1. Tthời gian giải quyết thủ tục ly hôn là bao lâu ?

Thưa luật sư, Vợ chồng tôi quyết định ly hôn nhưng không biết phải làm những thủ tục gì? Thời gian tòa án giải quyết đơn bao lâu?
(NTM, thành phố Hà Nội)

>> Xem thêm:  Thủ tục xin ly hôn khi đang mang thai ? Cơ quan nào có thẩm quyền giải quyết ly hôn ?

2. Tư vấn ly hôn khi không thể tiếp tục chung sống ?

Chào luật sư! Cho tôi được hỏi về vấn đề như thế này:Tôi và chồng tôi kết hôn đã được 3 năm rưỡi và có chung với nhau 1 bé gái, cháu năm nay 2,5 tuổi. Tôi ở nhà mở lớp tư giữ trẻ nên tháng thu nhập 3 triệu đồng.
Chồng tôi làm mộc tháng 10 triệu đồng nhưng anh ấy cờ bạc, cá độ bóng đá nên tiền anh ấy làm ra không chịu đưa cho tôi chi tiêu trong gia đình, 1 tháng anh chỉ đưa 2 triệu gọi là tiền mua sữa cho con, còn mọi khoản chi tiêu khác đều chông vào số tiền 3 triệu của tôi . Khi con ốm bảo anh trông con anh liền đùn đẩy cho bà nội để anh đi chơi tụ tập với bạn. Ngày đi làm thì không nói làm gì nhưng ngay cả khi tối anh đều vác xe đi chơi bỏ mặc mẹ con tôi thui thủi ở nhà, cờ bạc hết tiền anh về lục lọi tiền của tôi dành dụm nuôi con. Tôi đã khuyên nhủ anh nhiều nhưng mỗi lần nói anh lại gạt phăng lời nói của tôi đi , anh bảo "tao cờ bạc tiền của tao làm ra chứ tao không xin mày, mày không sống được thì mày cút đi, nhưng đi thì con tao nuôi mày không được mang nó đi đâu". Thưa luật sư, anh ấy chẳng bao giờ trông được con tới 1 ngày một mình, cứ mỗi lần tôi nhờ anh trông thì anh lại đem gửi nhà chị chồng tôi (chị lấy chồng gần nhà chồng tôi) rồi anh đi tụ tập bạn bè tới đêm khuya, có hôm 12h gọi anh còn càu nhàu .
Mẹ chồng thì bênh con trai bà a dua a tòng theo mấy đứa con gái bà nói xấu tôi này nọ mặc dù tôi không làm gì có lỗi cả. Nói đến chồng tôi , cuộc sống vợ chồng tôi rạn nứt cũng tại bởi anh không chịu chia sẻ với tôi mọi chuyện . Anh giấu công việc của anh hỏi thì anh nói " công việc của anh em biết gì à hay hỏi, mệt". Rồi mẹ và chị anh nói xấu tôi thì anh lại chỉ chăm chăm nghe theo lời của họ mà không thèm để ý tới lời nói của tôi. Những lần như vậy cứ dồn nén làm tôi uất ức lắm không biết chia sẻ với ai. Bố mẹ đẻ thì ở xa, lâu dần tạo nên lỗ hổng trong tình cảm. Tôi chia sẻ tình trạng hôn nhân của mình với luật sư như vậy.
Rất mong phản hồi của luât sư tư vấn cho tôi biết mình nên ly hôn với 1 người chồng như vậy không ?
Tôi xin chân thành cảm ơn luật sư!
Người gửi: P.T.H

Tòa có thể xử ly hôn khi một bên vắng mặt hay không?

