1. Hưởng bảo hiểm trách nhiệm dân sự khi bị tai nạn giao thông như thế nào?

Thưa luật sư, tôi có một thắc mắc muốn hỏi luật sư như sau ạ: Chồng tôi lái xe ô tô do vượt trong điều kiện không an toàn (khi đang vượt thì có xe tải đi ngược chiều nên phải đánh lái sang bên trái) và va vào 1 xe máy làm cho người điều khiển xe máy ngã xuống đường. Do lúc đó không có ai nên chồng tôi phải đưa nạn nhân đi cấp cứu và khi quay lại hiện trường thì gia đình tôi đã báo công an phường và công an giao thông ra giải quyết tai nạn. Người lái xe máy bị chấn thương và gia đình tôi đã bồi thường cho gia đình nạn nhân số tiền là 30 triệu và các chi phí nằm viện khác.
Vậy luật sư cho tôi hỏi với trường hợp như như vậy thì chồng tôi sẽ được hưởng mức bảo hiểm trách nhiệm dân sự như thế nào (xe tôi mua đầy đủ bảo hiểm, giấy tờ xe, bằng lái...)?
Tôi xin chân thành cảm ơn.

>> Luật sư tư vấn Luật Dân sự về bồi thường thiệt hại trực tuyến, gọi:1900.6162

Trả lời:

Đối với trường hợp bạn đề cập, chồng bạn lái xe oto do vượt trong điều kiện không an toàn (khi đang vượt thì có xe tải đi ngược chiều nên phải đánh lái sang bên trái) và va vào 1 xe máy. Làm cho người điều khiển xe máy ngã xuống đường. Như vậy chồng bạn có là người có lỗi. Đồng thời, theo thông tin bạn cung cấp thì xe chồng bạn mua đầy đủ bảo hiểm, giấy tờ xe, bằng lái... Do đó, chồng bạn đã đóng bảo hiểm trách nhiệm đối với xe cơ giới vậy anh sẽ được hưởng quyền bảo hiểm trừ khi anh thuộc một trong những trường hợp quy định tại Điều 13 Nghị định số 103/2008/NĐ-CP Về bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới sau đây:

Doanh nghiệp bảo hiểm không bồi thường thiệt hại đối với các trường hợp sau:

1. Hành động cố ý gây thiệt hại của chủ xe, lái xe, hoặc của người bị thiệt hại.

2. Lái xe gây tai nạn cố ý bỏ chạy không thực hiện trách nhiệm dân sự của chủ xe, lái xe cơ giới.

3. Lái xe không có Giấy phép lái xe hoặc Giấy phép lái xe không phù hợp đối với loại xe cơ giới bắt buộc phải có Giấy phép lái xe.

4. Thiệt hại gây ra hậu quả gián tiếp như: giảm giá trị thương mại, thiệt hại gắn liền với việc sử dụng và khai thác tài sản bị thiệt hại.

5. Thiệt hại đối với tài sản bị mất cắp hoặc bị cướp trong tai nạn.

6. Chiến tranh, khủng bố, động đất.

7. Thiệt hại đối với tài sản đặc biệt bao gồm: vàng, bạc, đá quý, tiền, các loại giấy tờ có giá trị như tiền, đồ cổ, tranh ảnh quý hiếm, thi hài, hài cốt.

Do đó trong vòng 5 ngày kể từ ngày xảy ra tai nạn thì chồng bạn phải gửi thông báo bằng văn bản đến doanh nghiệp bảo hiểm kèm theo các tài liệu sau để yêu cầu bồi thường thuộc trách nhiệm của xe cơ giới:

- Tài liệu liên quan đến xe, lái xe;

- Các giấy tờ chứng minh thiệt hại về người và tài sản;

- Tài liệu liên quan của cơ quan có thẩm quyền về vụ tai nạn.

Mức trách nhiệm của doanh nghiệp bảo hiểm được quy định tại Điều 9 Thông tư 22/2016/TT-BTC quy định quy tắc, điều khoản, biểu phí và mức trách nhiệm bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới:

"Điều 9. Mức trách nhiệm bảo hiểm

Mức trách nhiệm bảo hiểm là số tiền tối đa doanh nghiệp bảo hiểm có thể phải trả đối với thiệt hại về thân thể, tính mạng và tài sản của bên thứ ba và hành khách do xe cơ giới gây ra trong mỗi vụ tai nạn xảy ra thuộc phạm vi trách nhiệm bảo hiểm. Cụ thể như sau:
1. Mức trách nhiệm bảo hiểm đối với thiệt hại về người do xe cơ giới gây ra là 100 triệu đồng/1 người/1 vụ tai nạn.
2. Mức trách nhiệm bảo hiểm đối với thiệt hại về tài sản do xe mô tô hai bánh, xe mô tô ba bánh, xe gắn máy và các loại xe cơ giới tương tự (kể cả xe cơ giới dùng cho người tàn tật) gây ra là 50 triệu đồng/1 vụ tai nạn.
3. Mức trách nhiệm bảo hiểm đối với thiệt hại về tài sản do xe ô tô, máy kéo, xe máy thi công, xe máy nông nghiệp, lâm nghiệp và các loại xe đặc chủng khác sử dụng vào Mục đích an ninh, quốc phòng (kể cả rơ-moóc và sơ mi rơ-moóc được kéo bởi xe ô tô hoặc máy kéo) gây ra là 100 triệu đồng/1 vụ tai nạn."

Theo đó, đối với thiệt hại về người:

- Mức bồi thường được xác định căn cứ vào quyết định của tòa án.

- Trong trường hợp không có quyết định của tòa án, mức bồi thường được xác định dựa trên Bảng quy định trả tiền bồi thường thiệt hại về người quy định tại Phụ lục số 6 ban hành kèm theo Thông tư 22/2016/TT-BTC.

- Trường hợp chủ xe cơ giới đồng thời tham gia nhiều hợp đồng bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự cho cùng một xe cơ giới thì số tiền bồi thường chỉ được tính theo hợp đồng bảo hiểm có hiệu lực bảo hiểm trước.

Đối với thiệt hại về tài sản:

- Mức bồi thường được xác định theo thiệt hại thực tế và theo mức độ lỗi của chủ xe cơ giới.

- Trường hợp chủ xe cơ giới đồng thời tham gia nhiều hợp đồng bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự cho cùng một xe cơ giới thì số tiền bồi thường chỉ được tính theo hợp đồng bảo hiểm có hiệu lực bảo hiểm trước.

- Chi phí cần thiết và hợp lý nhằm ngăn ngừa, hạn chế tổn thất liên quan tới vụ tai nạn mà chủ xe cơ giới đã chi ra.

>> Xem thêm:  Nguồn nguy hiểm cao độ là gì ? Khái niệm nguồn nguy hiểm cao độ được hiểu như thế nào ?

2. Chế độ bảo hiểm khi bị tai nạn giao thông?

Em tôi đi làm ở một công ty và đóng bảo hiểm đầy đủ. Tháng 10/2018 do thu nhập không đảm bảo em tôi có chuyển sang công ty mới, công ty cũ đã chốt sổ bảo hiểm cho em tôi đến hết tháng 10/2018. Bắt đầu làm việc tại công ty mới từ ngày 01/11/2018.

Ngày 28/11/2018 trên đường đi giao hàng em tôi bị tai nạn xe máy tử vong tại chỗ, công ty mới chưa đóng bảo hiểm cũng như các chế độ khác cho em tôi. Tôi xin hỏi luật sư trách nhiệm của công ty mới với em tôi như thế nào ?

Cảm ơn!

- V.H.S

>> Xem ngay: Tư vấn xử lý việc vô tình gây tai nạn giao thông chết người ?

