm dưới điều khiển của dân sự; viii. Không 1 thế lực nào đình chỉ hoạt động một phần hoặc toàn thể hiến pháp.[4]
Trong chủ nghĩa Hiến pháp phải có Hiến pháp. Nội dung của Hiến pháp phải chứa đựng2 nội dung căn bản: Nội dung thứ nhất: Phân quyền. Có thể là phân quyền mềm dẻo tạo nên chế độ đại nghị, có thể là phân quyền cứng rắn: Chế độ tổng thống; hoặc sự phối kết hợp giữa hai loại phân quyền nói trên tạo thành chính thể hỗn hợp.
Mục đích của việc quy định nhân quyền trong Hiến pháp là rút bớt một số chủ đè nhất định ra khỏi các cuộc tranh cãi chính trị, đặt chúng ra ngoài tầm với của các nhóm người và quan chức nhà nước. coi chúng là những nguyên tắc pháp lý mà tòa án phải áp dụng. Quyền con người được sống, được tự do, được sở hữu, được tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do tín ngưỡng, tự do hội họp và các quyền cơ bản khác không thể là kết quả của việc bỏ phiếu, chúng không phụ thuộc vào bất kỳ cuộc bầu cử nào.
4. Vi hiến là gì ?
Vi hiến là hành vi làm trái quy định của Hiến pháp. Hành vi này có thể được thực hiện bởi bất kì tổ chức, cá nhân nào trong xã hội bao gồm cả các cơ quan công quyền như Quốc hội, Chính phủ hay tòa án và các cơ quan tư pháp khác … và ở bất cứ thời điểm nào trong thời gian Hiến pháp có hiệu lực.
Hành vi này có thể được thực hiện bởi bất kì tổ chức, cá nhân nào trong xã hội bao gồm cả các cơ quan công quyển như quốc hội, chính phủ hay toà án và các cơ quan tư pháp khác... và ở bất cứ thời điểm nào trong thời gian hiến pháp có hiệu lực.
5. Nhận thức chung về Hiến pháp
– Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là hệ thống các quy phạm pháp luật có hiệu lực pháp lý cao nhất quy định những vấn đề cơ bản nhất về chủ quyền quốc gia, chế độ chính trị,, chính sách kinh tế, văn hóa, xã hội, tổ chức quyền lực nhà nước, địa vị pháp lý của con người và công dân.
– Hiến pháp đã phản ánh được ý chí, nguyện vọng của nhân dân, phù hợp với tình hình thực tiễn và yêu cầu xây dựng, bảo vệ, phát triển đất nước và hội nhập quốc tế trong thời kỳ mới. Hiến pháp trải qua những lần sửa đổi, bổ sung đã có nhiều điểm mới cả về nội dung, kỹ thuật lập hiến, đã phản ánh được ý chí, nguyện vọng của đông đảo các tầng lớ nhân dân; thể hiện rõ và đầy đủ hơn bản chất dân chủ, tiến bộ của Nhà nước, quy định rõ ràng đúng đắn và đẩy đủ về chế độ chính trị, kinh tế, văn hóa, giáo dục, khoa học, công nghệ và môi trường, quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, bảo vệ tổ quốc, tổ chức bộ máy nhà nước.
– Hiến pháp là luật cơ bản, là ” luật mẹ”, luật gốc vì vậy nó là nền tàng, là cơ sở để xây dựng và phát triển toàn bộ hệ thống pháp luật quốc gia. Ngoài ra, Hiến pháp còn là luật tổ chức là luật quy định các nguyên tắc tổ chức bộ máy nhà nước, là luật xác định cách thức tổ chức và xác lập các mối quan hệ giữa các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp; quy định cấu trúc các đơn vị hành chính lãnh thổ và cách thức tổ chức chính quyền địa phương.
– Hiến pháp là luật bảo vệ các quyền con người và công dân. Các quyền con người và công dân bao giờ cũng là một phần quan trọng của Hiến pháp. Do Hiến pháp là đạo luật cơ bản của nhà nước nên các quy định về quyền con người và công dân trong hiện pháp là cơ sở pháp lý chủ yếu để nhà nước và xã hội tôn trọng và bảo đảm thực hiện các quyền con người và công dân.
