1. Tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu trong trường hợp lừa đảo ?

Thưa luật sư! Bà tôi hiện đã gần 80 tuổi, bị những người của 1 công ty lừa đảo để tham gia vào đa cấp. Hàng ngày, họ đưa đón bà tôi đi tham gia vào những phòng bệnh để mát xa và chữa bệnh. Bà tôi tuổi đã cao nên thấy như vậy rất vui và sau nhiều lần tham gia đóng tiền vào công ty có rủ thêm con cháu trong gia đình cùng tham gia nhưng mọi người trong gia đình đều khuyên ngăn nhưng bà không nghe và vẫn cho là họ tốt. Đến nay, bà bị một người đàn ông đến đón cả 2 ông bà đi và kí vào rất nhiều giấy tờ nhưng vì ông bà lớn tuổi không hiểu rõ giấy tờ gì và đã kí hết vào. Và bây giờ ngân hàng thông báo cho gia đình là sổ đỏ của gia đình đã chuyển cho một người khác đó chính là người đã dẫn ông bà đi. Hiện giờ sổ đỏ đã mang tên của người đàn ông kia và gia đình tôi đang rất lo lắng về chuyện này. Kính mong luật sư có thể tư vấn cho tôi hiện tôi phải làm gì để lấy lại được tiền và sổ đỏ mà bà tôi đã bị lừa?

Tôi xin chân thành cảm ơn!

>> Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Trước hết, bạn phải xác định được giao dịch dân sự ông bà bạn đã thực hiện có đủ điều kiện để yêu cầu Toà án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu hay không.

Hiện, Bộ luật dân sự năm 2015 có quy định về điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự và giao dịch dân sự vô hiệu như sau:

Điều 117. Điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự

1. Giao dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau đây:

a) Chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập;

b) Chủ thể tham gia giao dịch dân sự hoàn toàn tự nguyện;

c) Mục đích và nội dung của giao dịch dân sự không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.

2. Hình thức của giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự trong trường hợp luật có quy định

Điều 122. Giao dịch dân sự vô hiệu

Giao dịch dân sự không có một trong các điều kiện được quy định tại Điều 117 của Bộ luật này thì vô hiệu, trừ trường hợp Bộ luật này có quy định khác.

Điều 127. Giao dịch dân sự vô hiệu do bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép

Khi một bên tham gia giao dịch dân sự do bị lừa dối hoặc bị đe dọa, cưỡng ép thì có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự đó là vô hiệu.

Lừa dối trong giao dịch dân sự là hành vi cố ý của một bên hoặc của người thứ ba nhằm làm cho bên kia hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất của đối tượng hoặc nội dung của giao dịch dân sự nên đã xác lập giao dịch đó.

Đe dọa, cưỡng ép trong giao dịch dân sự là hành vi cố ý của một bên hoặc người thứ ba làm cho bên kia buộc phải thực hiện giao dịch dân sự nhằm tránh thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, uy tín, nhân phẩm, tài sản của mình hoặc của người thân thích của mình.

Theo như bạn trình bày, ông bà đã ký vào nhiều giấy tờ nhưng không hiểu rõ đó là giấy tờ gì, do đó bạn có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự này vô hiệu theo điều 127 Bộ luật dân sự năm 2015.

Về hậu quả của giao dịch dân sự vô hiệu sẽ xác định như sau:

Điều 131. Hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu

1. Giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm giao dịch được xác lập.

2. Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận.

Trường hợp không thể hoàn trả được bằng hiện vật thì trị giá thành tiền để hoàn trả.

3. Bên ngay tình trong việc thu hoa lợi, lợi tức không phải hoàn trả lại hoa lợi, lợi tức đó.

4. Bên có lỗi gây thiệt hại thì phải bồi thường.

5. Việc giải quyết hậu quả của giao dịch dân sự vô hiệu liên quan đến quyền nhân thân do Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định.