Theo quy định tại Luật an toàn vệ sinh lao động năm 2015 thì:

Điều 38. Trách nhiệm của người sử dụng lao động đối với người lao động bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp
Người sử dụng lao động có trách nhiệm đối với người lao động bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp như sau:
1. Kịp thời sơ cứu, cấp cứu cho người lao động bị tai nạn lao động và phải tạm ứng chi phí sơ cứu, cấp cứu và điều trị cho người lao động bị tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp;
2. Thanh toán chi phí y tế từ khi sơ cứu, cấp cứu đến khi điều trị ổn định cho người bị tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp như sau:
a) Thanh toán phần chi phí đồng chi trả và những chi phí không nằm trong danh mục do bảo hiểm y tế chi trả đối với người lao động tham gia bảo hiểm y tế;
b) Trả phí khám giám định mức suy giảm khả năng lao động đối với những trường hợp kết luận suy giảm khả năng lao động dưới 5% do người sử dụng lao động giới thiệu người lao động đi khám giám định mức suy giảm khả năng lao động tại Hội đồng giám định y khoa;
c) Thanh toán toàn bộ chi phí y tế đối với người lao động không tham gia bảo hiểm y tế;
3. Trả đủ tiền lương cho người lao động bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp phải nghỉ việc trong thời gian điều trị, phục hồi chức năng lao động;
4. Bồi thường cho người lao động bị tai nạn lao động mà không hoàn toàn do lỗi của chính người này gây ra và cho người lao động bị bệnh nghề nghiệp với mức như sau:
a) Ít nhất bằng 1,5 tháng tiền lương nếu bị suy giảm từ 5% đến 10% khả năng lao động; sau đó cứ tăng 1% được cộng thêm 0,4 tháng tiền lương nếu bị suy giảm khả năng lao động từ 11% đến 80%;
b) Ít nhất 30 tháng tiền lương cho người lao động bị suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên hoặc cho thân nhân người lao động bị chết do tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp;
5. Trợ cấp cho người lao động bị tai nạn lao động mà do lỗi của chính họ gây ra một khoản tiền ít nhất bằng 40% mức quy định tại khoản 4 Điều này với mức suy giảm khả năng lao động tương ứng;
6. Giới thiệu để người lao động bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp được giám định y khoa xác định mức độ suy giảm khả năng lao động, được điều trị, điều dưỡng, phục hồi chức năng lao động theo quy định pháp luật;
7. Thực hiện bồi thường, trợ cấp đối với người bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp trong thời hạn 05 ngày, kể từ ngày có kết luận của Hội đồng giám định y khoa về mức suy giảm khả năng lao động hoặc kể từ ngày Đoàn điều tra tai nạn lao động công bố biên bản điều tra tai nạn lao động đối với các vụ tai nạn lao động chết người;
8. Sắp xếp công việc phù hợp với sức khỏe theo kết luận của Hội đồng giám định y khoa đối với người lao động bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp sau khi điều trị, phục hồi chức năng nếu còn tiếp tục làm việc;
9. Lập hồ sơ hưởng chế độ về tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp từ Quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp theo quy định tại Mục 3 Chương này;
10. Tiền lương để làm cơ sở thực hiện các chế độ bồi thường, trợ cấp, tiền lương trả cho người lao động nghỉ việc do bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp được quy định tại các khoản 3, 4 và 5 Điều này là tiền lương bao gồm mức lương, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác thực hiện theo quy định của pháp luật về lao động.
11. Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội quy định chi tiết các khoản 3, 4 và 5 Điều này.

>> Xem thêm:  Tai nạn giao thông là gì ? Quy định chung về tai nạn giao thông

3. Gây tai nạn giao thông làm chết người thì chịu trách nhiệm hình sự như thế nào ?

Chào Luật sư, tôi xin hỏi vấn đề​ sau: H điều khiển xe máy 92P1-xxxxx từ hướng Phạm Văn Đồng về đường Hồ Chí Minh theo đường Huỳnh Thúc Kháng để về nhà tại khối 1, Khâm Đức. Khi đi đến khu vực trước nhà số 5, đường Huỳnh Thúc Kháng thì từ phía bên lề phải đường (so với hướng đi của H) có cháu T tự ý đi xuống lòng đường; H bất ngờ nên không kịp thắng mà chỉ điều khiển xe tránh sang phải, nhưng xe 92P1-xxxxx vẫn tông vào cháu T.
Khi bị tông, cháu T văng sang bên trái đường, H sợ ngã nên không dừng xe ngay lập tức mà thắng (phanh) xe từ từ được một đoạn rồi mới dừng lại, sau đó H điều khiển xe quay lại chỗ cháu T. H cùng với người nhà cháu T chở cháu T đi cấp cứu tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Quảng Nam. Hậu quả cháu T chết. Khi H điều khiển xe thì có sử dụng chất kích thích đo được là 1.229mg/l khí thở. Vậy H có bị truy cứu trách nhiệm hình sự không?

Gây tai nạn giao thông làm chết người thì chịu trách nhiệm hình sự như thế nào ?

Luật sư tư vấn luật hình sự trực tuyến, gọi:1900.6162

Trả lời:

Theo quy định tại Điều 260 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, hành vi của H đã cấu thành tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ, cụ thể như sau:

"Điều 260. Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) Làm chết người;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;

c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%;

d) Gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:

a) Không có giấy phép lái xe theo quy định;

b) Trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định, có sử dụng chất ma túy hoặc chất kích thích mạnh khác;

c) Bỏ chạy để trốn tránh trách nhiệm hoặc cố ý không cứu giúp người bị nạn;

d) Không chấp hành hiệu lệnh của người điều khiển hoặc hướng dẫn giao thông;

đ) Làm chết 02 người;

e) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 122% đến 200%;

g) Gây thiệt hại về tài sản từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.500.000.000 đồng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) Làm chết 03 người trở lên;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này 201% trở lên;

c) Gây thiệt hại về tài sản 1.500.000.000 đồng trở lên.

4. Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ trong trường hợp có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả quy định tại một trong các điểm a, b và c khoản 3 Điều này nếu không được ngăn chặn kịp thời, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm.

5. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Theo đó, H đã điều khiển xe khi nồng độ cồn vượt quá mức cho phép, vi phạm quy định giao thông đường bộ và gây thiệt hại đến tính mạng của người khác. Theo quy định tại điều 8 Luật giao thông đường bộ 2008:

"Điều 8. Các hành vi bị nghiêm cấm...

8. Điều khiển xe ô tô, máy kéo, xe máy chuyên dùng trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn.

Điều khiển xe mô tô, xe gắn máy mà trong máu có nồng độ cồn vượt quá 50 miligam/100 mililít máu hoặc 0,25 miligam/1 lít khí thở. ..."

Theo thông tin cung cấp ở trên, khi gây tai nạn, nồng độ cồn của H là 1.229 mg/lit khí thở, H có thể truy cứu TNHS theo quy định tại khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. Ngoài việc phải chịu trách nhiệm hình sự thì H còn phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại về dân sự theo quy định của Bộ luật Dân sự 2015

>> Xem thêm:  Quy định về tiêu chuẩn sức khỏe của người lái xe năm 2021

4. Trách nhiệm bồi thường do tai nạn giao thông khi người gây tai nạn bị chết?

Kính thưa Luật sư. Tôi tên là T hiện ở Đồng Tháp. Vừa qua gia đình của người chị bà con tôi có xảy vụ tai nạn giao thông làm cho chồng chị bị mất. Tôi xin trình bày sự việc như sau: Sau cuộc nhậu với bạn bè, chồng của chị tôi điều khiển xe về nhà trong tình trạng có rượu bia trong người, đồng thời cũng không đội mũ bảo hiểm và chạy với tốc độ cao do đó khi đến ngã tư giao nhau của khu công nghiệp đã tông vào xe của hai cô gái làm cho người ngồi sau bị gãy xương chậu, người ngồi trước chỉ bị xây xát nhẹ được chở đi bệnh viện cấp cứu, còn chồng của chị tôi bị nứt sọ cho đi bệnh viện trong tình trạng nguy kịch. Và qua vài ngày điều trị chồng của chị tôi mất. Còn hai cô gái kia người bị xây xát không yêu cầu bồi thường, còn người bị gãy xương chậu yêu cầu bồi thường. Qua sự việc gia đình chị tôi rất mong các vị luật sư có thể tư vấn cho chị tôi biết được các nghĩa vụ đối với người bị tai nạn (vì lỗi thuộc chồng của chị tôi) như sau:

1/ Hiện nay chồng chị bị mất vậy gia đình của chị tôi có phải bồi thường cho cô gái gãy xương chậu kia không?