– Hiến pháp là luật có hiệu lực pháp lý tối cao, tất cả các văn bản pháp luật khác không được trái với hiến pháp. Bất kỳ văn bản pháp luật nào trái với hiến pháp đều được hủy bỏ và điều này là vi hiến.
– Trước hết, chủ thể thi hành Hiến pháp là đặc biệt so với chủ thể thi hành các đạo luật bình thường khác. Đó là các cơ quan, tổ chức nắm quyền lực nhà nước. Cơ quan, tổ chức quyền lực nhà nước càng có nhiều quyền lực bao nhiêu, càng phải có trách nhiệm phải thi hành hiến pháp bấy nhiêu. Bên cạnh việc thi hành là khả năng vi phạm. Đó là Quốc hội, cơ quan thực hiện quyền lập pháp, Chính phủ, cơ quan thực hiện quyền hành pháp. Đó. còn là các cơ quan Đảng cầm quyền thông qua các hoạt động của lập pháp và hành pháp. Đó là các cơ quan chính quyền địa phương. Khác với đạo luật thường khác, việc thực thi Hiến pháp không những qua các quy định, mà còn cả tinh thần của Hiến pháp.
Thực tiễn cho thấy có hai loại hành vi vi phạm Hiến pháp:
– Thứ nhất là hành vi hành động vi hiến là hành vi của chủ thể thực hiện hành động trái với các quy định Hiến pháp, hoặc không phù hợp với Hiến pháp. Đó có thể là hành vi của cơ quan ban hành văn bản pháp luật không phù hợp hoặc trái với Hiến pháp; hành vi của một cơ quan, tổ chức, cá nhân vi phạm thẩm quyền (lạm quyền) mà Hiến pháp trao cho; hoặc hành vi của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào nhân danh nhà nước ngăn cản hoặc hạn chế việc thực hiện quyền và tự do hợp pháp của cá nhân người dân theo quy định của Hiến pháp.
– Thứ hai là hành vi không hành động vi hiến là hành vi không thực hiện thẩm quyền và nghĩa vụ đã được Hiến pháp quy định. Cơ quan, tổ chức, cá nhân được Hiến pháp giao thẩm quyền, nếu không thực hiện hoặc thực hiện không kịp thời những thẩm quyền và nghĩa vụ đó thì sẽ bị coi là vi phạm Hiến pháp không hành động.
– Trong các trường hợp mà cơ quan, cá nhân có thẩm quyền chậm trễ hoặc không thực hiện thẩm quyền ban hành văn bản quy định cụ thể về các quyền và tự do hiến định của người dân thì không bị coi là vi phạm Hiến pháp ở một số nước. Trong mối quan hệ giữa Nhà nước và người dân, một khi Nhà nước ghi nhận và khẳng định quyền và tự do của người dân trong Hiến pháp đồng nghĩa với việc Nhà nước xác định nghĩa vụ, trách nhiệm của mình phải bảo đảm thực hiện. Do vậy, sự thiếu hụt hay chậm trễ ban hành của các văn bản quy phạm pháp luật quy định quyền và tự do hiến định của người dân cũng phải được coi là vấn đề Hiến pháp và xem xét tính hợp hiến của hành vi không hành động của cơ quan, cá nhân được trao thẩm quyền.
– Trong khi đó, các hành vi vi hiến không phải là không có, hoạt động bảo hiến ở Việt Nam chỉ được hiểu và quy định ở nghĩa rộng, bao gồm các hoạt động giám sát của các cơ quan nhà nước cấp trên đối với các cơ nhà nước cấp dưới và cho đến tận hành vi tuân thủ Hiến pháp của các công dân.
– Hiến pháp giao cho Quốc hội được quyền giám sát tối cao đối với các hoạt động tuân thủ Hiến pháp của mọi cơ quan nhà nước. Đây cũng là một điều phi lý, vì chính Quốc hội mới là chủ thể tiềm tàng khả năng nhất cho việc vi phạm Hiến pháp. Thứ đến là các cơ quan hành pháp, mà đứng đầu là Thủ tướng Chính phủ, trong danh sách các chủ thể tiềm tàng khả năng vi phạm Hiến pháp.
Luật Minh Khuê (tổng hợp & phân tích)