Như vậy, khi tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu thì giấy tờ ông bà bạn đã ký không còn hiệu lực, không làm phát sinh thay đổi các quyền và nghĩa vụ của ông bà bạn đối với quyền sử dụng đất.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

2. Tư vấn khi bị lừa vay tiền của tổ chức đa cấp.

Xin chào luật sư, em hiện đang là sinh viên. Hai hôm trước em có tham gia câu lạc bộ phát triển cộng đồng và có được vay 6.000.000 đồng. Giờ họ bắt em đến câu lạc bộ đó bán hàng để trả nợ. Giờ em rất hoang mang và không biết phải xử lý như thế nào ?

Mong luật sư giúp đỡ tư vấn cho em ạ.

Làm sao để giải quyết vấn đề khi bị lừa đảo chiếm đoạt tài sản

Luật sư tư vấn pháp luật Hình sự trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Hiện nay có nhiều bạn sinh viên khi ra các thành phố lớn như Hà Nội, TP.Hồ Chí Minh...do nhu cầu của cuộc sống nên đã tìm việc làm thêm nhằm kiếm thêm thu nhập. Tuy nhiên đó chính là điểm mấu chốt để những thành phần bất hảo trong xã hội lợi dụng để trục lợi. Chúng tôi rất thông cảm với bạn, với tư cách tư vấn viên chúng tôi khuyên bạn như sau:

- Bạn không nên che giấu sự việc với người thân, bạn bè: Tâm lý của con người nói chung và những người rơi vào thế bị động thường không dám nói ra sự thật. Chính điều này đã khiến cho sự việc càng trở nên phức tạp vì càng che giấu sự việc càng khó giải quyết.

- Thông báo với cơ quan công an để họ vào cuộc nhằm điều tra rõ hành vi của Công ty đa cấp đó, tuy nhiên cái khó đó là phải xác định được mối quan hệ giữa bạn với công ty đó (bạn có giao chứng minh nhân dân bản gốc, có ký kết hợp đồng....) và mối quan hệ giữa công ty đa cấp đó với tổ chức, cá nhân cho vay nặng lãi (có giấy tờ, chứng cứ gì chứng minh khoản vay?). Nếu xác định sáng tỏ được mối quan hệ này thì quyền lợi của bạn sẽ được đảm bảo.

Cuối cùng chúng tôi hy vọng bạn bình tĩnh để có những giải pháp tốt nhất bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình.

Trên đây là tư vấn của Luật Minh Khuê về thắc mắc của bạn. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi ngay số: 1900.6162 để được giải đáp.

3. Bị lừa đảo mua sản phẩm chức năng có đòi lại được tiền ?

Chào anh chị ! Em có vấn đề này mong anh chị tư vấn giúp ạ: Bố em ở quê có bị một người bạn dụ mua sản phẩm chức năng với giá 10 triệu đồng. Nhưng giờ gia đình em phát hiện ra không cho bố mua nữa. Người bạn kia đã hứa là sẽ trả lại tiền nhưng mấy tháng rồi vẫn chưa trả, toàn khất tháng sau rồi lại tháng sau. Vì lúc mua bố em không hề làm hợp đồng, việc mua bán chỉ là trao đổi miệng của hai người nên em không biết làm cách nào để lấy lại được tiền. Việc bán hàng này em nghĩ là giống như đa cấp, vì bố em bảo là mua hàng, gói càng lớn lãi suất hàng tháng sẽ càng nhiều. Ví dụ như bố em mua gói 10 triệu thì một tháng sẽ được 30 nghìn đồng thì phải. Em muốn hỏi số tiền mua sản phẩm có đòi lại được không ạ? Mong các anh chị giúp em!

>> Luật sư tư vấn về pháp luật dân sự, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Trong trường hợp của bạn, giữa bố bạn và người bạn của bố bạn có phát sinh giao dịch mua bán hàng hoá. Giao dịch này là giao dịch dân sự thông thường và như bạn trình bày thì chúng tôi vẫn chưa thấy có biểu hiện vi phạm pháp luật trong trường hợp này.