Luật sư tư vấn luật hôn nhân và gia đình gọi: 1900.6162

Trả lời:

Như thông tin chị cung cấp có thể thấy tình trạng của vợ chồng chị khá trầm trọng, việc có ly hôn với chồng chị hay không còn tùy thuộc vào ý chí của chị, chúng tôi không thể thay chị hoặc khuyên chị nên ly hôn hay nên tiếp tục được. Trường hợp chị muốn ly hôn với chồng chị thì mời chị tham khảo những quy định của pháp luật mà chúng tôi phân tích dưới đây:

Theo quy định tại khoản 1 điều 51 Luật hôn nhân gia đình 2014, thì cả hai vợ chồng có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn hoặc vợ, chồng có thể đơn phương yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn.

"Điều 51. Quyền yêu cầu giải quyết ly hôn

1. Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn".

Trong trường hợp của chị chúng tôi có thể thấy chị phải chịu rất nhiều áp lực từ phía chồng và mẹ chồng, chồng thì bài bạc là cho cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, chồng chị không chăm lo cho vợ và con. Do đó, nếu như chị cảm thấy không thể thay đổi được chồng chị, không thể làm cho anh ấy có những suy nghỉ thay đổi, không sa vào con đường cờ bạc nữa mà sẽ tu chí làm ăn thì chị nên ly hôn. Nếu như chồng chị không đồng ý ly hôn thì chị có thể làm đơn xin đơn phương ly hôn. Hồ sơ gồm xin đơn phương ly hôn gồm có:

- Đơn xin đơn phương ly hôn ( chị có thể tham khảo mẫu đơn tại đây);

- Giấy đăng ký kết hôn bản gốc;

- Bản sao có chứng thực Chứng minh nhân dân, sổ hộ khẩu của hai vợ chồng;

- Giấy khai sinh của con ( bản sao);

- Giấy tờ chứng minh tài sản chung của hai vợ chồng ( nếu có)

Khi chuẩn bị đầy đủ các hồ sơ trên, chị sẽ gửi đơn lên Tòa án nhân dân cấp huyện, quận, nơi mà chồng chị đang cư trú.

Khi tiến hành đơn phương ly hôn,chị sẽ phải chứng minh được các căn cứ được quy định tại khoản 1 điều 56 thì Tòa án mới xem xét cho giải quyết việc ly hôn cho chị.

"Điều 56. Ly hôn theo yêu cầu của một bên

1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được".

Còn về vấn đề con chung thì cháu mới 2.5 tuổi, chưa tròn ba tuổi thì quyền nuôi con ưu tiên thuộc về người mẹ theo quy định tại điều khoản 3 điều 81 Luật hôn nhân gia đình 2014

"Điều 81. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con".

>> Xem thêm:  Tư vấn thủ tục ly hôn trực tuyến qua tổng đài điện thoại

3. Tòa có thể xử ly hôn khi một bên vắng mặt hay không ?

Thưa luật sư, xin hỏi: Khi một trong hai người vợ hoặc chồng cố tình không tới Tòa an theo giấy triệu tập thì Tòa có thể thể giải quyết ly hôn khi một bên vắng mặt hay không? Tòa án sẽ giải quyết việc vắng mặt của đương sự như thế nào ?
Cảm ơn!

Luật sư tư vấn:

1. Ai có quyền yêu cầu giải quyết ly hôn

Việc ly hôn là việc chấm dứt quan hệ vợ chồng, sau thời điểm Quyết định, bản án của Tòa án có hiệu lực, hai bên nam, nữ không còn là vợ chồng của nhau nữa. Theo quy định của Điều 51 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, những người sau đây có quyền yêu cầu giải quyết ly hôn:

- Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn.

- Cha, mẹ, người thân thích khác có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn khi một bên vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của họ.

Ngoài ra, theo quy định tại khoản 3 Điều này thì người chồng sẽ không có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi. Mục đích của quy định này là nhằm bảo vệ bà mẹ, đặc biệt là bảo vệ thai nhi và trẻ nhỏ, tránh những tác động xấu đến bà mẹ, làm ảnh hưởng không tốt đến sự phát triển bình thường của thai nhi và trẻ nhỏ. Đây là một quy định rất nhân văn, có tình, có lý. Tuy nhiên, quy định tại Điều 51 không hạn chế quyền ly hôn của người vợ. Vì vậy, nếu người vợ nhận thấy việc duy trì quan hệ hôn nhân chỉ gây đau khổ cho mình, làm ảnh hưởng đến thai nhi hoặc con dưới mười hai tháng tuổi thì người vợ có quyền xin ly hôn hoặc thuận tình ly hôn.

