1. Khái niệm của bảo vệ công lý trong hoạt động xét xử.

“Bảo vệ” trong ngôn ngữ tiếng Việt, có nghĩa là “chống lại mọi sự hủy hoại, xâm phạm để giữ gìn cho được nguyên vẹn; bênh vực bằng lý lẽ để giữ vững ý kiến hay quan điểm, v.v.. Do đó, có thể hiểu, bảo vệ công lý trong hoạt động xét xử của Tòa án là hoạt động làm sáng tỏ, gìn giữ “những lẽ chung đúng đắn” - “hạt nhân hợp lý” của thuộc tính xã hội trong pháp luật, được Tòa án thực hiện trong quá trình xét xử, để hướng tới những phán quyết có sức thuyết phục, được xã hội đổng tình, qua đó góp phần giúp xã hội giữ vững trật tự, ổn định và phát triển bền vững.

Trong triết học tự nhiên, hạt nhân hợp lý trong phép biện chứng của Hegel là tư tưởng về sự thống nhất giữa vật chất với vận động, dự đoán không gian, thời gian và vận động có mâu thuẫn bên trong, ở đó thể hiện tính thống nhất giữa tính gián đoạn và tính liên tục; là tư tưởng cho rằng sự khác biệt hóa học về chất bị phụ thuộc vào những thay đổi về lượng, là sự biện chứng của quá trình hóa học; là mối liên hệ hữu cơ giữa hóa học và vật lý, quá trình hóa học là khâu chuẩn bị cuối cùng cho đời sống hữu cơ.

2. Đặc điểm bảo vệ công lý trong hoạt động xét xử

Bảo vệ công lý trong xét xử có những đặc điểm sau:

Thứ nhất, bảo vệ công lý trong xét xử là nhiệm vụ của chủ thể xét xử. Hiến pháp năm 2013 đã quy định: “Tòa án nhân dân cổ nhiệm vụ bảo vệ công lý”. Hoạt động này có hình thức đặc trưng là phiên tòa do chủ thể xét xử tiến hành theo một trình tự tố tụng nhất định với kết quả là một phán quyết được ban hành. Có nội dung là làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ án (Sự thật khách quan của vụ án là những sự việc diễn ra trên thực tế khi xảy ra vụ án. Những sự việc này có nguyên nhân, điều kiện và quan hệ nhân quả, vừa tồn tại độc lập, vừa có mối quan hệ logic chặt chẽ với nhau; có người thực hiện tội phạm, nạn nhân và những đối tượng, nhân chứng, vật chứng có liên quan...), những giá trị..., xác định chúng là nền tảng để xác lập trách nhiệm pháp lý đối với chủ thể vi phạm pháp luật, phân định các quyền và nghĩa vụ của các bên, để vô hiệu hóa những quy phạm pháp luật trái với trật tự hiến pháp trong quá trình áp dụng pháp luật giải quyết các cáo buộc và tranh chấp pháp lý.

Thứ hai, bảo vệ công lý trong xét xử là cơ sở của việc bảo vệ pháp luật và trật tự hiến pháp. Việc sáng tỏ, gìn giữ những nội dung của công lý được xem là nền tảng, để qua đó lợi ích giai cấp và các lợi ích khác được bảo vệ, góp phần ổn định trật tự xã hội. Chính vì lẽ đó, Hiến pháp năm 2013 đã đặt nhiệm vụ bảo vệ công lý lên ưu tiên hàng đầu, “Tòa án nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân”.

Thứ ba, bảo vệ công lý trong xét xử còn là mục đích của việc bảo vệ pháp luật và trật tự hiến pháp. Việc sáng tỏ, gìn giữ những nội dung của công lý được xem là mục đích, có ý nghĩa khẳng định vai trò quyết định của tính xã hội đối với tính giai cấp, của cái chung đúng đắn đối với những cái chung..., từ đó sẽ góp phần kiểm soát quyền lực nhà nước, thuyết phục xã hội đồng tình, chấm dứt các vụ việc tranh cãi pháp lý.

Thứ tư, chính vì xuất phát từ vai trò nêu trên, quyền tư pháp bảo vệ công lý không thể bị đánh giá thấp so với quyền lập pháp và quyền hành pháp. Iheo đòi hỏi khách quan, quyền tư pháp phải có nguyên tắc hoạt động đặc thù là sự độc lập tương đối trong quan hệ với quyền lập pháp và quyền hành pháp, để giúp cho quyền tư pháp có cái nhìn khách quan, toàn diện, thực hiện tốt nhiệm vụ bảo vệ công lý của mình. Montesquieu đã nhận định: “Công lý không thể có được trong một xã hội mà cơ quan tư pháp phải phục tùng sự chuyên quyền, lạm quyền của bộ máy quyền lực nhà nước”.