2/ Nếu bồi thường thì gia đình chị tôi phải bồi thường những khoản tiền nào?

3/ Hiện nay chị tôi đang nuôi con nhỏ dưới hai tuổi diều này có ảnh hưởng đến mức bồi thường không? Gia đình chị tôi rất mong nhận được sư giúp đỡ từ các vị luật sư. Tôi xin chân thành cảm ơn.

>> Luật sư tư vấn Luật dân sự, giao thông trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

4.1. Trách nhiệm bồi thường

Điều 584 Bộ luật dân sự 2015 có quy định:

"Điều 584. Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại

1. Người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác.

2. Người gây thiệt hại không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp thiệt hại phát sinh là do sự kiện bất khả kháng hoặc hoàn toàn do lỗi của bên bị thiệt hại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.

3. Trường hợp tài sản gây thiệt hại thì chủ sở hữu, người chiếm hữu tài sản phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp thiệt hại phát sinh theo quy định tại khoản 2 Điều này."

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng chỉ phát sinh khi có đầy đủ các yếu tố:

- Phải có thiệt hại xảy ra gồm: Thiệt hại về vật chất và thiệt hại do tổn thất tinh thần;

- Phải có hành vi trái pháp luật: Là những xử sự cụ thể của con người được thể hiện thông qua hành động trái với các quy định của pháp luật;

- Phải có mối quan hệ nhân qủa giữa thiệt hại xảy ra và hành vi trái pháp luật. Thiệt hại xảy ra là kết quả tất yếu của hành vi trái pháp luật. Thiệt hại xảy ra và hành vi trái pháp luật. Thiệt hại xảy ra phải là kết quả tất yếu của hành vi trái pháp luật và ngược lại hành vi trái pháp luật là nguyên nhân gây thiệt hại.

- Phải có lỗi cố ý hoặc vô ý của người gây thiệt hại.

Căn cứ tình huống bạn trình bày cũng như quy định trên của pháp luật chồng của chị bạn do say rượu, không đội mũ bảo hiểm lại chạy với tốc độ cao gây tai nạn cho hai người phụ nữ trong đó có một người bị gãy xương chậu có thể thấy chồng chị bạn có lỗi trong việc gây thiệt hại cho người phụ nữ kia khiến người này bị thiệt hại về sức khỏe là gẫy xương chậu. Do đó, chồng chị bạn có trách nhiệm bồi thường trong trường hợp này. Tuy nhiên, chồng chị bạn đã bị mất trong vụ tai nạn nên trách nhiệm bồi thường sẽ thực hiện theo quy định tại Điều 615 Bộ luật Dân sự 2015:

"Điều 615. Thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại

1. Những người hưởng thừa kế có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài sản trong phạm vi di sản do người chết để lại, trừ trường hợp có thoả thuận khác.

2. Trường hợp di sản chưa được chia thì nghĩa vụ tài sản do người chết để lại được người quản lý di sản thực hiện theo thoả thuận của những người thừa kế trong phạm vi di sản do người chết để lại.

3. Trường hợp di sản đã được chia thì mỗi người thừa kế thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại tương ứng nhưng không vượt quá phần tài sản mà mình đã nhận, trừ trường hợp có thoả thuận khác.

4. Trường hợp người thừa kế không phải là cá nhân hưởng di sản theo di chúc thì cũng phải thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại như người thừa kế là cá nhân."

Theo đó, những người hưởng thừa kế của chồng chị bạn sẽ có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ bồi thường thiệt hại cho người phụ nữ kia.

