Trả lời:

Bộ luật Lao động chỉ có quy định chung về việc hợp đồng lao động chấm dứt chứ không có quy định nào hướng dẫn riêng biệt dành cho trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động đối với người lao động làm việc cho văn phòng đại diện (“VPĐD”) của thương nhân nước ngoài tại Việt Nam khi văn phòng đại diện của thương nhân nước ngoài tại Việt Nam đóng cửa hoạt động. Tuy nhiên, căn cứ vào các trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động được liệt kê tại Bộ luật Lao động (theo Khoản 1, điều 50 Luật Việc làm năm 2013; Điều 34 Bộ luật lao động năm 2019 và Điều 46.1 Bộ luật lao động năm 2019), có hai luồng quan điểm khác nhau trong việc áp dụng trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động đối với tình huống nêu trên. Cụ thể:

- Quan điểm thứ nhất: hợp đồng lao động với người lao động sẽ được chấm dứt theo trường hợp người sử dụng lao động không phải là cá nhân chấm dứt hoạt động được quy định tại Điều 34.7 Bộ luật Lao động. Theo đó, khi chấm dứt hợp đồng lao động, người sử dụng lao động có nghĩa vụ thanh toán trợ cấp thôi việc cho người lao động nào có thời gian làm việc thường xuyên cho doanh nghiệp từ đủ 12 tháng trở lên tương ứng với mỗi năm làm việc là nửa tháng tiền lương; và

- Quan điểm thứ hai: Hợp đồng lao động với người lao động sẽ chấm dứt theo trường hợp người sử dụng lao động thay đổi cơ cấu tổ chức được quy định tại Điều 34.11 và Điều 42 của Bộ luật Lao động. Theo đó, khi chấm dứt hợp đồng lao động, người sử dụng lao động có nghĩa vụ thanh toán trợ cấp mất việc làm cho người lao động nào có thời gian làm việc thường xuyên cho doanh nghiệp từ đủ 12 tháng trở lên với mức hưởng là 01 tháng tiền lương cho mỗi năm làm việc nhưng tối thiểu là 02 tháng tiền lương, đây là mức cao hơn so với trợ cấp thôi việc như đã nêu ở trên.

Thực tiễn tố tụng cho thấy, có nhiều Tòa án có thẩm quyền khi xét xử các tranh chấp lao động trong những trường hợp tương tự thường có cùng ý kiến với quan điểm thứ hai ở trên. Theo đó, Tòa án lập luận và căn cứ vào các quy định của pháp luật điều chỉnh riêng đối với văn phòng đại diện của thương nhân nước ngoài tại Việt Nam. Cụ thể, văn phòng đại diện được xem như là một đơn vị “phu thuộc” của thương nhân nước ngoài® nên trước khi đóng cửa văn phòng đại diện, thương nhân nước ngoài phải có trách nhiệm giải quyết đầy đủ quyền lợi hợp pháp cho người lao động đã làm việc tại văn phòng đại diện theo quy định của pháp luật (theo: Điều 47.1 Bộ luật lao động năm 2019; Điều 3.6 Luật Thương mại năm 2005 và Điều 38.2 Nghị định 07/2016/NĐ-CP của Chính phủ ).

Vì vậy, người sử dụng lao động thực sự trong trường hợp này được xem là thương nhân nước ngoài chứ không phải là văn phòng đại diện của họ tại Việt Nam. Nếu thương nhân nước ngoài không chấm dứt hoạt động ở nước ngoài theo luật của nước ngoài mà chỉ là chấm dứt hoạt động văn phòng đại diện của họ tại Việt Nam thi sẽ được xem là trường hợp người sử dụng lao động thay đổi cơ cấu tổ chức (Điều 44.1 Bộ luật lao động năm 2012 và Điều 13.1 (a) Nghị định 05/2015/NĐ-CP của Chính phủ). Do đó, người lao động nào làm việc tại văn phòng đại diện ở Việt Nam mà bị cho thôi việc vì lý do thay đổi cơ cấu tổ chức thì sẽ được trả trợ cấp mất việc làm bên cạnh các khoản phải trả khác khi chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định của pháp luật.

Tuy nhiên, cần lưu ý rằng việc chấm dứt hợp đồng lao động theo trường hợp người sử dụng lao động thay đổi cơ cấu tổ chức cần tuần thủ chặt chẽ quy trình, thủ tục theo quy định của pháp luật lao động. Trước khi tiến hành việc tái cấu trúc, người sử dụng lao động có trách nhiệm xây dựng và thực hiện phương án sử dụng lao động; nếu có chỗ làm việc mới thì ưu tiên đào tạo lại cho người lao động bị ảnh hưởng để tiếp tục sử dụng. Nếukhông thể giải quyết được việc làm mới mà phải cho nhiều người lao động thôi việc thì phải trả trợ cấp mất việc làm cho người lao động. Người sử dụng lao động phải trao đổi về việc cho thôi việc người lao động với tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở đối với nơi có tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở mà người lao động là thành viên và thông báo trước 30 ngày cho Ủy ban Nhân dân cấp tỉnh và cho người lao động. Như vậy, nếu thương nhân nước ngoài nào có các văn phòng đại diện hoặc chi nhánh khác của họ tại Việt Nam mà còn chỗ làm trống, thì những người lao động nào đang làm việc tại văn phòng đại diện dự định đóng cửa có thể phải được ưu tiên đào tạo lại và tiếp tục sử dụng cho các chỗ làm còn trống tại các văn phòng đại diện hoặc chi nhánh khác tại Việt Nam của thương nhân nước ngoài.

Với thực tiễn xét xử tranh chấp tại Tòa án như đã trình bày trên, thương nhân nước ngoài khi giải thể văn phòng đại diện của họ tại Việt Nam cần lưu ý để thực hiện đẩy đủ các bước theo quy trình, thủ tục tái cấu trúc tổ chức như được nêu ở trên khi chấm dứt hợp đồng lao động với người lao động làm việc tại văn phòng đại diện, bao gồm việc thanh toán trợ cấp mất việc làm cho người lao động. Nếu không tuân thủ đúng các quy định trên, thương nhân nước ngoài có thể bị xem là đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật nếu có khiếu nại hoặc khởi kiện từ phía người lao động ra cơ quan quản lý lao động hoặc Tòa án có thẩm quyển. Khi đó, có rủi ro là văn phòng đại diện được cho là có nghĩa vụ thanh toán và bồi thường cho người lao động của văn phòng đại diện các khoản phải trả cho người lao động theo quy định của pháp luật lao động. Tuy nhiên, nhằm tránh các thủ tục và quy trình phức tạp từ việc chấm dứt hợp đồng lao động theo trường hợp tái cấu trúc tổ chức như đã nêu ở trên, thương nhân nước ngoài và văn phòng đại diện cũng có thể xem xét phương án thương lượng để đi đến thỏa thuận chấm dứt hợp đồng lao động với người lao động theo quy định tại Điều 34.3 Bộ luật Lao động. Để việc thương lượng bảo đảm thành công và hiệu quả cho cả các bên, mức phải trả tối thiểu cho người lao động nên được xem xét thấp nhất cũng phải bằng với mức tương ứng với khoản trợ cấp mất việc làm (01 tháng tiền lương cho mỗi năm làm việc).

Nguồn: https://phuoc-associates.com/