Mục lục bài viết
- 1. Khái niệm kiểm sát điều tra vụ án hình sự
- 2. Đặc điểm
- 2.1 Kiểm sát điều tra do luật pháp quy định
- 2.2 Bắt đầu từ khi có QĐKTVAHS đến khi CQĐT ban hành KLĐT đề nghị truy tố hoặc khi có Quyết định đình chỉ điều tra
- 2.3 Công cụ để thực hiện KSĐT là quyền yêu cầu và quyền kiến nghị
- 3. Đối tượng, phạm vi của kiểm sát điều tra vụ án hình sự
1. Khái niệm kiểm sát điều tra vụ án hình sự
Khi các quan hệ xã hội được BLHS bảo vệ bị xâm phạm một cách bất bình thường, không theo quy luật tự nhiên, chưa rõ nguyên nhân gây mất trật tự ổn định xã hội đều được xác định là sự việc có tính hình sự và cần được điều tra để chứng minh có tội phạm xảy ra hay không, từ đó để quy trách nhiệm cho một đối tượng cụ thể nhằm loại trừ sự nguy hiểm cho xã hội. Ví dụ như phát hiện một xác chết bên bờ suối, va chạm giao thông, tài sản cá nhân bị mất,… . Đối với các sự việc mang tính hình sự, qua quá trình kiểm tra, xác minh ban đầu xác định rằng có dấu hiệu của tội phạm thì được xác định là vụ án hình sự, thể hiện bằng văn bản tố tụng cụ thể đó là Quyết định khởi tố vụ án hình sự. Hay nói cách khác thì khi nào có quyết định khởi tố vụ án hình sự thì sự việc đó mới được gọi là vụ án hình sự.
Để xác định được sự việc đó có dấu hiện tội phạm hay không thì cần tiến hành các hoạt động cụ thể mà pháp luật hình sự quy định, các hoạt động đó được gọi chung là điều tra. Việc điều tra nhằm mục đích là chứng minh tội phạm. Vì vậy việc điều tra sẽ diễn ra từ khi có sự việc mang tính hình sự đến khi kết luận rằng có tội phạm hay không. Việc điều tra đòi hỏi một chủ thể có trình độ và có uy tín thực hiện thì mới được công nhận kết quả
Theo Từ điển Bách khoa Công an nhân dân Việt Nam định nghĩa: Điều tra là hoạt động thu thập chứng cứ, tài liệu, tình hình… phản ánh sự thật về một tổ chức, con người, sự việc, hiện tượng hoặc mục tiêu, địa bàn, lĩnh vực thuộc phạm vi nhiệm vụ bảo vệ an ninh, trật tự. Điều tra do Cơ quan Công an tiến hành có thể dưới hai hình thức: Điều tra công khai do CQĐT hoặc một số cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra tiến hành công khai theo quy định của luật TTHS. Điều tra bí mật (điều tra trinh sát) do lực lượng trinh sát tiến hành, thường diễn ra trước khi khởi tố vụ án hình sự, phải tuân theo trình tự, thủ tục, thẩm quyền mà các văn bản của ngành Công an quy định. Mỗi hình thức điều tra có sự khác nhau cơ bản về chủ thể, thời hạn, hình thức cũng như trình tự, thủ tục, thẩm quyền điều tra [38].
Từ những điều trên có thể hiểu: Điều tra là hoạt động thu thập tài liệu, chứng cứ theo trình tự thủ tục pháp luật quy định để chứng minh tội phạm do cơ quan có thẩm quyền thực hiện nhằm bảo vệ khách thể của bộ luật hình sự.
Việc điều tra thể hiện tính quyền lực của nhà nước, nhân danh nhà nước nên cần đòi hỏi phải có một cơ quan thay mặt nhà nước giám sát việc điều tra để tránh sự lạm quyền, sử dụng quyền năng sai mục đích để trục lợi, làm ảnh hưởng đến uy tín của nhà nước. Ở nước ta, Viện kiểm sát là cơ quan được giao nhiệm vụ giám sát này với chức năng là kiểm sát hoạt động tư pháp.
Có quan điểm cho rằng Kiểm sát hoạt động tư pháp là một trong những hình thức kiểm soát quyền lực nhà nước. Kiểm soát quyền lực là tất yếu khách quan đối với sự tồn tại và phát triển của xã hội có giai cấp. Xã hội càng phát triển, vai trò của Nhà nước càng lớn thì yêu cầu của kiểm soát quyền lực nhà nước càng cao. Quyền lực có thể được kiểm soát thông qua hai yếu tố: tổ chức và hoạt động. Tổ chức là cách thức tạo lập và xây dựng hệ thống quyền lực, các bộ phận cấu thành quyền lực, chức năng, giới hạn quyền lực của từng bộ phận, mối quan hệ qua lại giữa các bộ phận quyền lực, trình tự thủ tục thực hiện quyền lực… Tổ chức ở đây còn có nghĩa là tổ chức kiểm soát quyền lực: hệ thống kiểm tra, giám sát thực hiện quyền lực, hệ thống xử lý các vi phạm trong việc sử dụng cũng như thực hiện quyền lực. Hoạt động kiểm soát quyền lực bao gồm các giải pháp nhằm kiểm tra giám sát việc thực hiện quyền lực từ phía các chủ thể khác nhau, hệ thống các biện pháp xử lý nhằm đảm bảo tính đúng đắn trong việc sử dụng quyền lực, phục tùng quyền lực. Theo quan điểm này thì Kiểm sát hoạt động tư pháp là một trong những hình thức kiểm soát quyền lực nhà nước bên cạnh các hình thức giám sát và thanh tra, kiểm tra.
Giám sát là sự theo dõi, quan sát mang tính chủ động thường xuyên của cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân đối với hoạt động của các đối tượng chịu sự giám sát và sự tác động bằng các biện pháp tích cực để buộc và hướng các hoạt động đó đi đúng quỹ đạo, quy chế nhằm đạt được mục đích, hiệu quả đã được xác định từ trước. Giám sát có thể là quyền của cá nhân hoặc tổ chức, có thể mang quyền lực công hoặc tư, tác động của giám sát mang tính chất là điều khiển, chỉnh đốn, chỉ đạo mà không có vai trò là xử lý vi phạm đối với hoạt động sai lệch.
Thanh tra là sự xem xét, đánh giá và xử lý việc thực hiện pháp luật của tổ chức, cá nhân do tổ chức, người có thẩm quyền thực hiện theo trình tự pháp luật quy định nhằm phục vụ cho hoạt động quản lý nhà nước, bảo vệ lợi ích nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể quyền sở hữu công nghiệp và tổ chức, cá nhân khác [34]. Khác với tính chất của Kiểm sát thì Thanh tra chỉ có tính chất là kiểm tra, rà soát lại những hoạt động đã được thực hiện để đánh giá. Thanh tra không phải là hoạt động diễn ra thường xuyên.
Từ những so sánh trên, có thể hiểu Kiểm sát là sự theo dõi thường xuyên, xem xét, đánh giá các hoạt động của đối tượng chịu sự kiểm sát và có tác động ngay lập tức đối với các hoạt động của đối tượng nhằm định hướng các hoạt động đó tuân thủ theo quy trình, quy định nhất định. Kiểm sát mang quyền lực của Nhà nước, dùng quyền lực công để kiểm sát quyền lực công do chủ thể khác thực hiện. Kiểm sát mang tính chủ động và thường xuyên xem xét, đánh giá, nếu phát hiện vi phạm thì có sự tác động tức thì, kịp thời nhằm khắc phục, sửa chữa và có thể yêu cầu xử lý vi phạm.
Hoạt động kiểm sát được tiến hành theo hai phương thức là kiểm sát trực tiếp và kiểm sát gián tiếp vừa đảm bảo tính thường xuyên vừa kiểm tra, đánh giá lại những việc đã thực hiện.
Trong giai đoạn điều tra, kiểm sát hoạt động tư pháp chính là kiểm sát hoạt động của cơ quan điều tra khi giải quyết vụ án hình sự, kiểm sát điều tra để đảm bảo hoạt động điều tra được diễn ra đúng trình tự, thủ tục, đúng căn cứ do pháp luật tố tụng quy định nhằm bảo vệ sự thực khách quan của vụ án, xử lý đúng chủ thể vi phạm, đúng tội, đúng pháp luật.
Từ những phân tích trên, có thể đưa ra khái niệm: Kiểm sát điều tra vụ án hình sự là thẩm quyền, trách nhiệm của Viện kiểm sát sử dụng quyền năng pháp lý thực hiện việc theo dõi, đánh giá hoạt động điều tra của cơ quan, người tiến hành điều tra trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự để kịp thời phát hiện và có tác động ngay nhằm sửa chữa, khắc phục vi phạm pháp luật, bảo đảm tuân theo quy định pháp luật.
2. Đặc điểm
Từ khái niệm trên, có thể rút ra đặc điểm của kiểm sát điều tra vụ án hình sự như sau:
2.1 Kiểm sát điều tra do luật pháp quy định
KSĐT là quyền năng chỉ thuộc về duy nhất cơ quan Viện kiểm sát, mang tính quyền lực nhà nước. Nhà nước chỉ giao quyền cho Viện kiểm sát thay mặt Nhà nước kiểm sát quyền lực công, quyền điều tra vụ án hình sự của cơ quan có thẩm quyền điều tra để tránh việc quyền lực công bị lạm dụng trục lợi. Song song với đó thì hoạt động kiểm sát điều tra cũng phải tuân theo quy định, trình tự nhất định mà luật tố tụng hình sự quy định để hạn chế chính quyền lực của Viện kiểm sát.
2.2 Bắt đầu từ khi có QĐKTVAHS đến khi CQĐT ban hành KLĐT đề nghị truy tố hoặc khi có Quyết định đình chỉ điều tra
Quyết định khởi tố vụ án hình sự là kết quả của quá trình tiếp nhận và giải quyết nguồn tin về tội phạm, được ban hành khi đã xác định có dấu hiệu tội phạm, là quyết định tố tụng để hợp thức hóa vai trò chính của cơ quan điều tra được sử dụng mọi quyền năng pháp lý khi tiến hành điều tra vụ án hình sự.
2.3 Công cụ để thực hiện KSĐT là quyền yêu cầu và quyền kiến nghị
Quyền yêu cầu và quyền kiến nghị được sử dụng khi Cơ quan, người tiến hành điều tra không làm hoặc làm không đúng, làm không đầy đủ theo quy định pháp luật nhằm sửa chữa, khắc phục kịp thời những hoạt động vi phạm.
Quyền yêu cầu mang tính chất là điều chỉnh và khắc phục vi phạm, được thể hiện bằng văn bản hoặc lời nói. Quyền yêu cầu thường có hiệu lực ngay. Ví dụ như: yêu cầu CQĐT thay đổi điều tra viên; yêu cầu CQĐT chuyển hồ sơ, tài liệu chứng cứ cho Viện kiểm sát, yêu cầu người làm chứng cho lời khai trung thực, yêu cầu bị can khai báo,… Bên cạnh đó, quyền yêu cầu còn được sử dụng để tìm kiếm, phát hiện vi phạm, ví dụ như khi phát hiện việc điều tra không đầy đủ, vi phạm pháp luật thì VKS yêu cầu cơ quan, người điều tra cung cấp tài liệu liên quan để làm rõ vi phạm.
Quyền kiến nghị mang tính chất là chỉ ra vi phạm để rút kinh nghiệm khi điều tra đối với các vụ án khác, phải được thể hiện bằng văn bản. Ví dụ như: Kiến nghị CQĐT vi phạm về việc giao bản kết luận điều tra cho bị can quá thời hạn quy định; kiến nghị về việc không thông báo cho Viện kiểm sát về tiến hành khám nghiệm tử thi,… Trong KSĐT thì quyền kiến nghị sử dụng khi phát hiện vi phạm của cơ quan và người có thẩm quyền điều tra. Quyền kiến nghị có thể được tổng hợp thành kiến nghị chung (với nhiều nội dung vi phạm ở một hoặc nhiều vụ án) để nhằm mục đích là rút kinh nghiệm.
KSĐT nhằm mục đích là đảm bảo các hoạt động trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự được thực hiện theo đúng pháp luật, khách quan và đúng đắn.
3. Đối tượng, phạm vi của kiểm sát điều tra vụ án hình sự
Giai đoạn điều tra được bắt đầu từ khi có quyết định khởi tố vụ án hình sự đến khi có bản kết luận điều tra hoặc khi có quyết định đình chỉ điều tra vụ án hình sự. Các hoạt động tư pháp trong giai đoạn điều tra là các hoạt động điều tra được quy định trong bộ luật tố tụng hình sự mà mỗi hoạt động điều tra đều có văn bản tố tụng thể hiện hoạt động đó. Bản chất của KSĐT là kiểm sát tính có căn cứ và tính hợp pháp của hoạt động tố tụng trong giai đoạn điều tra, nhằm đảm bảo đúng pháp luật, không để lọt tội phạm và không làm oan, sai.
Về chủ thể thực hiện KSĐT, là do Viện kiểm sát thực hiện. Chủ thể trực tiếp thực hiện là các chức danh tư pháp trong cơ quan Viện kiểm sát bao gồm Kiểm sát viên và Kiểm tra viên.
Đối tượng của KSĐT trước hết là chủ thể thực hiện hoạt động tố tụng và hoạt động tố tụng trong giai đoạn điều tra. Hoạt động tố tụng được thể hiện thành hai dạng là hành vi tố tụng và văn bản tố tụng. Mỗi hành vi tố tụng đều được thể hiện bằng văn bản tố tụng tương ứng. Hành vi tố tụng trong giai đoạn điều tra là hành vi của cơ quan điều tra và người tiến hành điều tra. Văn bản tố tụng trong giai đoạn điều tra là các loại văn bản do cơ quan có thẩm quyền điều tra và người tiến hành điều tra ban hành, xây dựng theo thẩm quyền và theo mẫu quy định thống nhất, bao gồm: các lệnh, quyết định, yêu cầu, kết luận điều tra, các biên bản và thông báo. Kiểm sát đối với hành vi tố tụng để đảm bảo hành vi đó được thực hiện theo đúng căn cứ và trình tự, thủ tục mà pháp luật tố tụng hình sự quy định. Còn kiểm sát đối với văn bản tố tụng là kiểm sát về nội dung và hình thức mà văn bản đó thể hiện phải theo mẫu, đúng nội dung và đúng thẩm quyền ban hành.
Chủ thể bị kiểm sát bao gồm: Cơ quan điều tra; cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra; điều tra viên, cán bộ điều tra.
CQĐT là cơ quan chuyên trách về điều tra tội phạm, trong CQĐT có người trực tiếp điều tra - người mang chức danh tư pháp là Điều tra viên, cán bộ điều tra.
Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra không phải là cơ quan chuyên trách về điều tra tội phạm, tuy nhiên họ được trao quyền năng điều tra vụ án hình sự do đặc điểm đặc thù về lĩnh vực công tác, về vùng địa lý và chỉ được điều tra về loại tội phạm ít nghiêm trọng, vụ án đơn giản, tình tiết rõ ràng. Trong các cơ quan này không có các chức danh tư pháp của người tiến hành điều tra, mà chỉ khi thụ lý điều tra vụ án hình sự thì các chức danh tư pháp mới được hình thành do có quyết định phân công của cấp trưởng cơ quan đó.
Về phạm vi hoạt động KSĐT: bắt đầu từ khi có Quyết định khởi tố vụ án đến khi CQĐT ban hành Bản kết luận điều đề nghị truy tố hoặc khi có quyết định đình chỉ điều tra vụ án hình sự và gửi hồ sơ vụ án cho viện kiểm sát. Ở giai đoạn giải quyết tố giác, tin báo tội phạm và kiến nghị khởi tố, một số hoạt động điều tra đã được tiến hành nhưng chỉ mang ý nghĩa là biện pháp xác minh sự việc ban đầu, hoạt động điều tra thực sự mang ý nghĩa là điều tra thì phải được diễn ra trong giai đoạn điều tra – khi mà sự việc đã được xác định là vụ án hình sự, vì vậy chức năng kiểm sát điều tra phải được diễn ra trong giai đoạn điều tra là phù hợp với lý luận và đúng với tên gọi của nó.
Trân trọng!
Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty Luật Minh Khuê