Thứ năm, bởi quyền lực nhà nước là thống nhất, nên hoạt động bảo vệ công lý trong xét xử không thể tách rời sự liên hệ chặt chẽ với các cơ quan thực hiện quyền lập pháp (thể chế hóa các quyển, nhiệm vụ của Tòa án..với quyền hành pháp (hiện thực hóa những phán quyết của Tòa án...cũng như hoạt động xét xử phải đặt trong hệ thống tư pháp (giữ mối liên hệ chặt chẽ với các cơ quan điều tra, công tố, luật sư...) thì hoạt động bảo vệ pháp luật, bảo vệ trật tự hiến pháp và bảo vệ công lý mới hiệu quả. Như Hamilton đã viết, Tòa án “không có quyền sử dụng vũ lực hoặc quyền kiểm soát tài chính, không có quyền chi phối tài sản lẫn sức mạnh của xã hội... Có thể nói rằng ngành tư pháp vừa không có lực lượng,... mà chỉ có phán đoán mà thôi, và cần phải dựa trên sự trợ tá của ngành hành pháp mới có thể thi hành được quyết định của lý trí phán đoán của mình” (Hamilton, Jay, Madison: Federalists.

Thứ sáu, với tất cả ý nghĩa nêu trên, thực hiện tốt nhiệm vụ bảo vệ công lý trong xét xử, thể hiện ở kết quả là các phán quyết không bị hủy, bị sửa hay cần phải rút kinh nghiệm, sẽ được các bên liên quan tôn trọng và nghiêm chỉnh chấp hành, qua đó tạo niềm tin của người dân vào chế độ, vào bản chất của nhà nước và pháp luật, góp phần nâng cao ý thức pháp luật, giúp xã hội giữ vững trật tự ổn định và phát triển bền vững.

3. Nội dung bảo vệ công lý trong hoạt động xét xử

Trên cơ sở lý luận về nội dung cơ bản của công lý và nội dung xét xử, nội dung bảo vệ công lý trong hoạt động xét xử được cụ thể hóa qua 04 hoạt động đòi hỏi chủ thể xét xử phải thực hiện đầy đủ, bao gồm:

3.1. Bảo vệ công lý trong việc giải quyết vấn đề bản chất pháp lý của vụ án

Bảo vệ công lý trong việc giải quyết những vấn đề về bản chất pháp lý của vụ án là hoạt động làm sáng tỏ, gìn giữ những nội dung công lý trong việc xác định các sự kiện vi phạm pháp luật, trách nhiệm pháp lý, yêu cầu quyền pháp lý và những vấn đề khác có liên quan khi giải quyết những cáo buộc, tranh chấp pháp lý trong vụ án. Thực hiện nội dung này gọi tắt là bảo vệ công lý nội dung của vụ án.

Xét từng lĩnh vực của đối tượng xét xử, vấn đề này được đặt ra như sau:

1. Đối với vụ án hình sự

Vấn đề quan trọng đầu tiên trong vụ án hình sự là xác định có hay không có sự kiện phạm tội, tức sự kiện vi phạm pháp luật hình sự. Đây là hoạt động xác định các tình tiết sự thật liên quan đến vụ án, đối chiếu với quy phạm pháp luật quy định về cấu thành tội phạm và những vấn đề khác liên quan được pháp luật hình sự quy định, từ đó giúp cho chủ thể xét xử xác định hành vi bị cáo buộc có phạm tội hay không, nếu có thì phạm tội gì, có còn trong thời hiệu truy cứu hay không (nếu pháp luật có quy định). Đầy còn gọi là hoạt động định tội danh.

Ở vấn đề này, tình tiết khách quan của vụ án là cơ sở quan trọng nhất quyết định có hay không có sự kiện phạm tội bị truy cứu, đúng với vai trò nền tảng của sự thật khách quan trong nội dung công lý. Do đó, bảo vệ công lý trong việc xác định tội phạm chính là phải làm sáng tỏ sự thật khách quan liên quan đến các tình tiết của vụ án, sự thật đó là cơ sở quyết định có hay không có sự kiện tội phạm bị truy cứu. Nếu sự thật không được làm rõ thì phải xác định không có tội phạm. Điều 13 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 quy định: “Khi không đủ và không thể làm sáng tỏ căn cứ để buộc tội, kết tội theo trình tự, thủ tục đo Bộ luật này quy định thì cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải kết luận người bị buộc tội không có tội”.

Sau khi đã xác định được tội phạm, vấn đề quyết định về loại hình phạt và mức hình phạt sẽ được đặt ra. Bảo vệ công lý trong vấn đề này sẽ đòi hỏi chủ thể xét xử phải xem xét toàn diện, hệ thống những vấn đề sau:

- Quyết định loại và mức hình phạt phải dựa trên những cơ sở nền tảng:

+ Sự thật khách quan liên quan đến những tình tiết xác định sự kiện pháp lý làm thay đổi trách nhiệm pháp lý (tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm, miễn, giảm trách nhiệm...), sự kiện làm chấm dứt trách nhiệm pháp lý (như đại xá, tình hình thực tế thay đổi...), sự kiện loại trừ trách nhiệm pháp lý (như phòng vệ chính đáng, tình thế cấp thiết...); sự kiện liên quan đến các tình tiết phản ánh tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm, nhân thân, việc chấp hành pháp luật của chủ thể phạm tội. ..;

+ Tôn trọng phẩm giá và quyền bình đẳng của con người khi áp dụng các loại và mức hình phạt, như hình phạt không được mang tính chất nhục mạ, hạ thấp phẩm giá con người, bảo đảm sự bình đẳng trước pháp luật của các chủ thể phạm tội..

+ Tôn trọng yếu tố truyền thống văn hóa khi đánh giá, lựa chọn các giá trị trong việc quyết định loại và mức hình phạt. Ở Việt Nam, do truyền thống văn hóa đề cao tính cộng đồng nên sức mạnh dư luận xã hội là rất lớn. Việc quyết định hình phạt phải cân nhắc đến mức độ phản ứng của dư luận xã hội đối với tội phạm, từ đó các giá trị phê phán, giá trị tôn vinh, mức độ “có đi có lại” phải được chọn lựa, đề cao, gia giảm cho phù hợp thì hình phạt mới có sức thuyết phục, được xã hội đồng tình.

- Quyết định loại và mức hình phạt phải dựa trên phương thức thực hiện phù hợp:

+ Loại và mức hình phạt phải tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm của tội phạm theo quy tắc “có đi có lại”. Tính chất và mức độ nguy hiểm của tội phạm càng cao thì loại và mức hình phạt phải càng nghiêm khắc và ngược lại; những tình tiết giảm nhẹ nếu có thì trách nhiệm hình sự phải giảm, tình tiết tăng nặng nếu có thì trách nhiệm hình sự phải tăng theo;

+ Trong vụ án hình sự, tự do thỏa thuận về loại và mức hình phạt không đặt ra vì đây là trách nhiệm mà nhà nước buộc chủ thể phạm tội phải chịu. Tuy nhiên, sự thỏa thuận vẫn được thực hiện “ẩn” trong một chừng mực nhất định thông thường, như trường hợp chủ thể phạm tội chủ động thừa nhận tội, tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả... để xin được giảm nhẹ hoặc xin chuyển sang loại hình phạt khác nhẹ hơn...

- Quyết định loại và mức hình phạt phải hướng tới các giá trị:

Đó là các giá trị phê phán và các giá trị nhân đạo trong việc xử lý tội phạm. Về giá trị phê phán, bản thân việc bảo đảm quy tắc “có đi có lại” đã chứa đựng giá trị phê phán, tuy nhiên giá trị phê phán còn có ý nghĩa khác là bảo đảm thêm tính răn đe, đấu tranh tội phạm và phòng ngừa chung trong xã hội, như phải nghiêm trị người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy, ngoan cố chống đối, côn đồ, tái phạm nguy hiểm... Về giá trị nhân đạo, phải đảm bảo tính nhân đạo như khoan hồng đối với người tự thú, đầu thú, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, lập công chuộc tội, tự nguyện bồi thường, giảm nhẹ đối với phụ nữ có thai...; phải đảm bảo tính nhân văn về mục đích hình phạt không chỉ trừng trị mà còn nhằm cải tạo, giáo dục ý thức pháp luật...

2. Đối với vụ án hành chính (kê cả vấn đề xử lý quyết định cá biệt trong vụ án dân sự)

Cũng giống như vụ án hình sự, vấn đề quan trọng đầu tiên là xác định có hay không có sự kiện vi phạm pháp luật của quyết định hành chính, hành vi hành chính bị khiếu kiện, có còn trong thời hiệu khởi kiện không (nếu pháp luật có quy định).

Bảo vệ công lý trong vấn đề này là phải làm sáng tỏ sự thật khách quan liên quan đến các tình tiết như: Tính hợp pháp, tính có căn cứ về hình thức, nội dung của quyết định, hành vi hành chính bị khiếu kiện, bị xem xét; tính hợp pháp về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, thời hiệu, thời hạn ban hành quyết định hành chính, thực hiện hành vi hành chính; mối liên hệ giữa quyết định, hành vi hành chính với quyển, lợi ích hợp pháp của người khiếu kiện, người liên quan... Dựa trên sự thật khách quan này, chủ thể xét xử mới xác định liệu quyết định, hành vi hành chính bị khiếu kiện có vi phạm pháp luật hay không. Nếu không có vi phạm thì sẽ bác khiếu kiện. Nếu có vi phạm, thì phải đánh giá tính chất và mức độ ảnh hưởng do vi phạm gầy ra và xem xét có nên hủy (toàn bộ hay một phần) quyết định hành chính, tuyên bố hành vi hành chính trái pháp luật hay không. Lúc này, bảo vệ công lý sẽ đòi hỏi chủ thể xét xử phải xem xét toàn diện, hệ thống những vấn đề sau:

- Việc hủy quyết định hành chính, tuyên bố hành vi hành chính trái pháp luật phải dựa trên cơ sở nền tảng:

+ Sự thật khách quan liên quan đến các tình tiết về tính chất, mức độ ảnh hưởng do vi phạm pháp luật của quyết định hành chính, hành vi hành chính gây ra;

+ Các quyền, lợi ích hợp pháp của chủ thể khiếu kiện, chủ thể liên quan phải được tôn trọng, được đối xử bình đẳng trước pháp luật. Không vì bảo vệ, đê cao lợi ích của nhà nước mà hạ thấp lợi ích của chủ thể bị quyết định, hành vi hành chính xâm phạm;

+ Văn hóa pháp lý tiến bộ gắn với nhà nước pháp quyền, ở đó pháp luật giữ vai trò chủ đạo trong đời sống xã hội, mọi chủ thể đều bình đẳng trước pháp luật, mọi vi phạm pháp luật đều phải bị xử lý.

- Việc hủy quyết định hành chính, tuyên bố hành vi hành chính trái pháp luật phải dựa trên phương thức thực hiện phù hợp:

+ Phải đảm bảo tính chất tương xứng theo quy tắc “có đi có lại”. Tính chất và mức độ ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của chủ thể khiếu kiện, của chủ thể liên quan, đối với trật tự quản lý nhà nước càng lớn thì khả năng quyết định hành chính, hành vi hành chính sai phạm bị hủy, bị tuyên bố trái pháp luật sẽ càng cao;

+ Phải tôn trọng sự thỏa thuận đúng đắn giữa chủ thể quản lý hành chính và chủ thể khiếu kiện qua kết quả đối thoại. Đối thoại giúp các bên thấy được sự vi phạm, tính chất và mức độ ảnh hưởng của quyết định, hành vi hành chính sai trái, các quyền, lợi ích của người khiếu kiện, người liên quan bị xâm phạm như thế nào... để từ đó giúp cho chủ thể có xử sự phù hợp, chủ thể khiếu kiện có thể thay đổi, rút yêu cầu khiếu kiện, chủ thể quản lý hành chính có thể đưa ra cam kết thay đổi, thu hồi, điều chỉnh khắc phục quyết định, hành vi hành chính cho đúng pháp luật...

-  Việc hủy quyết định hành chính, tuyên bổ hành vi hành chính trái pháp luật phải hướng tới các giá trị:

Đó là giá trị công bằng đối với mọi vi phạm pháp luật, không thiên vị khi xử lý các quyết định, hành vi hành chính của các chủ thể quản lý hành chính, qua đó góp phần bảo đảm giá trị văn minh về nhà nước pháp quyền, giá trị văn hóa pháp lý tiến bộ trong đời sống xã hội.

3. Đối với vụ án dân sự (kể cả vấn đề dân sự trong vụ án hình sự, vấn đề dân sự trong vụ án hành chính)

Cũng giống như các loại vụ án khác, trước hết sự thật khách quan về những tình tiết xoay quanh yêu cầu quyền pháp lý của chủ thể tranh chấp, về quan hệ pháp luật tranh chấp, về các sự kiện làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ pháp lý của các bên, thời hiệu yêu cầu... phải được làm rõ. Đây là những nội dung nền tảng mà bảo vệ công lý đòi hỏi, sẽ quyết định liệu có đủ cơ sở để chủ thể xét xử chấp nhận yêu cầu quyền pháp lý của chủ thể tranh chấp hay không. Nếu không đủ sở xác định sự thật thì sẽ bác yêu cầu. Nếu có thì sẽ xác định quyền, trách nhiệm dân sự của các bên. Lúc này, bảo vệ công lý sẽ đòi hỏi chủ thể xét xử phải xem xét toàn diện, hệ thống những vấn đề sau:

- Xác định quyền, trách nhiệm dân sự phải dựa trên những cơ sở nền tảng:

+ Các tình tiết sự thật liên quan đến vấn đề bản chất pháp lý như quyển dân sự, nghĩa vụ dân sự, trách nhiệm dân sự, tính chất, hậu quả thiệt hại do vi phạm pháp luật dân sự gây ra...;

+ Các quyền, lợi ích hợp pháp của các bên tranh chấp được tôn trọng, bình đẳng trước pháp luật. Chủ thể xét xử không được từ chối giải quyết các yêu cầu dân sự của đương sự vì lý do không có điều luật điều chỉnh;

+ Những truyền thống văn hóa, tín ngưỡng như đề cao tính đoàn kết, tính cộng đồng, tính tương thân, tương ái, nề nếp gia

đình, thờ cúng tổ tiên... phải được cân nhắc khi xác định quyền, trách nhiệm của các bên để phán quyết có sức thuyết phục cao.

-  Xác định quyền, trách nhiệm dân sự phải dựa trên phương thức thực hiện phù hợp:

+ Bảo đảm quy tắc “có đi có lại” trong việc xác định sự tương xứng giữa cái cho và cái nhận, cái gây ra và cái gánh chịu, cái đáp ứng yêu cầu của pháp luật và cái vi phạm... Đây cũng là một trong những yêu cầu quan trọng để xác lập quyền và nghĩa vụ, kể cả có sự tự nguyện hay không có sự tự nguyện tham gia của các bên;

+ Tôn trọng sự thỏa thuận của các bên. Iheo đó, nếu các thỏa thuận được các bên tự do, tự nguyện tham gia, xác lập quyền và nghĩa vụ đối với nhau một cách đúng đắn, hợp pháp thì phải được tôn trọng thực hiện.

- Xác định quyền, trách nhiệm dân sự phải hướng tới các giá trị:

Giá trị công bằng đòi hỏi bên vi phạm nghĩa vụ dân sự thì phải chịu bất lợi, hạn chế; bên không vi phạm, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ dân sự của mình thì phải được bảo vệ. Giá trị nhân đạo phải được thực hiện qua việc bảo vệ bên yếu thế, bên thiệt thòi như trẻ em, người già, người tàn tật, phụ nữ đang mang thai hoặc nuôi con nhỏ... trong những trường hợp cụ thể. Giá trị văn minh về nhà nước pháp quyền phải được thể hiện qua việc giải quyết vụ án một cách công bằng...

4. Đối với vấn đề vi phạm pháp luật tố tụng, vi phạm trật tự hiến pháp trong quá trình giải quyết các vụ án

Theo pháp luật hiện hành, những vấn đề vi phạm pháp luật tố tụng và vi phạm trật tự hiến pháp được chủ thể xét xử giải quyết trong quá trình giải quyết các vụ án. Việc bảo vệ công lý trong các vấn đề này cũng được thực hiện giống như những loại vụ án khác, gồm việc bảo đảm cơ sở nền tảng, phương thức thực hiện phù hợp và hướng tới các giá trị, trong đó nổi bật ở những yêu cầu sau đây:

Chủ thể xét xử phải đảm bảo thực hiện quy tắc “có đi có lại” khi xử lý hậu quả pháp lý đối với các vi phạm. Đó là tính chất và mức độ vi phạm ảnh hưởng đến quyển, lợi ích hợp pháp của các chủ thể trong vụ án hay trật tự quản lý nhà nước càng lớn thì khả năng xử lý theo hướng bất lợi đối với những vi phạm đó sẽ càng cao. Những hậu quả xử lý đối với vi phạm tố tụng có thể là bản án, quyết định của Tòa án bị Tòa án cấp trên hủy, sửa; quyết định truy tố của Viện kiểm sát bị Tòa án tuyên trả để điều tra bổ sung; yêu cầu khởi kiện, khiếu kiện bị Tòa án đình chỉ hoặc bác...; đối với vi phạm trật tự hiến pháp sẽ bị Tòa án thực hiện kiến nghị sửa đổi, hủy bỏ và không được áp dụng để giải quyết vụ án. Việc chủ thể xét xử xử lý đúng đắn đối với những vi phạm này cũng là việc đảm bảo giá trị văn minh về nhà nước pháp quyền mà Việt Nam đang xây dựng.

Ngoài ra, khi xem xét các vấn đề trên, các hoạt động này phải đảm bảo cơ sở hình thức thể hiện của công lý, đó là phải phù hợp với quy phạm pháp luật, quy tắc chuẩn mực thống nhất với trật tự hiến pháp (nội dung này liên quan đến bảo vệ công lý trong việc định chuẩn pháp lý để giải quyết vụ án).

3.2. Bảo vệ công lý trong việc thực thi các thủ tục tố tụng của vụ án

Bảo vệ công lý trong việc thực thi các thủ tục tố tụng của vụ án là hoạt động làm sáng tỏ, gìn giữ những nội dung công lý trong việc áp dụng, thực thi những thủ tục tố tụng trong quá trình xét xử để giải quyết các vấn đề bản chất pháp lý của vụ án, bảo đảm cho việc bảo vệ công lý nội dung. Thực hiện nội dung này gọi tắt là bảo vệ công lý thủ tục của vụ án.

Bảo vệ công lý trong vấn đề này đòi hỏi chủ thể xét xử phải đảm bảo tính toàn diện, hệ thống về các vấn đề:

- Việc thực thi các thủ tục tố tụng của vụ án phải dựa trên những cơ sở nền tảng:

+ Sự việc, tình huống phát sinh phải được xác minh làm rõ là có thật, phù hợp với các sự kiện pháp lý tố tụng được pháp luật tố tụng quy định;

+ Các quyền, nghĩa vụ tố tụng của các chủ thể tham gia tố tụng phải được tôn trọng, được thực hiện đầy đủ trên cơ sở bình đẳng trước pháp luật. Các quyền bất khả xâm phạm về thần thể, quyền bào chữa, quyền bảo vệ, quyền được bảo hộ về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản... của các chủ thể phải được bảo đảm thực hiện;

+ Văn hóa pháp lý tiến bộ gắn với nhà nước pháp quyền, ở đó mọi chủ thể phải tuân theo pháp luật một cách nghiêm chỉnh.

-  Việc thực thi các thủ tục tố tụng của vụ án phải dựa trên phương thức thực hiện phù hợp:

+ Phải đảm bảo quy tắc “có đi có lại” trong quá trình áp dụng cho các bên thực hiện các quyền, nghĩa vụ tố tụng. Chẳng hạn trong vụ án dân sự, đương sự phải thực hiện nghĩa vụ nộp chi phí tố tụng, nộp đơn khởi kiện thì mới được Tòa án thụ lý giải quyết; phải thực hiện nghĩa vụ cung cấp đầy đủ chứng cứ thì mới được Tòa án chấp nhận yêu cầu...;

+ Tôn trọng sự thỏa thuận giữa các bên trong quá trình tố tụng trong một số trường hợp nhất định, như đương sự tự nguyện đề nghị không tham gia hòa giải, hoặc cùng thống nhất đề nghị Tòa án tạm ngừng phiên tòa để họ tự hòa giải...

Việc thực thi các thủ tục tố tụng của vụ án phải hướng tới các giá trị:

Giá trị công bằng qua sự vô tư, khách quan của chủ thể xét xử khi tiến hành thủ tục tố tụng. Giá trị dân chủ, bình đẳng qua việc thực hiện tốt nguyên tắc tranh tụng. Giá trị kinh tế qua việc tích cực thực hiện các thủ tục rút gọn để tiết kiệm thời gian và nhân lực. Giá trị văn minh qua việc đảm bảo sự chặt chẽ, khoa học của các bước thủ tục...

-  Việc thực thi các thủ tục tố tụng của vụ án phải đảm bảo cơ sở hình thức thể hiện:

Phải phù hợp với quy phạm pháp luật, quy tắc chuẩn mực thống nhất với trật tự hiến pháp (nội dung này hên quan đến bảo vệ công lý trong việc định chuẩn pháp lý để giải quyết vụ án).

Trên cơ sở mối quan hệ chặt chẽ giữa hoạt động thực thi những thủ tục tố tụng và hoạt động giải quyết những vấn đề bản chất pháp lý của vụ án, bảo vệ công lý thủ tục và bảo vệ công lý nội dung của vụ án có mối quan hệ chặt chẽ như sau:

-  Bảo vệ công lý thủ tục được thực hiện từ giai đoạn chuẩn bị xét xử đến giai đoạn xét xử, từ sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm và có thể đến thủ tục đặc biệt... cũng chỉ nhằm đạt được mục đích cuối cùng là bảo vệ công lý nội dung của vụ án;

-  Bảo vệ công lý thủ tục được thể hiện qua hoạt động tuân thủ nghiêm ngặt các trình tự, thủ tục trong thời hạn quy định, giúp cho việc bảo vệ công lý nội dung của vụ án được đúng đắn. Bảo vệ công lý thủ tục đòi hỏi phải thực hiện điều đúng để xử lý cái sai (hành vi vi phạm bị cáo buộc, tranh chấp), không thể chấp nhận vì mục đích trừng phạt mà xem nhẹ các quyền cơ bản, đồng tình với việc bức cung, nhục hình...;

-  Bảo vệ công lý thủ tục được thực hiện qua sự tuân thủ nghiêm ngặt các thủ tục tố tụng, nên sẽ đặt ra giới hạn cho nội dung xét xử, giới hạn phạm vi bảo vệ công lý nội dung của vụ án (để tránh chồng chéo thẩm quyền của các cơ quan thực hiện quyền lập pháp, hành pháp). Chẳng hạn như Tòa án không thể tự ý tuyên bố một văn bản quy phạm pháp luật là trái hiến pháp ngoài vụ việc tranh cãi pháp lý cụ thể...;

- Bảo vệ công lý thủ tục được định hướng bởi việc bảo vệ công lý nội dung của vụ án. Nếu các hoạt động nhận thức về bản chất pháp lý của vụ án đúng đắn thì các hoạt động tố tụng như: thu thập tài liệu, chứng cứ; thực hiện các biện pháp ngăn chặn, các biện pháp khẩn cấp tạm thời; các hoạt động bảo vệ chứng cứ, người làm chứng... của chủ thể xét xử sẽ được thực hiện chính xác, hiệu quả, tác động ngược lại giúp hoạt động xét xử thực hiện được nhiệm vụ bảo vệ công lý nội dung của vụ án.

Trong thực tiễn xét xử, việc phân biệt giữa công lý thủ tục và công lý nội dung chỉ mang tính tương đối. Chẳng hạn, đối với cấp xét xử sơ thẩm, việc thực thi thủ tục tố tụng sẽ liên quan đến việc bảo vệ công lý thủ tục của vụ án, nhưng đối với cấp xét xử phúc thẩm... thì việc thực thi thủ tục tố tụng của cấp xét xử sơ thẩm lại là vấn đề liên quan đến bản chất pháp lý của vụ án, thuộc về công lý nội dung của vụ án.

Ngoài ra, cũng cần làm rõ thêm một vấn đề quan trọng, giữa việc bảo vệ công lý thủ tục và bảo vệ công lý nội dung, hoặc giữa việc xem xét vi phạm thủ tục tố tụng với việc xem xét các nội dung khác trong những vấn đề về bản chất pháp lý của vụ án, cái nào quan trọng hơn. Theo truyền thống pháp luật phương Tây, nếu một người giết hại người khác, công lý nội dung đòi hỏi kẻ sát nhân phải bị trừng phạt theo đúng pháp luật, nhưng nếu giả sử kẻ sát nhân bị tra tấn một cách bất hợp pháp để phải thú tội thì công lý thủ tục đã không được thực thi. Trong trường hợp này, công lý thủ tục sẽ thắng công lý nội dung, bị cáo không thể bị kết tội[1]. Những nước theo truyền thống pháp luật xã hội chủ nghĩa như ở Việt Nam thì khác, có sự phần biệt giữa vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng và vi phạm không nghiêm trọng thủ tục tố tụng, công lý nội dung có thể được hoãn lại cho đến khi công lý thủ tục được khôi phục, nghĩa là những vi phạm tố tụng được khắc phục, việc thực thi tố tụng được thực hiện lại, bổ sung cho đầy đủ (theo các quy định tại điểm o khoản 1 Điều 4, điểm d khoản 1 Điều 280, điểm c khoản 1 Điều 358 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015..

3.3. Bảo vệ công lý trong việc định chuẩn pháp lý để giải quyết vụ án

Bảo vệ công lý trong việc định chuẩn pháp lý để giải quyết vụ án là hoạt động lựa chọn, tìm ra những quy phạm pháp luật, quy tắc chuẩn mực chứa đựng nội dung công lý trong hệ thống pháp luật, để thực hiện bảo vệ công lý nội dung và công lý thủ tục của vụ án.

Hệ thống pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận, được thể hiện ở những hình thức đa dạng như văn bản quy phạm pháp luật, tiền lệ pháp luật, án lệ, tín điều tôn giáo, tập quán... Mỗi nước có những hình thức pháp luật đặc trưng theo truyền thống hệ thống pháp luật của mình. Ở Việt Nam theo truyền thống pháp luật xã hội chủ nghĩa, hình thức pháp luật chủ yếu được tập trung ở hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, nếu xảy ra trường hợp không có điều luật trực tiếp điều chỉnh thì áp dụng điều luật điều chỉnh tương tự, nguyên tắc pháp luật, án lệ... theo những nguyên tắc nhất định để giải quyết.

Dù thể hiện dưới bất kỳ hình thức nào, những quy phạm pháp luật, quy tắc chuẩn mực có chứa đựng nội dung công lý phải được chủ thể xét xử xác định đầy đủ để làm căn cứ cho việc bảo vệ công lý nội dung và công lý thủ tục của vụ án. Nếu trong hệ thống pháp luật đã có đầy đủ các quy phạm pháp luật thì chủ thể xét xử chỉ cần lựa chọn, tập hợp lại để chỉ dẫn ra; nếu không có đầy đủ thì chủ thể xét xử sẽ phải đi tìm, phải sáng tạo trên cơ sở những quy phạm pháp luật tương tự, những quy phạm pháp luật nguyên tắc... trong hệ thống pháp luật để xác định những quy tắc chuẩn mực cần thiết làm cơ sở cho việc giải quyết vụ án. Theo pháp luật Việt Nam hiện nay, những phán quyết của Tòa án có chứa đựng các quy tắc chuẩn mực đúng đắn có thể được chọn làm án lệ.

Để bảo vệ công lý trong hoạt động này, những quy phạm pháp luật và quy tắc chuẩn mực được xác định để giải quyết vụ án phải đáp ứng hệ thống những yêu cầu sau đầy:

- Các tình tiết được giả định trong các quy phạm pháp luật phải hoàn toàn phù hợp với các tình tiết sự thật khách quan của vụ án; nếu không có quy phạm pháp luật điều chỉnh thị những tình tiết được giả định trong quy phạm pháp luật tương tự, trong các quy phạm pháp luật nguyên tắc phải tương đối phù hợp với những tình tiết sự thật khách quan đó;

- Các quy phạm pháp luật, quy tắc chuẩn mực phải thể hiện sự tôn trọng phẩm giá và quyền bình đẳng của con người, cụ thể là những quyền sống, quyền tự do, quyền an toàn cá nhân, quyền bình đẳng... của con người;

- Các quy phạm pháp luật, quy tắc chuẩn mực phải thể hiện sự tôn trọng truyền thống văn hóa, tín ngưỡng của cộng đồng;

- Các quy phạm pháp luật, quy tắc chuẩn mực phải thể hiện quy tắc ‘có đi có lại” trong việc xác định quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm pháp lý đối với đối tượng cần điều chỉnh;

-  Các quy phạm pháp luật, quy tắc chuẩn mực phải thể hiện sự tôn trọng các thỏa thuận mà các bên đã tự nguyện cam kết, phù hợp với những yêu cầu này trong trường hợp cho phép;

-  Các quy phạm pháp luật, quy tắc chuẩn mực phải đảm bảo các giá trị mà đời sống pháp lý tiến bộ luôn luôn cần như các giá trị nhân đạo, nhân văn, công bằng, văn minh...;

- Các quy phạm pháp luật, quy tắc chuẩn mực phải thống nhất với trật tự hiến pháp. Ở các nước theo truyền thống pháp luật Common law như Hoa Kỳ, Tòa án tối cao (Tối cao pháp viện) được quyền mở rộng trật tự hiến pháp qua việc giải thích, bổ sung Hiến pháp[2]. Ở Việt Nam, Tòa án chỉ được quyền hoạt động trong khuôn khổ trật tự hiến pháp, quyền bổ sung, giải thích Hiến pháp chỉ thuộc về Quốc hội và Uỷ ban thường vụ Quốc hội.

3.4.  Bảo vệ công lý trong việc thể hiện phán quyết giải quyết vụ án

Phán quyết giải quyết vụ án của Tòa án là hoạt động cuối cùng quan trọng nhất quyết định hình phạt nên bảo vệ công lý trong việc thể hiện nội dung phán quyết là hoạt động rất quan trọng nó làm sáng tỏ hình thức thể hiện của công lý trong việc ban hành bản án, quyết định của vụ án. Hoạt động này đòi hỏi nội dung của bản án, quyết định phải đảm bảo tính lô-gích hình thức, ở đó các lập luận, kết luận phải thể hiện tính nhất quán, không có sự mâu thuẫn; các nhận định phải xuất phát từ những tình tiết và căn cứ pháp lý xác đáng... Ngoài ra, hình thức của phán quyết phải đảm bảo đúng thể thức, thể hiện sự trang trọng, tôn nghiêm, để xứng đáng là một phán quyết nhân danh nhà nước và pháp luật, nhân danh công lý bảo vệ công lý.

 


Bộ phận tư vấn pháp luật - Luật Minh Khuê (biên tập và sưu tầm)