2. Vợ, chồng vắng mặt trong yêu cầu thuận tình ly hôn

Thủ tục thuận tình ly hôn là một thủ tục giải quyết về việc dân sự, do đó, Tòa án không mở phiên tòa mà tiến hành hòa giải để vợ chồng đoàn tụ, giải thích về quyền và nghĩa vụ giữa vợ và chồng, giữa cha, mẹ và con, giữa các thành viên khác trong gia đình, về trách nhiệm cấp dưỡng và các vấn đề khác liên quan đến hôn nhân và gia đình (khoản 2 Điều 397 BLTTDS 2015). Trong đó, thuận tình ly hôn là sự tự nguyện của hai bên vợ và chồng cùng chấp thuận ly hôn. Như vậy, nếu một trong các bên không đến phiên hòa giải thì có thể coi đây là từ bỏ quyền yêu cầu ly hôn. Trường hợp này có thể coi là hòa giải đoàn tụ không thành, theo đó, căn cứ khoản 5 Điều 397 BLTTDS thì Tòa sẽ đình chỉ giải quyết việc dân sự về công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn và thụ lý vụ án để giải quyết. Theo đó, Tòa án sẽ không phải thông báo về việc thụ lý vụ án và giải quyết vụ án được thực hiện theo thủ tục chung do BLTTDS quy định.

3. Vợ, chồng vắng mặt trong yêu cầu thuận tình ly hôn

Căn cứ khoản 1, 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 quy định về việc sự có mặt của đương sự, người đại diện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự như sau:

Điều 227. Sự có mặt của đương sự, người đại diện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự

1. Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ nhất, đương sự hoặc người đại diện của họ, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự phải có mặt tại phiên tòa; nếu có người vắng mặt thì Hội đồng xét xử phải hoãn phiên tòa, trừ trường hợp người đó có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

Tòa án phải thông báo cho đương sự, người đại diện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự về việc hoãn phiên tòa.

2. Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai, đương sự hoặc người đại diện của họ, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự phải có mặt tại phiên tòa, trừ trường hợp họ có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; nếu vắng mặt vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan thì Tòa án có thể hoãn phiên tòa, nếu không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan thì xử lý như sau:

a) Nguyên đơn vắng mặt mà không có người đại diện tham gia phiên tòa thì bị coi là từ bỏ việc khởi kiện và Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án đối với yêu cầu khởi kiện của người đó, trừ trường hợp người đó có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Nguyên đơn có quyền khởi kiện lại theo quy định của pháp luật;

b) Bị đơn không có yêu cầu phản tố, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu độc lập vắng mặt mà không có người đại diện tham gia phiên tòa thì Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt họ;

c) Bị đơn có yêu cầu phản tố vắng mặt mà không có người đại diện tham gia phiên tòa thì bị coi là từ bỏ yêu cầu phản tố và Tòa án quyết định đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu phản tố, trừ trường hợp bị đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn có quyền khởi kiện lại đối với yêu cầu phản tố đó theo quy định của pháp luật;

Theo quy định của điều luật trên, chúng ra có các trường hợp sau:

- Trường hợp 1: Tòa án gửi giấy triệu tập hợp lệ lần thứ nhất mà một trong hai bên vợ, chồng vắng mặt. Lúc này, các đương sự không cần lý do, Tòa án vẫn phải hoãn phiên tòa. Thời hạn tối đa hoãn phiên tòa là 30 ngày.

Nếu vợ, chồng vắng mặt mà có có đơn đề nghị xét xử vắng mặt thì Tòa án sẽ tiến hành xét xử vụ án như bình thường.

