để kê khai, ghi lại từng loại tài sản, giao cho chủ tài sản hoặc thân nhân bảo quản, cấm việc tẩu tán, phá hủy nhằm bảo đảm cho việc xét xử, thi hành bản án và các quyết định của cơ quan nhà nước được thuận lợi, đúng pháp luật.

1. Quy định chung về kê biên tài sản

Pháp luật quy định cụ thể chủ thể, đối tượng áp dụng, trình tự và thủ tục tiến hành việc kê biên tài sản. Theo đó, chủ thể có quyền ra lệnh kê biên tài sản bao gồm: Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân và Viện kiểm sát quân sự các cấp; Chánh án, Phó Chánh án Tòa án nhân dân và Tòa án quân sự các cấp; Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp tỉnh hoặc Tòa án quân sự cấp quân khu trở lên chủ tọa phiên tòa; Trưởng công an, Phó Trưởng công an cấp huyện; Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng cơ quan điều tra cấp tỉnh trở lên; Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra các cấp trong quân đội nhân dân. Chấp hành viên có quyền kê biên tài sản của người phải thi hành án để thi hành án.

Việc kê biên tài sản chỉ áp dụng đối với bị can, bị cáo về tội mà Bộ luật hình sự quy định có thể tịch thu hoặc phạt tiền cũng như đối với người phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật. Theo đó, khi tiến hành kê biên tài sản, Chấp hành viên chỉ kê biên phần tài sản tương ứng với mức có thể bị tịch thu, phạt tiền hoặc bồi thường thiệt hại. Đồng thời, việc kê biên tài sản phải đảm bảo sự có mặt của đương sự hoặc người đã thành niên trong gia đình, đại diện chính quyền cấp xã và người láng giềng chứng kiến. Biên bản kê biên phải được lập theo mẫu quy định thống nhất, đọc công khai và có đủ chữ ký của Chấp hành viên, đương sự hoặc đại diện đương sự và người chứng kiến. Khiếu nại của đương sự được ghi vào biên bản, có chữ ký xác nhận của họ và người tiến hành kê biên. Biên bản kê biên được lập thành ba bản, một bản được giao ngay cho đương sự sau khi kê biên xong, một bản được gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp và một bản được đưa vào hồ sơ vụ án.

Pháp luật về thi hành án dân sự cũng quy định cụ thể về trình tự, thủ tục kê biên tài sản đối với người phải thi hành bản án dân sự. Theo đó, khi tiến hành kê biên tài sản, tài sản thuộc sở hữu riêng được kê biên trước, sau đó kê biên tài sản thuộc sở hữu chung của người phải thi hành án với người khác. Nếu có tranh chấp giữa người phải thì hành án với. người khác thì cơ quan đã ra quyết định thi hành án vẫn tiến hành kê biên; người được thi hành án, người phải thi hành án, người có quyền và lợi ích hợp pháp đối với tài sản tranh chấp có quyền khởi kiện theo thủ tục tố tụng dân sự. Trong khi kê biên tài sản, nếu người được thi hành án vắng mặt hoặc người phải thi hành án hay người đã thành niên trong gia đình cố tình vắng mặt thì Chấp hành viên vẫn quyết định tiến hành kê biên. Chấp hành viên chỉ kê biên tài sản của người phải thi hành án tương ứng với mức đủ để thi hành án và thanh toán các chỉ phí về thi hành án. Chấp hành viên phải chấp nhận đề nghị của người phải thi hành án về việc kê biên tài sản nào trước nếu xét thấy đề nghị đó không gây trở ngại cho việc thi hành án. Việc kê biên nhà chỉ được tiến hành khi những tài sản khác của người phải thi hành án không đủ để thi hành án.

Tài sản bị kê biên được giao cho chủ tài sản, thân nhân hoặc người đại diện hợp pháp cho chủ tài sản bảo quản. Đối với tài sản là vàng bạc, kim khí quý, đá quý, ngoại tệ, việc giao nhận phải theo thủ tục do Ngân hàng nhà nước và Bộ Tư pháp quy định. Chấp hành viên phải giải thích cho người được giao bảo quản tài sản đã kê biên về trách nhiệm của họ trong bảo quản tài sản. Người được giao bảo quản có trách nhiệm giữ gìn tài sản, được hưởng thù lao và được trả mọi chỉ phí cần thiết về bảo quản tài sản trừ trường hợp họ là người phải thi hành án hoặc đang sử dụng tài sản và phải chịu trách nhiệm hình sự nếu có hành vi chuyển nhượng, đánh tráo, cất giấu, hủy hoại tài sản bị kê biên.

Tài sản bị kê biên chỉ phục vụ cho việc điều tra, xét xử các vụ án và để đảm bảo cho việc thi hành bản án đúng pháp luật. Sau khi bản án được thi hành hoặc khi xét thấy việc kê biên tài sản không còn cần thiết nữa, người có thẩm quyền ra lệnh kê biên tài sản phải kịp thời hủy bỏ lệnh kê biên.

Áp dụng biện pháp kê biên tài sản nhằm ngăn chặn sự tẩu tán tài sản của người phạm tội đảm bảo hiệu lực thi hành của bản án, ngăn ngừa và phòng chống tội phạm hiệu quả cho nên việc áp dụng cần nhanh chóng và kịp thời. Như vậy, đối tượng áp dụng biện pháp kê biên tài sản là các bị can, bị cáo trong vụ án. Về căn cứ áp dụng, chỉ áp dụng biện pháp kê biên tài sản đối với bị can, bị cáo phạm tội mà Bộ luật Hình sự quy định hình phạt chính hoặc hình phạt bổ sung là hình phạt tiền hoặc BLHS quy định có thể bị tịch thu tài sản như một số tội trong nhóm tội phạm về ma túy, nhóm tội phạm về chức vụ….hoặc để đảm bảo bồi thường thiệt hại trong các vụ án có bị hại là người bị thiệt hại về tài sản; tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự, có nguyên đơn dân sự.

2. Kê biên tài sản là gì ?

Kê biên tài sản là biện pháp cưỡng chế do cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng áp dụng với bị can, bị cáo ữong những trường hợp nhất định nhằm bảo đảm thi hành án (Điều 128 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015).

Về đối tượng tài sản bị kê biên: Cơ quan có thẩm quyền chỉ được kê biên tài sản tương đương với mức có thể bị phạt tiền, bồi thường thiệt hại hoặc tịch thi, việc kê biên tài sản phải có lệnh của người có thẩm quyền trong đó xác định rõ tài sản kê biên. Để đảm bảo việc người phạm tội không tẩu tán tài sản, cơ quan có thẩm quyền vừa phải nhanh chóng áp dụng biện pháp kê biên tài sản, vừa phải ước lượng được mức phạt tiền, bồi thường thiệt hại…được áp dụng trong tương lai là điều khó khăn, nhất là ở giai đoạn điều tra. Thực tế, có tình trạng người phạm tội có tài sản gì sẽ kê biên tài sản đó, kê biên vượt mức mà họ phải gánh chịu khi Tòa án tuyên. Có ý kiến cho rằng cách kê biên như vậy không gây bất lợi cho người phạm tội vì khi vụ án được đưa ra xét xử, họ vẫn được trả lại phần tài sản còn thừa (nếu có). Tuy nhiên, trong nền kinh tế thị trường, cách xử lý như trên lại có thể làm ảnh hưởng đáng kể đến giá trị của nhiều loại tài sản như bất động sản, cổ phiếu, trái phiếu hay tài sản kim loại quý…sẽ được xử lý phù hợp trước các biến động của thị trường nếu không thuộc phạm vi bị kê biên. Bởi lẽ, tài sản kê biên được giao cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp bảo quản và họ được phép sử dụng, khai thác các lợi ích do tài sản mang lại nhưng không được tiêu dùng, chuyển nhượng, cất giấu, đánh tráo, hủy hoại tài sản.

3. Đối tượng áp dụng kê biên tài sản?

Kê biên tài sản chỉ áp dụng đối với bị can, bị cáo về tội mà BLHS quy định hình phạt tiền hoặc có thể bị tịch thu tài sản hoặc để bảo đảm bồi thường thiệt hại và những người này có tài sản.

4. Thẩm quyền ra lệnh kê biên

Những người có thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 113 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, thẩm phán chủ tọa phiên toà có quyền ra lệnh kê biên tài sản. Lệnh kê biên của những người được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 113 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 phải được thông báo ngay cho viện kiểm sát cùng cấp trước khi thi hành.

Khi tiến hành kê biên tài sản phải có mặt bị can, bị cáo hoặc người đủ 18 tuổi trở lên trong gia đình hoặc người đại diện của bị can, bị cáo; đại diện chính quyền xã, phường, thị trấn nơi có tài sản bị kê biên và người chứng kiến. Chỉ kê biên phần tài sản tương ứng với mức có thể bị phạt tiền, bị tịch thu hoặc phải bồi thường thiệt hại. Tài sản bị kê biên được giao cho chủ tài sản hoặc người quản lí hợp pháp hoặc người thân thích của họ bảo quản. Người được giao bảo quản mà có hành vi tiêu dùng, chuyển nhượng, đánh tráo, cất giấu, huỷ hoại tài sản bị kê biên thì phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của BLHS.

Người tiến hành kê biên phải lập biên bản, ghi rõ tên và tình trạng từng tài sản bị kê biên. Biên bản được lập theo quy định tại Điều 178 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, đọc cho những người có mặt nghe và cùng ký tên. Ý kiến, khiếu nại của bị can, bị cáo hoặc người đủ 18 tuổi trong gia đình họ hoặc người đại diện hợp pháp của bị can, bị cáo liên quan đến việc kê biên được ghi vào biên bản, có chữ ký xác nhận của họ và của người tiến hành kê biên.

Biên bản kê biên được lập thành bốn bản, trong đó một bản được giao ngay cho bị can, bị cáo hoặc người đủ 18 tuổi trong gia đình họ hoặc người đại diện hợp pháp của bị can, bị cáo, một bản giao ngay cho chính quyền xã, phường, thị trấn nơi có tài sản bị kê biên, một bản gửi cho viện kiểm sát cùng cấp và một bản đưa vào hồ sơ vụ án.

5. Về thủ tục tiến hành kê biên

, việc tiến hành kê biên tài sản phải được thực hiện đúng quy định tại điều luật nhằm bảo đảm kê biên chính xác, đúng đối tượng, đúng phạm vi xác định trong quyết định kê biên. Người tiến hành kê biên phải lập biên bản, ghi rõ tên và tình trạng từng tài sản kê biên. Biên bản được lập theo quy định tại Điều 178 của Bộ luật này, đọc cho những người có mặt nghe, bao gồm: bị can, bị cáo hoặc người đủ 18 tuổi trở lên trong gia đình hoặc người đại diện của bị can, bị cáo; đại diện chính quyền xã, phường, thị trấn nơi có tài sản bị kê biên; người chứng kiến, những người này phải cùng ký tên vào biên bản. Họ cũng có quyền có ý kiến, có quyền khiếu nại và được thể hiện ngay trong biên bản kê biên có chữ ký xác nhận của họ và của người tiến hành kê biên. Biên bản kê biên được lập thành bốn bản, trong đó một bản được giao ngay cho người bị kê biên sau khi kê biên xong, một bản giao ngay cho chính quyền xã, phường, thị trân nơi có tài sản bị kê biên, một bản gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp và một bản đưa vào hồ sơ vụ án.

Mọi vướng mắc pháp lý liên quan đến lĩnh vực tố tụng hình sự về biện pháp kê biên tài sản, Hãy gọi ngay: 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến qua tổng đài. Đội ngũ luật sư giàu kinh nghiệm trong lĩnh vực hình sự luôn sẵn sàng lắng nghe và giải đáp cụ thể.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê