1. Khái niệm kiểm sát điều tra vụ án hình sự

Khi các quan hệ xã hội được BLHS bảo vệ bị xâm phạm một cách bất bình thường, không theo  quy luật  tự nhiên,  chưa rõ  nguyên nhân gây mất trật tự ổn định xã hội đều được xác định là  sự việc  có tính hình sự và cần được điều tra để chứng minh có tội phạm xảy ra hay không,  từ đó  để quy trách nhiệm cho một đối tượng cụ thể nhằm loại trừ sự nguy hiểm cho xã hội. Ví dụ như phát hiện một xác  chết bên bờ suối,  va chạm giao  thông,  tài sản cá nhân bị mất,… . Đối với các sự việc mang tính hình sự, qua quá trình kiểm tra, xác minh ban đầu xác định rằng có dấu hiệu của tội phạm thì  được xác định là vụ  án hình sự, thể hiện  bằng văn bản tố  tụng cụ thể đó là Quyết định khởi tố vụ án hình sự. Hay nói cách khác thì khi nào có quyết định khởi tố vụ án hình sự thì sự việc đó mới được gọi là vụ án hình sự.
Để xác định được sự việc đó  có dấu hiện tội phạm hay không thì  cần tiến hành các hoạt động cụ thể mà pháp luật  hình sự quy định, các hoạt động  đó được gọi chung là điều tra. Việc điều tra nhằm mục đích là chứng minh tội phạm. Vì vậy việc điều tra sẽ diễn ra từ khi có sự việc mang tính hình sự đến  khi kết luận rằng có tội phạm hay không. Việc điều tra đòi hỏi một chủ thể có trình độ và có uy tín thực hiện thì mới được công nhận kết quả
Theo Từ điển Bách khoa Công an nhân dân Việt Nam định nghĩa: Điều tra là hoạt động thu thập  chứng cứ, tài liệu,  tình hình… phản ánh sự thật về một tổ chức, con người, sự việc, hiện tượng hoặc mục tiêu, địa bàn, lĩnh vực thuộc phạm vi nhiệm vụ bảo vệ an ninh,  trật tự. Điều tra do Cơ quan Công an tiến hành có thể dưới hai hình thức: Điều tra công khai do CQĐT hoặc một số cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra tiến  hành công  khai theo quy định của luật  TTHS. Điều tra bí  mật  (điều tra trinh  sát) do lực lượng trinh  sát tiến hành, thường  diễn ra trước  khi khởi tố vụ án hình sự, phải tuân theo trình tự, thủ tục, thẩm quyền mà các văn bản của ngành Công an quy định. Mỗi hình thức điều tra có sự khác nhau cơ bản về chủ thể, thời hạn, hình thức cũng như trình tự, thủ tục, thẩm quyền điều tra [38].
Từ những điều trên có thể hiểu: Điều tra là hoạt động thu thập tài liệu, chứng cứ theo trình tự thủ tục pháp luật quy định để chứng minh tội phạm do cơ quan có thẩm quyền thực hiện nhằm bảo vệ khách thể của bộ luật hình sự.
Việc điều tra thể hiện tính quyền lực của nhà nước, nhân danh nhà nước nên cần đòi hỏi phải có một cơ quan thay mặt nhà nước giám sát việc điều tra để tránh sự lạm quyền, sử dụng quyền năng sai mục đích để trục lợi, làm ảnh hưởng đến uy tín của nhà nước. Ở nước ta, Viện  kiểm  sát là  cơ quan được  giao nhiệm vụ giám sát này với chức năng là kiểm sát hoạt động tư pháp.
Có quan điểm cho rằng Kiểm sát hoạt động tư pháp là một trong những hình thức kiểm soát quyền lực nhà nước. Kiểm soát quyền lực là tất yếu khách quan đối với sự tồn tại và phát triển của xã hội có giai cấp. Xã hội càng phát triển, vai trò của Nhà nước càng lớn thì yêu cầu của kiểm soát quyền lực nhà nước càng cao. Quyền lực có thể được kiểm soát thông qua hai yếu tố: tổ chức và hoạt động. Tổ chức là cách thức tạo lập và xây dựng hệ thống quyền lực, các bộ phận cấu thành quyền lực, chức năng, giới hạn quyền lực  của từng bộ phận, mối quan hệ qua lại giữa các bộ phận quyền lực, trình tự thủ tục thực hiện quyền lực… Tổ chức ở đây còn có nghĩa là tổ chức kiểm soát quyền lực: hệ thống kiểm tra, giám sát thực  hiện  quyền  lực,  hệ  thống  xử  lý  các  vi phạm trong việc sử dụng cũng như  thực  hiện  quyền  lực.  Hoạt  động  kiểm soát quyền lực bao gồm các giải pháp nhằm kiểm tra giám sát việc thực hiện quyền lực từ phía các chủ thể khác nhau, hệ thống các biện pháp xử lý  nhằm đảm bảo tính đúng đắn trong việc sử dụng quyền lực, phục tùng quyền lực. Theo quan điểm này thì Kiểm sát hoạt  động tư pháp là một trong những hình thức kiểm soát quyền lực nhà nước bên cạnh các hình thức giám sát và thanh tra, kiểm tra.
Giám sát là sự theo dõi, quan sát mang tính chủ động thường xuyên của cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân đối với hoạt động của các đối tượng chịu sự giám sát và sự tác động bằng các biện pháp tích cực để buộc và hướng các  hoạt động đó đi đúng quỹ đạo, quy chế nhằm đạt được mục đích, hiệu quả đã được xác định từ trước. Giám sát có thể là quyền của cá nhân  hoặc tổ  chức, có thể mang quyền lực công hoặc tư, tác động của giám sát mang tính chất là điều khiển, chỉnh đốn, chỉ đạo  mà  không có  vai trò là xử lý vi phạm  đối với hoạt động sai lệch.
Thanh tra là sự xem xét, đánh giá và xử lý việc  thực  hiện pháp  luật  của tổ chức, cá nhân do tổ chức, người có thẩm quyền thực hiện theo trình tự pháp luật quy định nhằm phục vụ cho hoạt động quản lý nhà nước, bảo vệ lợi ích  nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể quyền sở hữu công nghiệp và tổ chức, cá nhân khác [34].  Khác  với tính chất của Kiểm sát thì Thanh tra chỉ có tính chất là kiểm tra, rà soát lại những hoạt động đã được thực hiện để đánh giá. Thanh tra không phải là hoạt động diễn ra thường xuyên.
Từ những so sánh trên, có thể hiểu Kiểm sát là sự  theo  dõi thường xuyên, xem xét, đánh giá các hoạt  động của đối tượng chịu sự kiểm sát và có tác động ngay lập tức đối với các hoạt động của đối tượng nhằm định hướng  các hoạt động đó tuân thủ theo quy trình, quy định nhất định. Kiểm sát mang quyền lực của Nhà nước, dùng quyền lực công để kiểm sát quyền lực công do chủ thể khác thực hiện. Kiểm sát mang  tính chủ động  và  thường xuyên xem xét, đánh giá, nếu phát hiện vi phạm thì có sự tác động tức thì, kịp thời nhằm khắc phục, sửa chữa và có thể yêu cầu xử lý vi phạm.
Hoạt động kiểm sát được tiến hành theo  hai phương thức  là  kiểm sát  trực tiếp và kiểm sát gián tiếp vừa đảm bảo  tính thường xuyên vừa kiểm tra, đánh giá lại những việc đã thực hiện.
Trong giai đoạn điều tra, kiểm sát hoạt động tư pháp chính là kiểm sát hoạt động của cơ quan điều tra khi giải quyết vụ án hình sự,  kiểm  sát điều tra để đảm bảo hoạt động điều tra được diễn ra đúng trình tự,  thủ tục,  đúng căn cứ do pháp luật tố  tụng quy định nhằm bảo  vệ sự thực khách quan của vụ án, xử lý đúng chủ thể vi phạm, đúng tội, đúng pháp luật.
Từ những phân tích trên, có thể đưa ra khái niệm: Kiểm sát điều tra vụ án hình sự là thẩm quyền, trách nhiệm của Viện kiểm sát sử dụng quyền năng pháp lý thực hiện việc theo dõi, đánh giá hoạt động điều tra của cơ quan, người tiến hành điều tra trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự để kịp thời phát hiện và có tác động ngay nhằm sửa chữa, khắc phục vi phạm pháp luật, bảo đảm tuân theo quy định pháp luật.

2. Đặc điểm

Từ khái niệm trên, có thể rút ra đặc điểm của kiểm  sát điều  tra vụ án  hình sự như sau:

2.1 Kiểm sát điều tra do luật pháp quy định

KSĐT là quyền năng chỉ thuộc về duy nhất cơ quan Viện kiểm sát, mang tính quyền lực  nhà nước. Nhà nước chỉ giao quyền cho Viện kiểm sát thay mặt Nhà nước kiểm sát quyền lực công, quyền điều tra vụ án hình sự của cơ quan có thẩm quyền điều  tra để tránh việc quyền lực công bị lạm dụng trục  lợi.  Song song với đó  thì  hoạt  động kiểm sát điều tra cũng  phải tuân theo  quy định,  trình tự nhất  định  mà luật tố tụng hình sự quy định để hạn chế chính quyền lực của Viện kiểm sát.

2.2 Bắt đầu từ khi có QĐKTVAHS đến khi CQĐT ban hành KLĐT đề nghị truy tố hoặc khi có Quyết định đình chỉ điều tra

Quyết định khởi tố vụ án hình sự  là kết quả của quá trình tiếp nhận và giải quyết  nguồn tin về tội phạm,  được  ban hành khi đã xác định có dấu hiệu tội phạm, là quyết định tố tụng để hợp  thức hóa vai trò chính của cơ quan điều tra được sử dụng  mọi quyền  năng pháp lý khi tiến hành điều tra vụ án hình sự.

2.3 Công cụ để thực hiện KSĐT là quyền yêu cầu và  quyền kiến nghị

Quyền yêu cầu và quyền kiến nghị được sử dụng khi Cơ quan, người tiến hành điều tra không làm hoặc làm không đúng,  làm không đầy đủ theo  quy  định pháp luật nhằm sửa chữa, khắc phục kịp thời những hoạt động vi phạm.
Quyền yêu cầu mang tính chất là điều chỉnh và khắc  phục  vi phạm, được thể hiện bằng văn bản hoặc lời nói. Quyền yêu cầu thường có hiệu lực ngay. Ví dụ như: yêu cầu CQĐT thay đổi điều tra  viên;  yêu  cầu  CQĐT chuyển hồ sơ, tài liệu chứng cứ cho Viện kiểm sát, yêu cầu người làm chứng  cho lời khai trung thực, yêu cầu  bị can  khai báo,… Bên cạnh đó, quyền yêu cầu còn được sử dụng để tìm kiếm, phát hiện vi phạm, ví dụ như khi phát hiện việc điều tra không đầy đủ, vi phạm pháp luật thì  VKS  yêu  cầu  cơ  quan, người điều tra cung cấp tài liệu liên quan để làm rõ vi phạm.
Quyền kiến nghị mang tính chất là chỉ  ra  vi phạm để rút kinh nghiệm khi điều tra đối với các vụ án khác, phải được thể hiện bằng văn bản.  Ví  dụ như: Kiến nghị CQĐT vi phạm về việc giao bản  kết  luận điều tra cho  bị can quá thời hạn quy định; kiến  nghị về  việc  không thông báo cho Viện kiểm sát  về tiến hành khám nghiệm tử thi,… Trong KSĐT thì quyền kiến nghị sử dụng khi phát hiện vi phạm của cơ quan và người có thẩm quyền điều  tra.  Quyền kiến nghị có thể được tổng hợp thành kiến nghị chung (với nhiều nội dung vi phạm ở một hoặc nhiều vụ án) để nhằm mục đích là rút kinh nghiệm.
KSĐT nhằm mục đích là đảm bảo các  hoạt  động trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự được thực  hiện theo  đúng pháp luật,  khách quan  và đúng đắn.

3. Đối tượng, phạm vi của kiểm sát điều tra vụ án hình sự

Giai đoạn điều tra được bắt đầu từ khi có quyết định khởi tố vụ án hình sự đến khi có bản kết luận điều tra hoặc khi có quyết định đình chỉ điều tra vụ  án hình sự. Các hoạt động tư pháp trong giai đoạn điều tra là các hoạt động  điều tra được quy định trong bộ luật tố tụng hình sự mà mỗi hoạt động điều tra đều có văn bản tố tụng thể hiện hoạt động đó. Bản chất của KSĐT là kiểm sát tính có căn cứ và tính hợp pháp của hoạt động tố tụng trong giai đoạn điều tra, nhằm đảm bảo đúng pháp luật, không để lọt tội phạm và không làm oan, sai.
Về chủ thể thực hiện KSĐT, là do  Viện  kiểm  sát thực  hiện.  Chủ thể trực tiếp thực hiện là các chức danh tư pháp trong cơ quan Viện kiểm sát bao gồm Kiểm sát viên và Kiểm tra viên.
Đối tượng của KSĐT trước  hết là  chủ thể thực  hiện hoạt động tố  tụng và hoạt động tố tụng trong giai đoạn điều tra. Hoạt động tố tụng được thể hiện thành hai dạng là hành vi tố tụng và văn bản tố tụng. Mỗi hành vi tố tụng đều được thể hiện bằng văn bản tố tụng tương  ứng.  Hành  vi tố  tụng  trong  giai đoạn điều tra là hành vi của cơ quan điều tra và người tiến hành điều tra. Văn  bản tố tụng trong giai đoạn điều tra là các loại văn bản do cơ quan có thẩm quyền điều tra và người tiến hành điều tra ban  hành,  xây  dựng  theo  thẩm quyền và theo mẫu quy định thống nhất, bao gồm: các lệnh,  quyết định, yêu  cầu, kết luận điều tra, các biên bản và thông báo. Kiểm sát đối với hành vi tố tụng để đảm bảo hành vi đó được thực hiện theo  đúng căn cứ và trình tự, thủ tục mà pháp luật tố tụng hình sự quy  định.  Còn kiểm sát đối với văn bản tố tụng là kiểm sát về nội dung và hình thức mà văn bản đó  thể hiện phải theo  mẫu, đúng nội dung và đúng thẩm quyền ban hành.
Chủ thể bị kiểm sát bao gồm: Cơ quan điều tra; cơ quan được giao  nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra; điều tra viên, cán bộ điều tra.
CQĐT là cơ quan chuyên trách về điều tra tội phạm, trong CQĐT có người trực tiếp điều tra - người mang chức danh tư pháp  là  Điều tra viên,  cán bộ điều tra.
Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra không phải là cơ quan chuyên trách về điều tra tội phạm, tuy nhiên  họ  được  trao quyền năng điều tra vụ án hình sự do đặc  điểm đặc  thù về lĩnh vực công tác,  về vùng địa lý và chỉ được điều  tra về loại tội phạm ít nghiêm  trọng,  vụ án  đơn giản, tình tiết rõ ràng. Trong các cơ quan này không có các chức danh tư pháp của người tiến hành điều tra, mà chỉ khi thụ lý  điều tra vụ án hình sự thì các chức danh tư pháp mới được hình thành do có quyết định phân công của cấp trưởng cơ quan đó.
Về phạm vi hoạt động KSĐT: bắt đầu từ khi có Quyết định khởi tố vụ án đến khi CQĐT ban hành Bản kết luận điều đề  nghị truy tố  hoặc  khi có quyết định đình chỉ điều tra vụ án hình sự và gửi hồ  sơ vụ án cho  viện  kiểm sát. Ở giai đoạn giải quyết tố giác,  tin báo  tội phạm và kiến nghị khởi tố, một  số hoạt động điều tra đã được tiến hành nhưng chỉ mang ý nghĩa là biện pháp xác minh sự việc ban đầu,  hoạt động điều tra thực sự mang ý nghĩa là điều tra  thì phải được diễn ra trong giai đoạn điều tra –  khi mà  sự việc  đã được xác định là vụ án hình sự, vì vậy chức năng kiểm sát điều  tra phải được diễn ra  trong giai đoạn điều tra là phù hợp với lý luận và đúng với tên gọi của nó.
Trân trọng!
Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty Luật Minh Khuê