Tuy nhiên, trong trường hợp người bán chậm giao hàng, hoặc giao hàng hoá không đúng với chất lượng đã thoả thuận thì bố bạn hoàn toàn có quyền yêu cầu hoàn trả lại số tiền đã mua hàng nếu bên bán không cung cấp đúng, đủ số lượng hàng hoá như đã thoả thuận. Trường hợp hai bên không tự giải quyết được thì bố bạn có thể khởi kiện ra toà án yêu cầu bên bán hoàn trả lại tiền do vi phạm nghĩa vụ hợp đồng.

4. Làm sao để giải quyết vấn đề khi bị lừa đảo chiếm đoạt tài sản

Xin chào, luật sư tôi tên là Phương tôi có một số vấn đề mong luật sư giải đáp. Nhà tôi có một chiếc xe máy ( giá trị khoảng 40 triệu đồng). Vào ngày 12/10/2017 có cho anh A mượn sau một thời gian không thấy trả gia đình tôi đã yêu cầu anh A trả, nhưng do giấy tờ xe đều nằm trong xe nên không có cách nào để chứng minh là xe của mình trong vụ việc này chúng tôi cần phải làm gì thưa luật sư ? Cảm ơn! Người gửi : Ngô Thị H

Trả lời:

Với thông tin bạn cung cấp , chúng tôi có thể xác định người mượn xe của bạn có thể phạm một trong hai tội sau:

Thứ nhất, nếu bạn của bạn sau khi mượn xe mới nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản này hoặc không có lý do chính đáng giải thích cho việc không trả làu thì có thể người này đã phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo quy định tại Khoản 1 Điều 175 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) như sau:

Điều 175. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

1. Người nào thực hiện một trong những hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 4.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 4.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 174 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại hoặc tài sản có giá trị đặc biệt về mặt tinh thần đối với người bị hại, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản đó hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả;

b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.

Thứ hai, nếu trước khi mượn xe của bạn người này đã nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc xe máy nay, việc mượn xe chỉ là thông tin giả tạo nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản của bạn thì người này đã phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định tại Khoản 1 Điêu 174 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) như sau:

Điều 174.Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;

b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ; tài sản là kỷ vật, di vật, đồ thờ cúng có giá trị đặc biệt về mặt tinh thần đối với người bị hại.

Bạn có thể làm đơn trình báo gửi lên cơ quan công an cấp quận/huyện để tố cáo về hành vi vi phạm pháp luật của người này, trường hợp họ đã chiếm đoạt cả giấy tờ xe của bạn thì bạn có thể cung cấp thông tin về giấy chứng nhận đăng ký xe , tên chủ xe , biển số xe ... để xác minh về quyền sở hữu chiếc xe này.

5. Khung hình phạt đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản?

Xin chào luật sư: Cho tôi hỏi quy định pháp luật hình sự đối với hành vi lừa đảo như sau: Nếu một người có ý định lừa đảo và lừa đảo chiếm đoạt tài sản của người khác với số lượng tài sản là bao nhiêu thì bị truy tố trước pháp luật. Và khung hình phạt sẽ áp dụng đối với đối tượng lừa đảo là như thế nào? Tôi xin cảm ơn.
Trả lời:
Lừa đảo chiếm đoạt tài sản là hành vi của Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác
Theo quy định của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung 2017 tại Điều 174. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản thì hành vi vi phạm nêu trên được quy định như sau:

Điều 174. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;

b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;

d) Tái phạm nguy hiểm;

đ) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

e) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;

c) Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên;

c) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Như vậy, theo quy định trên, thì người phạm tội chiếm đoạt tài sản có giá trị từ 2 triệu đồng trở lên hoặc dưới 2 triệu đồng nhưng thuộc các trường hợp như trên thì đủ dấu hiệu quy định về số tiền phải chịu trách nhiệm hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

Về khung hình phạt thì tùy theo tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mà pháp luật có quy định các khung hình phạt khác nhau, tại Điều 174 có quy định cụ thể, bạn có thể tham khảo điều luật đã nêu ở trên.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ Luật sư tư vấn pháp luật dân sự trực tuyến qua tổng đài điện thoại, gọi số: 1900.6162 để được giải đáp.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê