1. Quy định pháp luật về trợ cấp mất việc
Người lao động là người làm việc cho người sử dụng lao động theo thỏa thuận, được trả lương và chịu sự quản lý, điều hành, giám sát của người sử dụng lao động."
Trong đoạn này, người lao động được định nghĩa là cá nhân đồng ý làm việc cho người sử dụng lao động và nhận lương hay tiền công từ họ. Họ phải tuân thủ các quy tắc, sự quản lý, và giám sát từ phía người sử dụng lao động.
"Người sử dụng lao động là doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức, hợp tác xã, hộ gia đình, cá nhân có thuê mướn, sử dụng người lao động làm việc cho mình theo thỏa thuận; trường hợp người sử dụng lao động là cá nhân thì phải có năng lực hành vi dân sự đầy đủ."
Phân đoạn này xác định người sử dụng lao động là các tổ chức hoặc cá nhân thuê và sử dụng người lao động theo thỏa thuận. Nếu người sử dụng lao động là cá nhân, họ phải có đủ năng lực hành vi dân sự để đảm bảo tính pháp lý của các thỏa thuận.
"Quan hệ lao động là quan hệ xã hội phát sinh trong việc thuê mướn, sử dụng lao động, trả lương giữa người lao động, người sử dụng lao động, các tổ chức đại diện của các bên, cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Quan hệ lao động bao gồm quan hệ lao động cá nhân và quan hệ lao động tập thể."
Đoạn này đề cập đến khái niệm về quan hệ lao động. Đây là mối quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình thuê và sử dụng lao động, bao gồm sự trả lương từ người sử dụng lao động đến người lao động và sự đại diện của các tổ chức trong quan hệ này. Quan hệ lao động có thể là cá nhân (giữa người lao động và người sử dụng lao động) hoặc tập thể (giữa tổ chức đại diện người lao động và người sử dụng lao động).
"Quyền của người lao động"
Đoạn này liệt kê các quyền của người lao động trong quan hệ lao động, bao gồm:
Quyền tự do lựa chọn việc làm và nghề nghiệp, cũng như quyền học nghề và nâng cao trình độ nghề nghiệp.
Quyền không bị phân biệt đối xử, cưỡng bức, hay quấy rối tình dục tại nơi làm việc.
Quyền nhận lương phù hợp với trình độ và kỹ năng nghề.
Quyền làm việc trong điều kiện bảo đảm an toàn và vệ sinh lao động, cũng như quyền nghỉ phép theo chế độ và nghỉ hằng năm với lương.
Quyền thành lập và tham gia tổ chức đại diện người lao động, tổ chức nghề nghiệp và tổ chức khác theo quy định pháp luật.
Quyền tham gia đối thoại và thương lượng tập thể với người sử dụng lao động để bảo vệ quyền lợi và lợi ích hợp pháp, chính đáng của họ.
Quyền từ chối làm việc trong trường hợp có nguy cơ rõ ràng đe dọa tính mạng hoặc sức khỏe của mình trong quá trình thực hiện công việc.
Quyền chấm dứt hợp đồng lao động một chiều.
Quyền tổ chức đình công và tham gia các hoạt động khác theo quy định pháp luật.
Những nội dung trên đề cập đến quan hệ lao động, quyền và trách nhiệm của người lao động và người sử dụng lao động, giúp hiểu rõ hơn về bản chất và quyền lợi của mỗi bên trong môi trường làm việc.
2. Hướng dẫn cách tính trợ cấp mất việc
Trợ cấp mất việc làm cho người lao động:
Người sử dụng lao động phải trả trợ cấp mất việc làm cho người lao động đã làm việc thường xuyên cho họ từ đủ 12 tháng trở lên mà bị mất việc làm. Việc trả trợ cấp mất việc làm được tính dựa trên số năm làm việc của người lao động. Mỗi năm làm việc, người sử dụng lao động phải trả 01 tháng tiền lương, nhưng ít nhất bằng 02 tháng tiền lương.
Để xác định thời gian làm việc để tính trợ cấp mất việc làm, ta lấy tổng thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động và trừ đi thời gian người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật và thời gian làm việc đã được người sử dụng lao động trả trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm.
Thời gian làm việc để tính trợ cấp mất việc:
Thời gian làm việc để tính trợ cấp mất việc làm được tính bằng năm làm việc, mỗi năm làm việc đủ 12 tháng. Trường hợp có tháng lẻ ít hơn hoặc bằng 06 tháng, ta tính bằng 1/2 năm, và trên 06 tháng ta tính bằng 01 năm làm việc.
Tiền lương để tính trợ cấp mất việc:
Tiền lương để tính trợ cấp mất việc là tiền lương bình quân của 06 tháng liền kề theo hợp đồng lao động trước khi người lao động mất việc làm. Điều này đảm bảo rằng trợ cấp được tính dựa trên mức lương thực tế của người lao động trước khi mất việc làm.
Trong trường hợp người lao động có nhiều hợp đồng lao động kế tiếp nhau, tiền lương để tính trợ cấp mất việc làm được tính dựa trên tiền lương bình quân của 06 tháng liền kề theo hợp đồng lao động cuối cùng. Nếu hợp đồng lao động cuối cùng bị tuyên bố vô hiệu vì mức lương thấp hơn mức lương tối thiểu vùng do Chính phủ công bố hoặc mức lương ghi trong thỏa ước lao động tập thể, thì tiền lương tính trợ cấp được thỏa thuận nhưng không thấp hơn mức lương tối thiểu vùng hoặc mức lương ghi trong thỏa ước lao động tập thể.
Kinh phí chi trả trợ cấp:
Kinh phí chi trả trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm đối với người lao động được hạch toán vào chi phí sản xuất, kinh doanh hoặc kinh phí hoạt động của người sử dụng lao động. Điều này đảm bảo người sử dụng lao động chịu trách nhiệm tài chính trong việc hỗ trợ người lao động khi họ mất việc làm
3. Tính thời gian hưởng trợ cấp mất việc trong các trường hợp đặc biệt
Đối với doanh nghiệp 100% vốn nhà nước hoặc doanh nghiệp cổ phần hóa từ doanh nghiệp nhà nước: Khi chấm dứt hợp đồng lao động với người lao động, nếu người lao động đã có thời gian làm việc ở các cơ quan, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp thuộc khu vực nhà nước và chuyển đến làm việc tại doanh nghiệp 100% vốn nhà nước hoặc doanh nghiệp cổ phần hóa từ doanh nghiệp nhà nước trước ngày 01 tháng 01 năm 1995 nhưng chưa nhận trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm, hoặc trợ cấp một lần khi phục viên hoặc trợ cấp xuất ngũ, chuyển ngành, thì người sử dụng lao động có trách nhiệm tính cả thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho mình và thời gian người lao động đã làm việc thực tế ở khu vực nhà nước trước đó. Thời gian làm việc thực tế ở các cơ quan, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp thuộc khu vực nhà nước trước ngày 01 tháng 01 năm 1995 gồm: thời gian làm việc thực tế ở cơ quan nhà nước; đơn vị sự nghiệp công lập; tổ chức chính trị; tổ chức chính trị - xã hội; đơn vị thuộc lực lượng vũ trang hưởng lương từ ngân sách nhà nước; thời gian làm việc ở doanh nghiệp nhà nước.
Trường hợp người lao động làm việc theo nhiều hợp đồng lao động kế tiếp nhau theo quy định tại khoản 2 Điều 20 của Bộ Luật Lao động 2019: Khi chấm dứt từng hợp đồng lao động mà người lao động chưa được chi trả trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm thì thời gian thực tế làm việc cho người sử dụng lao động là tổng thời gian làm việc theo các hợp đồng lao động trừ đi thời gian làm việc thực tế theo hợp đồng lao động bị tuyên bố vô hiệu do vi phạm pháp luật, công việc đã giao kết trong hợp đồng lao động là công việc mà pháp luật cấm, hợp đồng lao động mà người lao động bị xử lý kỷ luật lao động sa thải, hợp đồng lao động mà người lao động đơn phương chấm dứt trái pháp luật (nếu có).
Trường hợp người lao động tiếp tục làm việc tại doanh nghiệp, hợp tác xã theo phương án sử dụng lao động quy định tại khoản 1 Điều 44 của Bộ Luật Lao động 2019 sau khi chia, tách, hợp nhất, sáp nhập; bán, cho thuê, chuyển đổi loại hình doanh nghiệp; chuyển nhượng quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản: Người sử dụng lao động có trách nhiệm xác định thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho họ để tính trả trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm như sau:
Nếu hợp đồng lao động chấm dứt theo quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4, 6, 7, 9 và 10 Điều 34 của Bộ Luật Lao động 2019: Thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động được tính là tổng thời gian làm việc thực tế theo các hợp đồng lao động cho người sử dụng lao động trước và sau khi chia, tách, hợp nhất, sáp nhập; bán, cho thuê, chuyển đổi loại hình doanh nghiệp; chuyển nhượng quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản.
Nếu hợp đồng lao động chấm dứt theo quy định tại khoản 11 Điều 34 của Bộ Luật Lao động 2019: Thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động được tính là tổng thời gian làm việc thực tế theo các hợp đồng lao động cho người sử dụng lao động sau khi chia, tách, hợp nhất, sáp nhập; bán, cho thuê, chuyển đổi loại hình doanh nghiệp; chuyển nhượng quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản. Thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động được tính là thời gian làm việc thực tế theo các hợp đồng lao động cho người sử dụng lao động trước khi chia, tách, hợp nhất, sáp nhập; bán, cho thuê, chuyển đổi loại hình doanh nghiệp; chuyển nhượng quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản.
Người sử dụng lao động có trách nhiệm chi trả trợ cấp thôi việc đối với cả thời gian người lao động làm việc tại khu vực nhà nước mà được tuyển dụng lần cuối trước ngày 01 tháng 01 năm 1995 vào doanh nghiệp trước khi chia, tách, hợp nhất, sáp nhập; bán, cho thuê, chuyển đổi loại hình doanh nghiệp; chuyển nhượng quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 8 Nghị định 145/2020/NĐ-CP
Xem thêm>>Người lao động được trợ cấp mất việc hay thôi việc khi văn phòng đại diện nước ngoài giải thể ?
Liên hệ số hotline 1900.6162. Hoặc gửi yêu cầu chi tiết qua email: lienhe@luatminhkhue.vn để được hỗ trợ giải đáp thắc mắc nhanh chóng.
Xin trân trọng !