1. Vị trí, vai trò của Toà án nhân dân trong bộ máy nhà nước

Ở nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, bộ máy nhà nước được tổ chức theo nguyên tắc tập trung quyền lực có sự phân công và phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện ba quyền: lập pháp, hành pháp, tư pháp. Thực hiện quyền tư pháp mà chủ yếu là quyền xét xử là một trong những chức năng rất quan trọng của Nhà nước Việt Nam và được giao cho Toà án nhân dân. Do vậy, Toà án nhân dân có vị trí rất quan trọng trong bộ máy nhà nước.
Toà án có vị trí trung tâm trong các cơ quan tư pháp. Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02-6-2005 của Bộ Chính trị:
“Về Chiến lược Cải cách tư pháp đến năm 2020” đã khẳng định: “Tổ chức các cơ quan tư pháp và các chế định bổ trợ tư pháp hợp lý, khoa học và hiện đại về cơ cấu tổ chức và điều kiện, phương tiện làm việc; trong đó xác định Toà án có vị trí trung tâm và xét xử là hoạt động trọng tâm”.
- Toà án nhân dân tối cao, các Toà án nhân dân địa phương, các Toà án quân sự và các Toà án khác do luật định là các cơ quan xét xử của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
- Toà án nhân dân có vai trò quan trọng trong việc giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, tạo môi trường ổn định cho sự phát triển kinh tế, hội nhập quốc tế, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
- Toà án nhân dân là chỗ dựa của nhân dân trong việc bảo vệ công lý, quyền con người, đồng thời là công cụ hữu hiệu bảo vệ pháp luật và pháp chế xã hội chủ nghĩa, đấu tranh có hiệu quả với các loại tội phạm và vi phạm
 

2. Khái niệm của hoạt động xét xử của Tòa án.

Hoạt động xét xử của Tòa án có liên hệ mật thiết với quyền tư pháp.

Trước hết, xét xử theo giải thích thuật ngữ pháp lý, có nghĩa là “hoạt động của Tòa án tại phiên tòa để xem xét các chứng cứ và căn cứ vào pháp luật, xử lý vụ án bằng việc ra bản án và các quyết định của Tòa án”. Việc phán xử các cáo buộc, tranh chấp là một trong những phương thức thực hiện quyền lực nhà nước đã tồn tại từ xa xưa, khi mà Tòa án chưa được tổ chức thành một hệ thống và chưa trở thành một lĩnh vực hoạt động độc lập trong bộ máy nhà nước. Ngày nay, trên cơ sở học thuyết phân chia quyền lực nhà nước, hoạt động xét xử là hoạt động thực hiện quyền tư pháp của Tòa án, tách ra khỏi hai nhánh quyền lập pháp và hành pháp trong hoạt động quyền lực nhà nước. Hoạt động xét xử của Tòa án gắn với quyền tư pháp, như Hiến pháp Hoa Kỳ quy định:

“Quyền lực tư pháp của Hợp chủng quốc sẽ được trao cho Tòa án tối cao và những Tòa án cấp đổi mà Quốc hội có thể thiết lập trong một số trường hợp”, “quyền lực tư pháp theo bản Hiến pháp này sẽ có hiệu lực đối với tất cả các vụ việc trên phương diện luật pháp và công lý”

Tư pháp, theo nghĩa Hán - Việt được hiểu là “trông coi, bảo vệ pháp luật”;“pháp đình y theo pháp luật mà xét định các việc ở trong phạm vi pháp luật. Hiểu theo nghĩa này, nhiều nhà nghiên cứu đã cho rằng quyền tư pháp là hoạt động bảo vệ pháp luật do các cơ quan điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án thực hiện. Ở góc độ khác, nhiều nhà nghiên cứu còn cho rằng, tư pháp được dịch từ thuật ngữ tiếng Anh - “justice”, ngoài nghĩa là xét xử; còn có nghĩa là lý tưởng cao đẹp về một nền công lý, ở đó mọi vi phạm pháp luật đều được phát hiện và xử lý nghiêm minh, mọi tranh chấp trong xã hội được giải quyết hợp với lẽ phải và sự công bằng, các quyền tự do, dân chủ cơ bản của con người được đảm bảo, lòng tin của nhân dân vào pháp luật được duy trì. Chẳng hạn:

“Quyền tư pháp không chỉ thực hiện chức năng không thể thiếu của quyền lực nhà nước - chức năng bảo vệ pháp luật mà còn thực thể chức năng xã hội thiêng liêng là bảo vệ, duy trì công lý, công bằng xã hội".

Trong thực tiễn thực hiện quyền lực nhà nước hiện đại, có thể thấy, quyền lập hiến, lập pháp là quyền làm Hiến pháp, làm luật để thể chế hóa nhu cầu xã hội thành quy tắc chung; quyền hành pháp là quyền hoạch định chính sách, tổ chức thực thi chính sách, hay gọi tắt là quyền hành chính. Việc thực hiện quyền lập pháp và quyền hành pháp thường xảy ra những vấn để tranh cãi pháp lý cụ thể cần phải được giải quyết một cách thận trọng, thấu đáo, thuyết phục. Do đó, quyền tư pháp khi thực hiện việc 'bảo vệ pháp luật, bảo vệ trật tự hiến pháp, tất yếu phải hướng tới việc bảo vệ công lý, tức là làm nổi bật, sáng tỏ, gìn giữ “những lẽ chung đúng đắn” - “những hạt nhân hợp lý” của thuộc tính xã hội trong pháp luật, thì mới có thể thuyết phục được xã hội đồng tình, chấm dứt mọi tranh cãi. GS.TSKH. Lê Cảm đã nhận định:

“Vai trò của quyền tư pháp trong nhà nước pháp quyền chính là tác dụng của nhánh quyền lực nhà nước thứ ba (quyền xét xử) trong toàn bộ hoạt động của bộ máy công quyền nhằm thực hiện chức năng bảo vệ những giá trị xã hội cao quý nhất được thừa nhận chung của nền văn minh thế giới tránh khỏi sự xâm hại của các vi phạm pháp luật, góp phần khẳng định sự thắng lợi của tư tưởng pháp lý tiến bộ của nhân loại (công bằng, nhân đạo, dân chủ và pháp chế), cũng như của chính nghĩa đối với tàn bạo, của công lý đối với bất công, của cái thiện đối với cải ác, hỗ trợ đắc lực cho cuộc đấu tranh phòng và chống các vi phạm pháp luật”.

Hoặc như GS.TS. Nguyễn Phú Trọng nhận định:

“Tòa án là nơi biểu hiện tập trung tính chất dân chủ và công khai trong hoạt động bảo vệ pháp luật. Ở đó, con người tìm thấy lẽ công bằng, tính nhân đạo, thiện và ác một cách trực tiếp và cụ thể qua các sự kiện pháp lý cụ thể”.

 

Như vậy có thể hiểu, hoạt động xét xử của Tòa án chính là hoạt động thực hiện quyền tư pháp - nhánh quyền lực có chức năng bảo vệ công lý; hay ngược lại, quyền tư pháp chính là hoạt động xét xử của Tòa án thực hiện nhiệm vụ bảo vệ công lý. Hiến pháp năm 2013 đã quy định:

“Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp”, “có nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân”.

Luận giải một cách cụ thể, hoạt động xét xử của Tòa án là quá trình áp dụng pháp luật, diễn ra tập trung tại phiên tòa, được tiến hành theo một trình tự thủ tục tố tụng nhất định, để giải quyết các cáo buộc và tranh chấp pháp lý nhằm bảo vệ pháp luật, bảo vệ trật tự hiến pháp và bảo vệ công lý.

 

3. Đặc điểm hoạt động xét xử của Tòa án.

Hoạt động xét xử của Tòa án (được gọi tắt là hoạt động xét xử) có các đặc điểm bản sau đây:

Thứ nhất, hoạt động xét xử là hoạt động áp dụng pháp luật để giải quyết các cáo buộc và tranh chấp pháp lý nhằm bảo vệ pháp luật và bảo vệ trật tự hiến pháp. Bảo vệ pháp luật là hoạt động áp dụng trách nhiệm pháp lý đối với các chủ thể vi phạm pháp luật, xác định các quyền và nghĩa vụ của các bên. Bảo vệ trật tự hiến pháp là hoạt động vô hiệu hóa những quy phạm pháp luật trái với Hiến pháp, trái với trật tự thứ bậc hiệu lực pháp luật trong quá trình giải quyết các cáo buộc và tranh chấp pháp lý. Các hoạt động này được tiến hành trên sở pháp luật và trật tự hiến pháp, không thể vượt quá giới hạn, phạm vi của pháp luật và trật tự hiến pháp.

Thứ hai, hoạt động xét xử còn nhằm mục đích bảo vệ công lý. Bảo vệ công lý là hoạt động làm nổi bật, sáng tỏ, gìn giữ “những lẽ chung đúng đắn” - “hạt nhân hợp lý” của thuộc tính xã hội trong pháp luật, để các phán quyết của Tòa án có sức thuyết phục, kết thúc được các vụ việc tranh cãi pháp lý, qua đó góp phần kiểm soát quyền lực nhà nước, ổn định trật tự xã hội

Thứ ba, hoạt động xét xử được thực hiện tập trung tại phiên tòa, với sự bình đẳng của các bên trước Tòa án; do chủ thể xét xử tiến hành theo một trình tự thủ tục tố tụng nhất định, xem xét đánh giá chứng cứ, lựa chọn quy phạm pháp luật... và từ đó nhân danh nhà nước và pháp luật, nhân danh công lý phán quyết giải quyết các cáo buộc và tranh chấp pháp lý. Theo nhu cầu phát triển của xã hội và theo sự phân công, phối hợp trong việc thực hiện quyền lực nhà nước, ngoài hoạt động xét xử tại phiên tòa, Tòa án còn thực hiện các hoạt động xét việc thông qua các phiên họp để giải quyết các yêu cầu khác nhau. Tuy nhiên, hoạt động xét xử vẫn chiếm vị trí chủ yếu và là đặc trưng khi đề cập đến thực hiện quyền tư pháp của Tòa án.

Thứ tư, hoạt động xét xử không thể tách rời các hoạt động liên quan có tính chất tiền đề, kiểm sát, bổ trợ và thi hành án để đảm bảo cho phán quyết được ban hành hợp pháp và thực thi trên thực tế. Các hoạt động có tính chất tiền đề là hoạt động điều tra, truy tố; có tính chất kiểm sát là hoạt động kiểm sát; có tính chất bổ trợ là hoạt động bào chữa, bảo vệ, công chứng, giám định; có tính chất hành chính là hoạt động thi hành án. Theo góc độ này, các cơ quan điều tra, công tố sẽ được xem là cơ quan tiền tư pháp; Viện kiểm sát là cơ quan kiểm sát tư pháp; tổ chức luật sư, công chứng, giám định sẽ là cơ quan, tổ chức bổ trợ tư pháp và thi hành án sẽ là cơ quan hành chính tư pháp. Chỉ có duy nhất Tòa án mới được gọi là cơ quan tư pháp, còn các cơ quan, tổ chức khác (cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, thi hành án, tổ chức luật sư...) được xem là các cơ quan, tổ chức thuộc về hệ thống tư pháp.

 

4. Vai trò của hoạt động xét xử khi sử dụng các quy định có tính chất đánh giá của pháp luật

Trong thực tiễn xét xử các vụ án hình sự, có thể xem xét vấn đề về mối tương quan giữa yếu tố thuộc về hành vi tội phạm và yếu tố thuộc về nhân thân người phạm tội. Nếu nhấn mạnh yếu tố thứ nhất, coi trọng hành vi là chính, thì nguyên tắc “mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật” sẽ được thực hiện tuyệt đối, nhưng không phải khi nào cũng cho ta một giải quyết đúng. Chẳng hạn, nếu không tính đến khả năng nhận thức của người phạm tội, như “bị chi phối, đe dọa, cưỡng bức; trình độ nghiệp vụ non kém, hoặc là: kẻ cầm đầu, kẻ xúi giục, kẻ lợi dụng chức vụ, quyền hạn v.v.. Nhưng nếu chú trọng đến yếu tố nhân thân thì không tránh khỏi việc nhận xét và đánh giá chủ quan, dẫn đến phủ nhận tác dụng phòng ngừa chung của pháp luật. Chính vì vậy, người làm luật đã có một giải pháp thích hợp với cả hai yếu tố kể trên bằng cách sử dụng hai chế định: cấu thành tội phạm và quyết định hình phạt. Khi quy định cấu thành tội phạm, yếu tố hành vi đóng vai trò chủ đạo, còn yếu tố nhân thân chỉ được nhắc đến dưới dạng chung nhất. Cấu thành tội phạm là căn cứ cần và đủ cho việc truy cứu trách nhiệm hình sự, song chưa đủ để xác định một hình thức xử lý về trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội. Trong chế định quyết định hình phạt của luật hình sự còn phải tính đến yếu tố nhân thân, vì mục đích của hình phạt là để tác động đến ý thức người phạm tội và do đó, Tòa án không chỉ “cân nhắc” đến tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ hoặc tăng nặng khác (Điều 45 Bộ luật Hình sự). Luật cũng quy định là, trong trường hợp, khi có nhiều tình tiết giảm nhẹ. Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất mà điều luật đã quy định, hoặc chuyển sang một hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn (Điều 47). Cần chú ý: Luật dùng từ ngữ “có thể”, chứ không phải dùng từ ngữ có tính chất bắt buộc. Như vậy là, cả trong việc đánh giá và cân nhắc các yếu tố thuộc về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và cả khi sử dụng các yếu tố và tình tiết đó để quyết định hình phạt, Luật giao cho Tòa án được quyền cân nhắc tự giải quyết.
 

5. Vai trò của hoạt động xét xử khi sử dụng khả năng áp dụng tùy nghi các quy định của pháp luật

Chúng ta đều biết rằng các quy phạm của pháp luật không thể phản ánh được hết tất cả các mặt của đời sống xã hội rất sinh động và đa dạng. Tính khái quát và phổ biến của quy phạm pháp luật, và yêu cầu áp dụng nó một cách cụ thể - đó là hai mặt của một sự thống nhất biện chứng, đòi hỏi sự sáng tạo và thể hiện vai trò quan trọng của hoạt động áp dụng luật, của hoạt động thực tiễn. Vai trò đó thể hiện ở việc giải quyết vấn đề, làm thế nào để mục đích của người làm luật được thực hiện đầy đủ và đúng đắn trong mọi điều kiện. Những tiền đề của sự giải quyết vấn đề đó trước hết phải được tạo ra từ hoạt động xây dựng pháp luật. Mặt khác, cũng như pháp luật nói chung, các tiền đề đó là do các điều kiện khách quan quyết định nhưng một phần nào đó là yếu tố chủ quan như kinh nghiệm làm luật, trình độ của đội ngũ cán bộ làm luật v.v..
Pháp luật, dù có hoàn thiện đến mấy, cũng không thể phản ánh và quy định hết được tất cả những hoàn cảnh cụ thể của cuộc sống. Và do đó, không thể cho rằng, kể từ khi bỏ nguyên tắc tương tự và quy định cụ thể các tội phạm, người áp dụng pháp luật chỉ còn đóng vai trò là một “Bộ luật biết nói”.
Tuy nhiên, nói như vậy không có nghĩa là quy định của pháp luật luôn luôn chỉ là quy định đông cứng mà không có ý nghĩa đối với hoàn cảnh và thời gian cụ thể. Nhiều quy định của pháp luật, ngay từ đầu, đã chủ tâm tạo ra những khả năng để vận dụng và hiểu tùy theo hoàn cảnh và điều kiện lịch sử cụ thể.
Trong pháp luật hình sự, có nhiều quy phạm có tính chất đánh giá. Chẳng hạn, ta thường gặp các quy định như “xâm phạm nghiêm trọng lợi ích của Nhà nước, của tập thể, của nhân dân”, “gây hậu quả nghiêm trọng”, “gây thiệt hại lớn”, “với số lượng” hoặc “có giá trị đặc biệt”, “có động lực đê hèn”, “thủ đoạn gian ác” v.v.. Những quy phạm đánh giá đó phản ánh một sự thật khách quan là: trong sự phát triển không ngừng của các quan hệ xã hội, không thể xác định trước được một số phạm trù mang tính biến đổi lớn về chất cũng như về lượng. Trong khi đó, quy phạm pháp luật phải vừa là những quy phạm có tính ổn định cao, lại vừa là một công cụ có chức năng phục vụ kịp thời yêu cầu của sự phát triển xã hội. Các phạm trù, khái niệm như khái niệm “lợi ích của Nhà nước, của nhân dân, của tập thể” mà ta thường gặp trong các quy định của luật hình sự, cũng có thể thay đổi theo tiến trình phát triển của lịch sử. Các giá trị và việc đánh giá mức độ thiệt hại trong tương lai chắc chắn không giống như hiện nay, cũng như hôm nay khác với thời kỳ trước.
Công ty luật Minh Khuê (tổng hợp & phân tích)