Hoạt động xét xử, nói một cách ngắn gọn, là hoạt động áp dụng pháp luật được diễn ra tại phiên tòa để giải quyết các cáo buộc, tranh chấp pháp lý.
Áp dụng pháp luật là hoạt động có tính tổ chức, tính quyền lực nhà nước, do các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền tiến hành theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định nhằm cá biệt hóa các quy phạm pháp luật hiện hành vào những trường hợp cụ thể, đối với các cá nhân, tổ chức cụ thể. Đối với Tòa án, đó là hoạt động nhân danh nhà nước và pháp luật của Tòa án, được tiến hành theo trình tự thủ tục tố tụng nhằm cá biệt hóa các quy phạm pháp luật vào giải quyết các cáo buộc, tranh chấp pháp lý cụ thể.
Hoạt động xét xử bao gồm các yếu tố cơ bản sau đây:
1. Hình thức xét xử
Tòa án nhân dân xét xử tập thể và quyết định theo đa số, trừ trường hợp xét xử theo thủ tục rút gọn. Nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm. Chế độ xét xử sơ thẩm, phúc thẩm được bảo đảm. Quyền bào chữa của bị can, bị cáo, quyền bảo vệ lợi ích hợp pháp của đương sự được bảo đảm.
Hoạt động xét xử được thực hiện tập trung qua hình thức phiên tòa, được tổ chức theo từng loại thủ tục riêng tùy theo bản chất vụ án. Phiên tòa được diễn ra công khai toàn bộ hay một phần tùy theo những trường hợp nhất định. Tùy theo tính chất vụ án, phiên tòa được tổ chức có thể là phiên tòa sơ thẩm, phiên tòa phúc thẩm..., được thực hiện theo thủ tục rút gọn hay thủ tục thông thường. Kết quả xét xử là một phán quyết nhân danh nhà nước và pháp luật giải quyết vụ án, được công bố dưới hình thức là bản án hoặc quyết định.
2. Chủ thể xét xử
Chủ thể xét xử có thể là Hội đồng xét xử hoặc một Thẩm phán. Hội đồng xét xử có thể là 03 người, 05 người hoặc nhiều hơn; thành phần Hội đồng xét xử có Thẩm phán và Hội thẩm hoặc chỉ có toàn Thẩm phán tùy vào phiên tòa được tổ chức. Trong những vụ án đặc thù thì thành phần Hội đồng xét xử phải có người có chuyên môn phù hợp theo yêu cầu của thủ tục tố tụng.
- Việc xét xử của Toà án nhân dân có Hội thẩm nhân dân tham gia, việc xét xử của Toà án quân sự có Hội thẩm quân nhân tham gia theo quy định của pháp luật tố tụng. Khi xét xử, Hội thẩm ngang quyền với Thẩm phán (Điều 129 Hiến pháp năm 1992; Điều 4 Luật tổ chức Toà án nhân dân). Tuỳ từng loại vụ án cụ thể mà nguyên tắc này được quy định tại các điều luật tương ứng của Bộ luật tố tụng hình sự, Bộ luật tố tụng dân sự, Pháp lệnh tổ chức Toà án quân sự, Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính.
- Khi xét xử, Hội thẩm ngang quyền với Thẩm phán cần được hiểu là khi xét xử bất kỳ một vụ án nào thuộc thẩm quyền của Toà án mà có Hội thẩm tham gia, thì Hội thẩm và Thẩm phán có quyền ngang nhau trong việc giải quyết tất cả các vấn đề của vụ án, không phân biệt vấn đề đó là về mặt tố tụng hay về mặt nội dung.
- Khi xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật (Điều 130 Hiến pháp năm 1992; Điều 5 Luật tổ chức Toà án nhân dân)
3. Chủ thể bị xét xử và chủ thể tham gia xét xử
Chủ thể bị xét xử là người, tổ chức bị xét xử có tên gọi theo thủ tục tố tụng như bị cáo, bị hại, nguyên đơn, bị đơn, người khởi kiện, người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong các vụ án hình sự, dân sự, hành chính. Chủ thể tham gia xét xử là những người tham gia xét xử để giúp cho việc xét xử đạt được mục đích; họ có thể là công tố viên, kiểm sát viên, người làm chứng, người chứng kiến, người giám định, người định giá tài sản, người phiên dịch, luật sư... trong vụ án. Cụ thể
- Trong vụ án hình sự: Chủ thể của tố tụng hình sự gồm cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng.
- Trong vụ án dân sự: Những người tham gia tố tụng dân sự gồm có: Đương sự, người đại diện của đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, người làm chứng, người giám định, người phiên dịch và người định giá tài sàn. Khoản 2 Điều 68 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì người được xác định là nguyên đơn trong vụ án dân sự là người cho rằng quyền và hợp pháp của mình bị xâm phạm và là người khởi kiện, hoặc người “được người khác khởi kiện thay”. Chính vì để làm rõ quy định này mà tại Điều 186 và Điều 187 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì người khởi kiện được xác định là chủ thể tự khởi kiện vì cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm, hoặc người khởi kiện thay chủ thể khác: khi cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của người khác hoặc lợi ích công cộng hay lợi ích của Nhà nước bị xâm phạm.
- Trong vụ án hành chính: Người tham gia tố tụng hành chính gồm đương sự, người đại diện của đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, người làm chứng, người giám định, người phiên dịch
4. Đối tượng xét xử
Đối tượng xét xử là những cáo buộc pháp lý và tranh chấp pháp lý trong các vụ việc tranh cãi pháp lý.
Khi một bên có hoặc bị nghi là có vi phạm nghĩa vụ làm cho quyền của bên kia bị ảnh hưởng, lúc đó cáo buộc và tranh chấp pháp lý tại Tòa án sẽ nảy sinh.
Cáo buộc pháp lý là việc một bên, trên cơ sở có nghĩa vụ pháp lý đã được xác định, tố bên có nghĩa vụ đã có hành vi vi phạm nghĩa vụ, hay gọi là có vi phạm pháp luật, từ đó yêu cầu xác định một trách nhiệm pháp lý đối với bên vi phạm. Chẳng hạn như truy tố tội phạm, khiếu kiện quyết định hành chính...
Tranh chấp pháp lý là việc một bên tranh chấp yêu cầu bên kia phải công nhận quyền pháp lý của mình trước và sau khi quyền của mình được xác định thì yêu cầu bên kia phải có trách nhiệm tôn trọng, thực hiện. Chẳng hạn như tranh chấp thừa kế tài sản dựa trên yêu cầu các bên công nhận quyền thừa kế và yêu cầu chia thừa kế, tranh chấp hợp đồng vay dựa trên yêu cầu công nhận hợp đồng vay và yêu cầu trả nợ...
Cáo buộc pháp lý dựa trên nghĩa vụ pháp lý đã được xác định; còn tranh chấp pháp lý phải xác định nghĩa vụ pháp lý qua việc công nhận quyền pháp lý của một bên trước, rồi mới xác định trách nhiệm pháp lý sau đó. Như vậy, tranh chấp pháp lý có yêu cầu rộng hơn cáo buộc pháp lý.
Việc phân biệt giữa cáo buộc pháp lý và tranh chấp pháp lý giúp chủ thể xét xử xác định đúng phạm vi giải quyết vụ án. Cáo buộc pháp lý nghĩa là cáo buộc về vi phạm pháp luật và xác định trách nhiệm pháp lý, còn tranh chấp pháp lý nghĩa là yêu cầu xác định quyền pháp lý trước rồi xác định nghĩa vụ và trách nhiệm pháp lý theo sau.
Trong một vụ án, có thể có một hoặc nhiều cáo buộc và tranh chấp pháp lý khác nhau. Căn cứ vào các lĩnh vực, pháp luật tố tụng hiện nay đã phân chia chúng vào các loại vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, mỗi loại vụ án đều có yêu cầu tổ tụng riêng. Có thể thấy như sau:
- Vụ án hình sự dựa trên cáo buộc pháp lý về hành vi liên quan đến tội phạm do Bộ luật hình sự quy định. Các cáo buộc do cơ quan truy tố thực hiện và có nghĩa vụ chứng minh, được Tòa án xét xử theo quy định của luật tố tụng hình sự. Điều 15 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 quy định: “ Trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Người bị buộc tội có quyền nhưng không buộc phải chứng minh là mình vô tội”...
- Vụ án dân sự dựa trên cáo buộc và tranh chấp pháp lý do các bên yêu cầu trong lĩnh vực dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh thương mại, lao động. Trong vụ án, các bên có quyền và nghĩa vụ chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp; Tòa án không được từ chối giải quyết vì không có điều luật để áp dụng và giải quyết các yêu cầu theo quy định của luật tố tụng dân sự. Điều 4 và Điều 6 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 quy định: “Tòa án không được từ chối giải quyết vụ việc dân sự vì lý do chưa có điều luật để áp dụng”; “đương sự có quyền và nghĩa vụ chủ động thu thập, giao nộp chứng cứ cho Tòa án và chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp”...
- Vụ án hành chính dựa trên cáo buộc của bên khiếu kiện liên quan đến quyết định hành chính, hành vi hành chính và các quyết định khác theo quy định của pháp luật tố tụng hành chính; các bên có quyền và nghĩa vụ chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp; bên bị kiện là chủ thể quản lý hành chính nhà nước phải có nghĩa vụ chứng minh, bảo vệ quyết định, hành vi bị kiện của mình là đúng pháp luật, được Tòa án xét xử theo quy định của luật tố tụng hành chính. Điều 9 Luật tố tụng hành chính năm 2015 đã quy định: “Các đương sự có quyền và nghĩa vụ chủ động thu thập, giao nộp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án và chứng minh yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp”.
- Ngoài các vụ án trên, các vấn đề khác có liên quan đến cáo buộc và tranh chấp cũng được Tòa án giải quyết trong cùng vụ án, đó là:
+ Vấn đề dân sự trong vụ án hình sự liên quan đến cáo buộc pháp lý về trách nhiệm bồi thường thiệt hại sau khi xác định có tội phạm; vấn đề dân sự trong vụ án hành chính liên quan đến cáo buộc pháp lý về trách nhiệm bồi thường thiệt hại sau khi xác định vi phạm quản lý hành chính (Điều 30 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Điều 7 Luật tố tụng hành chính năm 2015);
+ Vấn đề xử lý quyết định cá biệt của cơ quan, tổ chức trong vụ án dân sự được thực hiện khi Tòa án xét thấy có quyết định cá biệt của cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền là trái pháp luật, xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự trong vụ án đang giải quyết (Điều 34 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015);
+ Vấn đề xử lý vi phạm tố tụng, vi phạm trật tự hiến pháp được thực hiện trong quá trình Tòa án giải quyết các vụ án... (Điều 2 Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014).
5. Nội dung xét xử
Xét xử là hoạt động xem xét, đánh giá bản chất pháp lí của vụ việc nhằm đưa ra một phán xét về tính chất, mức độ pháp lí của vụ việc, từ đó nhân danh Nhà nước đưa ra một phán quyết tương ứng với bản chất, mức độ trái hay không trái pháp luật của vụ việc (xét xử vụ án hình sự, dân sự, kinh doanh, thương mại, ...). Nội dung xét xử là những nội dung trong một vụ án mà chủ thể xét xử phải giải quyết và thực thi, bao gồm:
Thứ nhất, giải quyết những vấn đề về bản chất pháp lý của vụ án.
Vấn đề về bản chất pháp lý của vụ án là những vấn đề liên quan đến việc xác định sự kiện vi phạm pháp luật, trách nhiệm pháp lý, yêu cầu quyền pháp lý và các vấn đề pháp lý khác có liên quan xuất phát từ các cáo buộc, tranh chấp pháp lý mà Tòa án có thẩm quyền giải quyết. Cụ thể như sau:
(i) Xác định sự kiện vi phạm pháp luật khi có cáo buộc
Vi phạm pháp luật phải là hành vi xác định của con người, tức là xử sự thực tế, cụ thể của cá nhân hoặc tổ chức nhất định, bởi vì pháp luật được ban hành để điều chỉnh hành vi của các chủ thể mà không điều chỉnh suy nghĩ của họ. Mác đã từng nói: ngoài hành vi của tôi ra, tôi khòng tồn tại đối với pháp luật, không phải là đối tượng của nó. Vì vậy, phải căn cứ vào hành vi thực tế của các chủ thể mới có thể xác định được là họ thực hiện pháp luật hay vi phạm pháp luật.
Theo pháp luật Việt Nam hiện nay, những vi phạm pháp luật mà Tòa án có thẩm quyền giải quyết, có thể liệt kê như sau: Tội phạm, vi phạm hành chính, vi phạm dân sự, vi phạm kỷ luật, vi phạm quản lý hành chính, vi phạm tố tụng và vi phạm trật tự hiến pháp. Đối với mỗi loại vi phạm pháp luật, Tòa án có thẩm quyền xem xét giải quyết ở một mức độ nhất định và bằng các thủ tục khác nhau, chẳng hạn:
- Tội phạm là hành vi vi phạm pháp luật được quy định trong Bộ luật hình sự, hậu quả phải chịu trách nhiệm hình sự. Tội phạm chỉ do Tòa án là cơ quan duy nhất có thẩm quyền xét xử theo thủ tục tố tụng hình sự;
- Vi phạm hành chính là hành vi vi phạm quy tắc quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm, hậu quả phải chịu trách nhiệm hành chính. Theo quy định, xử lý vi phạm hành chính chủ yếu được giao cho các cơ quan quản lý hành chính thực hiện, Tòa án chỉ xử lý đối với những hành vi cản trở hoạt động tố tụng và trong trường hợp đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc. Tòa án thực hiện việc này thông qua thủ tục xử lý hành chính, không phải thủ tục xét xử;
- Vi phạm dân sự là hành vi vi phạm pháp luật trong quan hệ dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh thương mại, lao động; chủ thể vi phạm phải chịu trách nhiệm dân sự. Tòa án có quyền giải quyết tất cả các loại vụ việc dân sự theo thủ tục tố tụng dân sự, kể cả trường hợp chưa có luật để áp dụng (Tòa án giải quyết vụ án dân sự bằng thủ tục xét xử, còn giải quyết việc dân sự bằng thủ tục xét họp);
- Vi phạm quản lý hành chính là hành vi vi phạm pháp luật của chủ thể quản lý hành chính trong quá trình ban hành quyết định hành chính, thực hiện hành vi hành chính... về vấn đề cụ thể đối với đối tượng cụ thể. Hậu quả của sự vi phạm là các quyết định, hành vi hành chính sẽ bị Tòa án tuyên hủy một phần hay toàn bộ, bị tuyên là trái pháp luật... theo thủ tục tố tụng hành chính;
- Vi phạm tố tụng là hành vi vi phạm thủ tục tố tụng của chủ thể tiến hành tố tụng, chủ thể tham gia tố tụng khi thực hiện thủ tục tố tụng trong vụ án. Trong quá trình xét xử, chủ thể xét xử xem xét trong quá trình tố tụng có xảy ra vi phạm tố tụng hay không, bắt đầu từ khi thụ lý, khởi tố cho đến trước khi công bố phán quyết giải quyết vụ án. Nếu vi phạm tố tụng được xác định ở giai đoạn xét xử sơ thẩm, hậu quả có thể là Tòa án tuyên trả hồ sơ để điều tra bổ sung đối với quyết định truy tố, hoặc đình chỉ giải quyết yêu cầu của nguyên đơn, hoặc hoãn phiên tòa để bổ sung hồ sơ thủ tục... Nếu ở giai đoạn xét xử phúc thẩm, giám đốc thẩm hoặc tái thẩm, hậu quả có thể là bản án, quyết định của Tòa án cấp dưới bị Tòa án cấp trên hủy, sửa...;
- Vi phạm trật tự hiến pháp là hành vi của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật trái với Hiến pháp, trái với trật tự thứ bậc hiệu lực pháp luật, ví dụ như văn bản quy phạm pháp luật cấp dưới không phù hợp văn bản quy phạm pháp luật cấp trên hoặc không phù hợp với Hiến pháp. Hiện nay, mô hình bảo hiến theo Hiến pháp năm 2013 là tất cả các cơ quan nhà nước và toàn thể nhân dân có trách nhiệm bảo vệ Hiến pháp (Điều 119). Theo quy định, Tòa án xem xét việc vi phạm trật tự hiến pháp trong quá trình giải quyết các loại vụ việc mà không tách ra giải quyết thành một vụ việc riêng. Những quy phạm có vi phạm sẽ không được Tòa án áp dụng, sẽ bị Tòa án kiến nghị sửa đổi, bãi bỏ theo quy định của mỗi loại thủ tục tố tụng.
Vi phạm pháp luật là một sự kiện pháp lý phức tạp, đòi hỏi chủ thể xét xử phải nắm vững khoa học pháp lý về cấu thành vi phạm pháp luật để có thể phân biệt chính xác các dạng vi phạm trong từng loại vi phạm cũng như các loại vi phạm khác nhau để tránh tình trạng nhầm lẫn, chuyển hóa vi phạm này sang vi phạm khác, hoặc tội phạm thành vi phạm hành chính, vi phạm dân sự, vi phạm kỷ luật... hoặc ngược lại, qua đó mới có thể giải quyết đúng đắn vụ án.
Kết quả sau khi xác định sự kiện vi phạm pháp luật, nếu có thì Tòa án sẽ chấp nhận cáo buộc, nếu không có thì Tòa án sẽ bác cáo buộc.
(ii) Xác định trách nhiệm pháp lý: Về mặt pháp luật, trách nhiệm pháp lý được hiểu là là hậu quả pháp lý bất lợi đối với chủ thể phải gánh chịu thể hiện qua việc họ phải gánh chịu những biện pháp cưỡng chế nhà nước được quy định trong phần chế tài của các quy phạm pháp luật khi họ vi phạm pháp luật hoặc khi có thiệt hại xảy ra do những nguyên nhân khác được pháp luật quy định.
Hậu quả của vi phạm pháp luật là phải chịu trách nhiệm pháp lý. Do đó, việc tiếp theo là Tòa án phải xác định các vấn đề về trách nhiệm pháp lý như: Loại trách nhiệm pháp lý; những sự kiện pháp lý làm thay đổi trách nhiệm pháp ly (tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm, miễn, giảm trách nhiệm...); những sự kiện làm chấm dứt trách nhiệm pháp lý (đại xá, tình hình thực tế thay đổi...); những sự kiện loại trừ trách nhiệm pháp lý (phòng vệ chính đáng, tình thế cấp thiết...); sự tương xứng, phù hợp giữa các loại, mức trách nhiệm pháp lý với tính chất, hậu quả do vi phạm pháp luật gây ra...
(iii) Xác định yêu cầu quyền pháp lý khi có tranh chấp pháp lý
Xác định yêu cầu quyền pháp lý đòi hỏi phải xác định quan hệ pháp luật đang tranh chấp, những sự kiện pháp lý làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt các quyền pháp lý của các bên tham gia quan hệ pháp luật tranh chấp. Những quan hệ pháp luật tranh chấp này có thể là quan hệ gắn với nhân thân (như yêu cầu ly hôn trong quan hệ hôn nhân, yêu cầu cấp dưỡng trong quan hệ cấp dưỡng...) hay là quan hệ về tài sản (như yêu cầu đòi lại tài sản trong quan hệ sở hữu...) hay quan hệ về hợp đồng (như yêu cầu đòi nợ trong hợp đồng vay...)... Việc xem xét các bên tranh chấp có được đáp ứng yêu cầu công nhận quyền pháp lý hay không phụ thuộc vào chủ thể đó có thỏa mãn các sự kiện pháp lý được pháp luật quy định hay không. Nếu có thì Tòa án chấp nhận yêu cầu, nếu không thì Tòa án sẽ bác yêu cầu. Ví dụ: Một bên yêu cầu chia thừa kế, nếu có sự kiện người để lại thừa kế chết, có di sản, bên yêu cầu có quan hệ về hàng thừa kế... thì được Tòa án chấp nhận yêu cầu chia thừa kế...
Sau khi xác định quyền pháp lý của một bên, sẽ xác định được nghĩa vụ pháp lý, từ đó xác định việc vi phạm nghĩa vụ pháp lý và trách nhiệm pháp lý của bên còn lại. Lúc này lý luận xác định về sự kiện vi phạm pháp luật và trách nhiệm pháp lý như ở phần trên sẽ được áp dụng để giải quyết nội dung còn lại của tranh chấp.
(iv) Xác định những vấn đề pháp lý khác có liên quan
Ngoài việc xác định những vấn đề nêu trên, những vấn đề pháp lý khác có liên quan cũng được xác định trong các quan hệ pháp luật cụ thể, như vấn đề về thời hiệu đối với truy cứu trách nhiệm pháp lý của từng loại vi phạm, về thời hiệu hưởng quyền, miễn trừ nghĩa vụ, những trường hợp không tính vào thời hiệu... Đó cũng là những vấn đề pháp lý quan trọng cần phải được giải quyết đầy đủ trong vụ án.
Thứ hai, thực thi đầy đủ những thủ tục tố tụng của vụ án.
Thực thi những thủ tục tố tụng của vụ án có hình thức là hành vi hoặc quyết định tố tụng của chủ thể xét xử, có nội dung là hoạt động áp dụng pháp luật tố tụng để giải quyết những tình huống tố tụng xảy ra trong quá trình giải quyết vụ án. Ví dụ: Tại phiên tòa, đương sự có yêu cầu cần có người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, Tòa án phải thực hiện những hành vi thủ tục tạo điều kiện để đương sự nhờ luật sư bảo vệ cho mình...
Thủ tục tố tụng xét xử vụ án được thực thi qua ba giai đoạn: Giai đoạn chuẩn bị xét xử, giai đoạn xét xử và giai đoạn sau xét xử. Giai đoạn chuẩn bị xét xử là giai đoạn xây dựng hồ sơ vụ án, tiến hành phiên họp công khai chứng cứ, hòa giải, tổng đạt văn bản tố tụng... Giai đoạn xét xử là giai đoạn tại phiên tòa, được chia thành các giai đoạn thủ tục nhỏ hơn gồm: Thủ tục bắt đầu phiên tòa, thủ tục tranh tụng, thủ tục nghị án, thủ tục tuyên án. Giai đoạn sau xét xử là giai đoạn phát hành, tống đạt phán quyết, thực hiện thủ tục kháng cáo, chuyển hồ sơ kháng cáo, lưu trữ hồ sơ... Các giai đoạn thủ tục có liên hệ mật thiết, thông suốt với nhau, nên chủ thể xét xử không được bỏ sót hay tự ý thêm thắt, phải thực thi chúng một cách nghiêm ngặt theo quy định.
Để thực thi đúng đắn những thủ tục tố tụng của vụ án, chủ thể xét xử phải xác định đúng những thủ tục tố tụng cẩn phải thực hiện. Điều đó đòi hỏi phải xác định đúng quan hệ pháp luật tố tụng, xác định đầy đủ các sự kiện pháp lý làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt các quyền, nghĩa vụ, nhiệm vụ tố tụng của các chủ thể tham gia.
Hoạt động thực thi thủ tục tố tụng có liên hệ chặt chẽ đến hoạt động giải quyết những vấn để bản chất pháp lý của vụ án. Thực thi thủ tục tố tụng chặt chẽ sẽ giúp cho việc giải quyết các vấn đề về bản chất pháp lý được đúng đắn, nhanh chóng và kịp thời. Ngược lại, việc giải quyết đúng vấn đề bản chất pháp lý sẽ định hướng việc thực thi tổ tụng một cách chính xác và hiệu quả.
Thứ ba, định chuẩn pháp lý để giải quyết vụ án đây là hoạt động tìm kiếm và áp dụng pháp luật để bảo vệ pháp luật, tuân thủ và bảo vệ trật tự hiến pháp và bảo vệ công lý, hoạt động xét xử tất nhiên phải được tiến hành trên cơ sở, căn cứ là pháp luật, trật tự hiến pháp và công lý - “những lẽ chung đúng đắn”, “hạt nhân hợp lý” của thuộc tính xã hội trong pháp luật. Nói cách khác, hoạt động xét xử luôn gắn với quá trình lựa chọn, tìm ra quy phạm pháp luật, quy tắc chuẩn mực trong hệ thống pháp luật để giải quyết vụ án bên cạnh đó còn bảo vệ công lý
Thứ tư, thể hiện phán quyết giải quyết vụ án: Kết quả hướng đến của phiên tòa xét xử là phán quyết giải quyết vụ án (xác định quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm pháp lý hoặc hủy, sửa, giữ nguyên phán quyết của cấp xét xử trước đó...). Hình thức của phán quyết là bản án hoặc quyết định. Nội dung của phán quyết là những nội dung thể hiện đầy đủ các thông tin về vụ án, về pháp luật áp dụng, kết luận và quyết định của chủ thể xét xử về các vấn đề cần giải quyết trong một vụ án cụ thể.
6. Phương thức và mục đích xét xử
Phương thức xét xử là cách thức xét xử mà chủ thể xét xử thực hiện để giải quyết vụ án. Đó là sự thống nhất giữa hoạt động đánh giá chứng cứ và hoạt động điều hành phiên tòa, trong đó hoạt động đánh giá chứng cứ giữ vai trò quyết định, định hướng cho hoạt động điều hành phiên tòa. Phương thức xét xử phù hợp sẽ quyết định thành công trong việc giải quyết đúng đắn vụ án.
Mục đích của hoạt động xét xử là hướng tới kết quả phán quyết có tính thuyết phục, nhằm có thể chấm dứt được các vụ việc tranh cãi pháp lý phát sinh trong đời sống xã hội. Với đòi hỏi khách quan đó, Tòa án không chỉ dựa vào pháp luật đơn thuần để bảo vệ pháp luật, bảo vệ trật tự hiến pháp, mà còn phải hướng tới “hạt nhân hợp lý” của thuộc tính xã hội trong pháp luật, đó chính là công lý, phải lấy việc bảo vệ công lý là nhiệm vụ ưu tiên, là mục đích cao nhất, thì mới có thể thuyết phục xã hội tin tưởng và công nhận vào phán quyết. Như trong triết học tự nhiên, hạt nhân hợp lý trong phép biện chứng của Hegel là tư tưởng về sự thống nhất giữa vật chất với vận động, dự đoán không gian, thời gian và vận động có mâu thuẫn bên trong, ở đó thể hiện tính thống nhất giữa tính gián đoạn và tính liên tục; là tư tưởng cho rằng sự khác biệt hóa học về chất bị phụ thuộc vào những thay đổi về lượng, là sự biện chứng của quá trình hóa học; là mối liên hệ hữu cơ giữa hóa học và vật lý, quá trình hóa học là khâu chuẩn bị cuối cùng cho đời sống hữu cơ.
Ngoài ra, nếu còn vấn đề vướng mắc hoặc băn khoăn về những nội dung trên hoặc các nội dung khác liên quan tới bài viết Quý khách hàng có thể liên hệ tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến 1900.6162 để được giải đáp thêm.
Trân trọng./
Bộ phận tư vấn pháp luật - Công ty luật Minh Khuê