4.2. Mức bồi thường thiệt hại

Điều 590 Bộ luật dân sự 2015 có quy định như sau:

"Điều 590. Thiệt hại do sức khoẻ bị xâm phạm

1. Thiệt hại do sức khoẻ bị xâm phạm bao gồm:

a) Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khoẻ và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại;

b) Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại; nếu thu nhập thực tế của người bị thiệt hại không ổn định và không thể xác định được thì áp dụng mức thu nhập trung bình của lao động cùng loại;

c) Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị; nếu người bị thiệt hại mất khả năng lao động và cần phải có người thường xuyên chăm sóc thì thiệt hại bao gồm cả chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại;

d) Thiệt hại khác do luật quy định.

2. Người chịu trách nhiệm bồi thường trong trường hợp sức khoẻ của người khác bị xâm phạm phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần mà người đó gánh chịu. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thoả thuận; nếu không thoả thuận được thì mức tối đa cho một người có sức khỏe bị xâm phạm không quá năm mươi lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định."

Theo đó, do chồng chị bạn gây tai nạn khiến người phụ nữ kia bị thiệt hại về sức khỏe là gẫy xương chậu nên gia đình chị bạn phải bồi thường cho người bị thiệt hại, bao gồm:Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khoẻ và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại; Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại; nếu thu nhập thực tế của người bị thiệt hại không ổn định và không thể xác định được thì áp dụng mức thu nhập trung bình của lao động cùng loại; Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị; nếu người bị thiệt hại mất khả năng lao động và cần có người thường xuyên chăm sóc thì thiệt hại bao gồm cả chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại. Bên cạnh đó, gia đình chị bạn còn phải bồi thường một khoản tiền khác để bù đắp tình thần mà người phụ nữ đó phải gánh chịu, mức bồi thường sẽ do hai bên thỏa thuận, nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa không quá ba mươi tháng lương tối thiểu do nhà nước quy định.

4.3. Người phải bồi thường đang nuôi con nhỏ có ảnh hưởng đến mức bồi thường hay không?

Điều 584 Bộ luật dân sự 2015 có quy định về nguyên tắc bồi thường như sau:

"Điều 605. Nguyên tắc bồi thường thiệt hại

1. Người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác.

2. Người gây thiệt hại không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp thiệt hại phát sinh là do sự kiện bất khả kháng hoặc hoàn toàn do lỗi của bên bị thiệt hại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.

3. Trường hợp tài sản gây thiệt hại thì chủ sở hữu, người chiếm hữu tài sản phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp thiệt hại phát sinh theo quy định tại khoản 2 Điều này."

Theo đó, việc chị bạn nuôi con 2 tuổi không ảnh hưởng đến mức bồi thường mà việc được giảm hay không còn phải căn cứ vào việc thiệt hại cần bồi thường quá lớn so với khả năng kinh tế của chị bạn hay không.

>> Xem thêm:  Người gây tai nạn giao thông rồi bỏ trốn thì sẽ bị pháp luật xử lý như thế nào?

5. Tư vấn vấn đề bồi thường thiệt hại do tai nạn giao thông ?

Thưa luật sư, em có một vấn đề cần hỏi như sau: Anh trai em vừa bị tai nạn giao thông. Trong quá trình lưu thông, anh em có chở thêm một người bạn và cả hai đều có uống rượu bia trước đó, người ngồi sau anh em lại không đội mũ bảo hiểm.

Anh em gây ra tai nạn cho một xe gắn máy chở ba người. Gia đình em đã có đền bù cho ba người bị tai nạn đó. Duy chỉ có vấn đề của người bạn ngồi sau lưng anh em làm em thấy lúng túng. Vì trước đó, anh em không có ý định chở người bạn này nhưng người bạn này (em sẽ gọi là anh B) một mực đòi theo xe anh trai em. Nhưng nhà anh B đã đóng cửa nên anh ấy không đội mũ bảo hiểm. Khi đi được khoảng 500m thì gặp tai nạn. Gia đình anh B lúc đó đã yêu cầu nhà em đền bù 10 triệu cho anh B mổ chân (nhưng chi phí mổ lại không đến 10 triệu), bây giờ gia đình anh B lại yêu cầu thêm gia đình em đền bù thêm 5 triệu nữa mới đồng ý làm đơn bãi nại. Như vậy không phải là gia đình em chịu thiệt hay sao? Trong khi chi phí chịu bồi thường đều do gia đình em chịu, tiền nhập viện, tiền phẩu thuật cũng do gia đình em chịu, bậy giờ lại yêu cầu thêm 5 triệu nữa. Như vậy gia đình em có cần phải đưa thêm tiền cho anh B nữa hay không?

Em xin chân thành cảm ơn !

Rất mong nhận được sự hợp tác !

Trân trọng./.


Bộ phận tư vấn pháp luật dân sự - Công ty luật Minh KHuê

>> Xem thêm:  Bị công an giữ bằng lái xe sau 1 năm có lấy lại được không ?

Các câu hỏi thường gặp

Câu hỏi: Không mua bảo hiểm trách nhiệm dân sự khi dùng xe máy có được không?

Trả lời:

Theo quy định của Điều 58 của Luật Giao thông đường bộ năm 2008, người lái xe tham gia giao thông phải mang theo các giấy tờ, trong đó có:

"d) Giấy chứng nhận bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới."

Ngoài ra, nếu người điều khiển xe máy không có hoặc không mang bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe thì có thể bị xử lý theo quy định tại Khoản 2 Điều 21 của Nghị định 100/2019/NĐ-CP quy định xử ơhạt vi ơhạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ, đường sắt:

"2. Phạt tiền từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:

a) Người điều khiển xe mô tô, xe gắn máy, các loại xe tương tự xe mô tô và các loại xe tương tự xe gắn máy không có hoặc không mang theo Giấy chứng nhận bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới còn hiệu lực;"

Câu hỏi: Tai nạn giao thông làm chết người nhưng thân nhân của người chết đã làm đơn bãi nại thì có phải chịu trách nhiêm hình sự không?

Trả lời:

Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định như sau:

"Điều 260. Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) Làm chết người;"

Theo đó, khi có hành vi vi phạm an toàn giao thông gây ra hậu quả là làm chết người thì phải chịu trách nhiệm hình sự. Hơn nữa, Điều 155 của Bộ luật Tố tung hình sự năm 2015 có quy định như sau:

"Điều 155. Khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại

1. Chỉ được khởi tố vụ án hình sự về tội phạm quy định tại khoản 1 các điều 134, 135, 136, 138, 139, 141, 143, 155, 156 và 226 của Bộ luật hình sự khi có yêu cầu của bị hại hoặc người đại diện của bị hại là người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất hoặc đã chết."

Như vậy, tội phạm về an toàn giao thông tại Điều 260 của Bộ luật Hình sự không thuộc các trường hợp khởi tố theo yêu cầu của người bị hại nên ngay cả trong trường hợp thân nhân của người chết làm đơn bãi nai thì người phạm tội vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự.

Câu hỏi: Cho bạn không có bằng lái mượn xe máy đi gây tai nạn thì chủ xe có phải chịu trách nhiệm gì không?

Trả lời:

Điều 601 của Bộ luật Dân sự năm 2015 có quy định như sau:

"Điều 601. Bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra

1. Nguồn nguy hiểm cao độ bao gồm phương tiện giao thông vận tải cơ giới, hệ thống tải điện, nhà máy công nghiệp đang hoạt động, vũ khí, chất nổ, chất cháy, chất độc, chất phóng xạ, thú dữ và các nguồn nguy hiểm cao độ khác do pháp luật quy định.

... 4. Trường hợp nguồn nguy hiểm cao độ bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật thì người đang chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ trái pháp luật phải bồi thường thiệt hại.

Khi chủ sở hữu, người chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ có lỗi trong việc để nguồn nguy hiểm cao độ bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật thì phải liên đới bồi thường thiệt hại."

Theo đó, chủ sở hữu của xe khi biết bạn chưa có bằng lái nhưng vẫn cho mượn xe đi và bạn gây tai nan giao thông thì chủ xe vẫn phải chịu trách nhiệm liên đới trong việc bồi thường thiệt hại.