- Trường hợp 2: Tòa án gửi giấy triệu tập hợp lệ lần thứ hai. Có 2 giả thiết như sau:

+ Một là, một trong hai bên vợ, chồng bạn vắng mặt có lý do chính đáng thì Tòa án hoãn phiên tòa lần 2. Thời hạn hoãn phiên tòa không quá 30 ngày.

+ Hai là, một trong hai bên vợ, chồng là nguyên đơn trong vụ án ly hôn vắng mặt có lý do chính đáng, không có đơn xin xét xử vắng mặt thì bị coi là từ bỏ việc khởi kiện và Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án đối với yêu cầu khởi kiện của người đó.

+ Ba là, nếu một trong hai bên vợ, chồng là bị đơn trong vụ án ly hôn vắng mặt mà không có lý do chính đáng, không có đơn xin xét xử vắng mặt hay không có người đại diện theo ủy quyền tham gia phiên tòa thì Tòa án xét xử vắng mặt. Trường hợp một trong hai bên vợ, chồng có người đại diện theo ủy quyền tham gia phiên tòa thì người được ủy quyền có các quyền và nghĩa vụ của người ủy quyền.

Như vậy, việc vợ/ chồng bạn vắng mặt – không tham gia phiên tòa thì Tòa án vẫn tiến hành các trình tự, thủ tục giải quyết vụ án đơn phương ly hôn của bạn mà không phụ thuộc vào việc có hay không có sự có mặt của bị đơn.

>> Xem thêm:  Tư vấn quyền nuôi con khi ly hôn theo quy định mới năm 2020 ?

4. Có được hạn chế quyền thăm con của chồng sau khi ly hôn không ?

Chào Luật sư, hiện tôi và chồng đã ly hôn với nhau, Tòa án quyết định giao con cho tôi nuôi. Cháu nhà tôi hiện giờ 24 tháng tuổi. Sau khi ly hôn, tôi vẫn cho chồng tôi được thăm con một tuần một lần. Tuy nhiên, tuần trước chồng cũ của tôi có bế cháu về bên nội chơi. Tôi tưởng anh bế con về để ông bà gặp cháu chốc lát rồi cho cháu về với mẹ nhưng anh ta lại mang cháu về quê nội chơi cách đó 200km. Con tôi còn nhỏ, xa mẹ lại không được chăm sóc đến nơi đến chốn nên sau lần đó cháu ốm nặng.
Bây giờ tôi không muốn cho anh ta thăm con nữa có được hay không? Nếu tôi chỉ cho anh ta thăm con tại nhà tôi mà không cho phép bế con đi đâu cả thì có được không ?
Cảm ơn!

Có được hạn chế quyền thăm con của chồng sau khi ly hôn không?

Luật sư tư vấn pháp luật Hôn nhân, gọi: 1900.6162

Luật sư tư vấn:

Thứ nhất, về việc có được quyền không cho chồng thăm con hay không ?

Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định như sau:

“Điều 82. Nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

1. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi.

2. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con.

3. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó”.

Như vậy, theo quy định của pháp luật, mặc dù chồng bạn không trực tiếp nuôi con nhưng có vẫn có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Mặt khác, nếu bạn có những hành vi ngăn cản bố thăm gặp con thì sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính với mức phạt quy định tại Điều 53 Nghị định 167/2013/NĐ-CP cụ thể:

“Điều 53. Hành vi ngăn cản việc thực hiện quyền, nghĩa vụ trong quan hệ gia đình giữa ông, bà và cháu; giữa cha, mẹ và con; giữa vợ và chồng; giữa anh, chị, em với nhau như sau:

Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng đối với hành vi ngăn cản quyền thăm nom, chăm sóc giữa ông, bà và cháu; giữa cha, mẹ và con, trừ trường hợp cha mẹ bị hạn chế quyền thăm nom con theo quyết định của tòa án; giữa vợ và chồng; giữa anh, chị, em với nhau.”

Tuy nhiên, bạn có quyền được quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của chồng cũ khi có đủ căn cứ và chứng minh được anh ta đang lạm dụng việc thăm nom con để cản trở, gây ảnh hưởng xấu đến việc bạn nuôi dạy con. Và trong trường hợp này, sau khi bị hạn chế quyền đối với con chưa thành niên, bố của cháu vẫn phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng cho cháu.

"Điều 87. Hậu quả pháp lý của việc cha, mẹ bị hạn chế quyền đối với con chưa thành niên

1. Trong trường hợp cha hoặc mẹ bị Tòa án hạn chế quyền đối với con chưa thành niên thì người kia thực hiện quyền trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con, quản lý tài sản riêng của con và đại diện theo pháp luật cho con.

2. Việc trông nom, chăm sóc, giáo dục con và quản lý tài sản riêng của con chưa thành niên được giao cho người giám hộ theo quy định của Bộ luật dân sự và Luật này trong các trường hợp sau đây:

a) Cha và mẹ đều bị Tòa án hạn chế quyền đối với con chưa thành niên;

b) Một bên cha, mẹ không bị hạn chế quyền đối với con chưa thành niên nhưng không đủ điều kiện để thực hiện quyền, nghĩa vụ đối với con;

c) Một bên cha, mẹ bị hạn chế quyền đối với con chưa thành niên và chưa xác định được bên cha, mẹ còn lại của con chưa thành niên.

3. Cha, mẹ đã bị Tòa án hạn chế quyền đối với con chưa thành niên vẫn phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng cho con."

Thứ hai, về vấn đề thỏa thuận thăm nom con

Pháp luật cho phép bạn và chồng cũ thỏa thuận với nhau về việc thăm nom, nuôi dưỡng con; Tòa án sẽ tôn trọng sự thỏa thuận của 2 vợ chồng. Tức là bạn hoàn toàn có quyền thỏa thuận với chồng về việc hiện tại con bạn còn quá nhỏ, vì vấn đề sức khỏe của cháu nên không thể ra ngoài lâu, nhưng sau này, khi con lớn hơn một chút thì bố có thể đem con về bên nội chơi được. Bạn cũng có thể thỏa thuận với chồng về việc khi con lớn hơn bạn sẽ cho chồng đưa con đi chơi vào thời gian nào trong tuần, mỗi lần đi là đi trong vòng thời gian bao lâu.

>> Xem thêm:  Tư vấn giải quyết cưỡng chế thi hành án khi chồng không thực hiện nghĩa vụ tài sản sau ly hôn ?

5. Giải đáp câu hỏi về việc phân chia tài sản khi ly hôn ?

Thưa luật sư, Mong anh/chị luật sư giúp em giải đáp câu hỏi về việc phân chia tài sản khi ly hôn.Em gửi mail này trình bày sự việc. Mong anh chị giúp đỡ em để em hiểu rõ hơn. Sự viêc thế này: Em kết hôn với anh N vào ngày 9/5/2014. Sau quá trình chung sống anh Vũ suốt ngày vẫn rượu chè với bạn bè như trước khi chưa kết hôn, hơn nữa lại say về là đánh đập vợ và chửi mắng.
Anh ấy là sĩ quan chuyên nghiệp tại Thanh Hoá.Tôi làm kế toán tại Tp Hà Tĩnh. Vợ chồng xa nhau tôi rất muốn hai vợ chồng dành thời gian cho nhau nhưng về tranh thủ được 3ngày thì say xỉn 2ngày. Hiện nay tôi và chồng mới xây nhà. Bố mẹ đẻ tôi cho tôi và chồng 1mảnh đất khoảng 100 m2, nhưng tôi và chồng vẫn trả bố mẹ 100 triệu để khỏi áy náy, nhưng trên bìa đỏ có ghi biếu tặng. Tiền làm nhà tôi và chồng được bố mẹ chồng cho 250 triệu, vay mượn anh chị bên chồng 20triệu, vay em trai vợ 60 triệu, chúng tôi bán vàng được 40 triệu,bố mẹ đẻ tôi cho chúng tôi 25 triệu nữa, vậy là chúng tôi xây nhà nhưng chồng tôi hoàn toàn k đụng tay làm gì, ngay cả đến đó để xem thợ làm,quan sát săn sóc cho căn nhà củng chỉ vài lần,mà tất cả mọi việc bố mẹ tôi đều làm.Sau khi kết hôn 7 tháng thì chúng tôi có nhà riêng, tháng đầu tiên về ở tôi có bầu. Sau khi biết tôi có bầu anh N vẫn tiếp tục uống rượu đánh tôi, tôi phải đi viện cả đêm, đi viện về anh vũ đòi hỏi quan hệ,nhưng tôi mệt quá k đồng ý anh ta tiếp tục đánh tôi.
Hai ngày sau vẫn tiếp tục uống và đánh tôi tiếp, Tôi không chịu đựng được cảnh bị đánh đập nên viết đơn li hôn trong khi mang thai 3tháng. Giờ kính mong anh chị có thể cho tôi biết khi li hôn tài sản sẽ chia như thế nào ?
Tôi xin chân thành cảm ơn, mong anh chị trả lời qua mail này giúp tôi!
Người hỏi: HV

Giải đáp câu hỏi về việc phân chia tài sản khi ly hôn ?

Luật sư tư vấn phân chia tìa sản sau khi ly hôn, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Theo quy định điều 51 Luật hôn nhân và gia đình 2014 có quy định:"

1. Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn.

2. Cha, mẹ, người thân thích khác có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn khi một bên vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của họ.

3. Chồng không có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi.

Trong trường hợp của chị thì chị đang mang thai và trong trường hợp này thì người chồng bị hạn chế quyền li hôn theo khoản 3 điều 51 Luật hôn nhân và gia đình. Nhưng chị bạn thì không. Chị có quyền ly hôn, có thể là gửi đơn ly hôn đơn phương đến tòa án.

Hồ sơ xin ly hôn bao gồm:

- Đơn xin ly hôn;

- Bản chính Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn;

- Bản sao Hộ khẩu thường trú, tạm trú của vợ và chồng

- Bản sao Chứng minh thư nhân dân hoặc bản sao hộ chiếu của vợ và chồng

- Các giấy tờ chứng minh về tài sản: Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, sở hữu nhà ở (nếu có)…

- Bản sao giấy khai sinh của con.

Thẩm quyền giải quyết của Tòa án

- Tòa án có thẩm quyền giải quyết việc ly hôn của là tòa án nhân dân cấp huyện nơi bị đơn cư trú.

- Trường hợp không biết thông tin về nơi cư trú, làm việc của bị đơn thì Tòa án có thẩm quyền giải quyết được quy tại điểm a, khoản 1, Điều 36 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 (BLTTDS). Theo đó, “nếu không biết nơi cư trú, làm việc,trụ sở của bị đơn thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc,có trụ sở cuối cùng hoặc nơi bị đơn có tài sản giải quyết”.

Tại điểm a, khoản 1, Điều 33 BLTTDS quy định thẩm quyền xét xử về hôn nhân (không có yếu tố nước ngoài) thuộc TAND cấp huyện, nên trường hợp này chị nộp hồ sơ yêu cầu giải quyết việc ly hôn của mình tại TAND cấp huyện nơi chồng chị cư trú.

Xử lý tài sản khi ly hôn:

Theo Điều 59 Luật hôn nhân và gia đình có quy đinh về Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn

1. Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này.

Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này để giải quyết.

2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

3. Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.

4. Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này.

Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.

5. Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

trong trường hợp của chị, những tài sản chung vợ chồng sẽ được chia dựa trên mức độ đóng góp của hai vợ chồng bạn và các yếu tố hoàn cảnh để phân chia. Với các tài sản riêng của hai vợ chồng thì tài sản riêng của ai thì vẫn thuộc quyền sở hữu của người đó.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn luật hôn nhân - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Việc chia tài sản trước khi ra tòa ly hôn có vi phạm pháp luật không ?