1. Khái niệm giao dịch dân sự.

Theo Điều 121 Bộ luật dân sự 2015  có quy định : 

Giao dịch dân sự là hợp đồng hoặc hành vi pháp lý đơn phương làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự”.

Giao dịch dân sự là hành vi pháp lý đơn phương hoặc hợp đồng của cá nhân, pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác nhằm làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự.

 Ta có thể hiểu giao dịch dân sự là một trong những sự kiện pháp lý phổ biến nhất làm phát sinh hậu quả pháp lý. Phổ biến nhất trong các giao dịch dân sự là hợp đồng dân sự với hai hay nhiều bên tham gia. Để giao dịch dân sự có hiệu lực pháp lý thì khi xác lập giao dịch phải tuân thủ những điều kiện do pháp luật quy định.

Hợp đồng có sự thỏa thuận, thống nhất ý chí của hai hay nhiều chủ thể làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự như họp đồng mua bán tài sản, hợp đồng thuê tài sản... Trong số các loại giao dịch dân sự, hợp đồng là loại giao dịch phổ biến nhất.

Hành vi pháp lý đơn phương là giao dịch chỉ thể hiện ý chí của một bên chủ thể nhằm làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền nghĩa vụ như lập di chúc, hứa thưởng, thi có giải... Hành vi lập di chúc là ý chí của người lập di chúc trong việc đinh đoạt tài sản của họ sau khi chết. Hứa thưởng là hành vi của bên hứa thưởng nhằm trao cho chủ thể khác một lợi ích vật chất nếu chủ thể đó thực hiện được công việc hứa thưởng do bên hứa thưởng đưa ra.

Trong số các căn cứ làm phát sinh quyền và nghĩa vụ cho các chủ thể trong xã hội, giao dịch dân sự là căn cứ phổ biến, thông dụng. Giao dịch dân sự là công cụ pháp lý quan trọng để các bên thực hiện việc trao đổi lợi ích, dịch chuyển tài sản và cung ứng dịch vụ nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của tất cả các thành viên trong xã hội. Thông qua giao dịch dân sự, các chủ thể đáp ứng nhu cầu sinh hoạt, sản xuất kinh doanh và các nhu cầu khác trong đời sống hàng ngày của mình.

Sau khi giao dịch dân sự được xác lập và có hiệu lực, các chủ thể trong giao dịch cần thực hiện theo những nội dung đã thống nhất và được ghi nhận. Một trong những yêu cầu trong quá trình thỏa thuận và soạn thảo giao dịch dân sự là nội dung cần rõ ràng, được hiểu thống nhất. Tuy nhiên, trong quá trình xác lập, thực hiện giao dịch do nhiều nguyên nhân khác nhau mà việc thể hiện ý chí của chủ thể không được rõ ràng, chính xác. Bởi vậy, hoạt động giải thích giao dịch dân sự được đặt ra. Hoạt động giải thích giao dịch là công cụ xác định rõ ý chí của các bên trong trường hợp giao dịch còn có những nội dung không rõ ràng, khó hiểu hoặc được hiểu theo nhiều nghĩa. Hoạt động giải thích giao dịch dân sự sẽ giúp các bên làm rõ những nội dung còn chưa có cách hiểu chung, giải quyết những nội dung còn tồn tại sự bất đồng.

Chủ thể giải thích giao dịch dân sự trước hết chính là các bên trong giao dịch. Họ là những chủ thể nắm bắt rõ nhất nội dung của giao dịch. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, các chủ thể trong giao dịch không thống nhất được cách hiểu đối với nội dung cần giải thích mà có yêu cầu Tòa án giải quyết thì Tòa là chủ thể có quyền giải thích giao dịch dân sự.

2. Điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự.

Giao dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ các điều kiện như : người tham gia giao dịch dân sự có năng lực hành vi dân sự, mục đích và nội dung của giao dịch dân sự không được trái quy định pháp luật, trái với đạo đức xã hội; người tham gia giao dịch dân sự hoàn toàn tự nguyện; hình thức giao dịch phù hợp với quy định của pháp luật.

+ Người tham gia giao dịch dân sự có năng lực hành vi dân sự

Năng lực hành vi dân sự được hiểu là khả năng của chủ thể do pháp luật quy định, bằng hành vi và theo ý chí của mình xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự. Năng lực hành vi dân sự của chủ thể bao gồm khả năng bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện quyền dân sự và thực hiện nghĩa vụ  dân sự cụ thể; khả năng tự chịu trách nhiệm bằng tài sản về hành vi của mình, bao gồm cả hành vi hợp pháp và hành vi bất hợp pháp.

Tại Điều 16 của Bộ luật dân sự 2015 có quy định về năng lực hành vi dân sự như sau:

“1. Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân có quyền dân sự và nghĩa vụ dân sự.

2. Mọi cá nhân đều có năng lực pháp luật dân sự như nhau.

3. Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân có từ khi người đó sinh ra và chấm dứt khi người đó chết.”

+ Mục đích và nội dung của giao dịch dân sự không được trái quy định pháp luật

+ Người tham gia giao dịch dân sự hoàn toàn tự nguyện

Ngoài yêu cầu về việc phải có năng lực hành vi dân sự thì chủ thể thực hiện giao dịch cần phải đáp ứng yêu cầu về tính tự nguyện khi thực hiện giao kết hợp đồng giao dịch dân sự. Đây là một trong những yếu tố rất quan trọng để xác định tính minh bạch và hợp pháp của văn bản. Chỉ khi chủ thể tự nguyện thực hiện việc ký kết, thỏa thuận và đồng ý với các điều khoản thỏa thuận thì hiệu lực của văn bản giao dịch đó mới có giá trị pháp lý. Một số trường hợp chủ thể thực hiện giao dịch bị ép buộc hoặc ký kết trong tình trạng tinh thần không được tỉnh táo thì hiệu lực của văn bản giao dịch đó sẽ không được công nhận là có hiệu lực.

+ Hình thức giao dịch phù hợp với quy định của pháp luật

Ngoài các điều kiện nêu trên, thì hình thức của văn bản giao dịch cũng là một trong những điều kiện yêu cầu để văn bản giao dịch có hiệu lực. Trong nội dung về hình thức giao dịch, tại quy định của Bộ luật dân sự 2015 số 91/2015/QH13 có yêu cầu cụ thể về hình thức giao dịch với quy định của pháp luật. Tại Điều 119 như sau:

“1. Giao dịch dân sự được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể.

Giao dịch dân sự thông qua phương tiện điện tử dưới hình thức thông điệp dữ liệu theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử được coi là giao dịch bằng văn bản.

2. Trường hợp luật quy định giao dịch dân sự phải được thể hiện bằng văn bản có công chứng, chứng thực, đăng ký thì phải tuân theo quy định đó.”

Như vậy, ta có thể thấy giao dịch dân sự cũng được quy định những hình thức riêng để giao dịch đó được hợp pháp hóa về hình thức như sau: Các giao dịch có thể thực hiện thông qua các hình thức như lời nói, văn bản hoặc cũng có thể được thực hiện bằng những hành vi, hành động cụ thể. Hiện nay, một số phương thức thông qua mạng điện tử cũng đã được công nhận là một trong những hình thức thực hiện giao dịch dân sự.

3. Đặc điểm của giao dịch dân sự.

- Giao dịch dân sự là hành vi pháp lý đơn phương thì đó là sự thể hiện ý chí của một bên chủ thể. Nội dung của giao dịch phải nhằm truyền tải những suy nghĩ bên trong của mỗi chủ thể. Ý chí là những suy nghĩ bên trong của mỗi chủ thể nên để xác lập giao dịch thì ý chỉ cần phải được thể hiện ra bên ngoài dưới hình thức nhất định. Do đó, giao dịch dân sự là sự thống nhất giữa ý chí bên trong và sự bày tỏ ý chí ra bên ngoài của chủ thể. Thiếu sự thống nhất giữa ý chí và bày tỏ ý chí, giao dịch dân sự có thể bị vô hiệu. Có nhiều nguyên nhân khác nhau khiến ý chí và sự bày tỏ ý chí của chủ thể không thống nhất như trường hợp chủ thể bị nhầm lẫn, bị lừa dối hay cưỡng ép trong việc xác lập giao dịch.  Giao dịch dân sự luôn thể hiện ý chí của chủ thể trong giao dịch. Giao dịch dân sự là hợp đồng hay hành vi pháp lý đơn phương thì đều là hành vi có ý thức của chủ thể tham gia nhằm đạt được những mục đích nhất định.

- Hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự đều hướng đến phát sinh, thay đổi, chấm dứt các quyền, nghĩa vụ dân sự cho các chủ thể. Giao dịch dân sự là hành vi của một hay nhiều chủ thể nhằm hướng tới việc làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự. Như vậy, hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự gồm:

+ Một là, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ dân sự: đây là trường hợp giao dịch dân sự làm xác lập quyên và nghĩa vụ cho các bên chủ thể trong giao dịch.

Hai là, làm thay đổi quyền và nghĩa vụ dân sự: đây là trường hợp giữa các bên chủ trong giao dịch dân sự đã tồn tại quyền và nghĩa vụ với nhau nhưng các bên thỏa thuận để sửa đổi, bổ sung qua đó làm thay đổi quyền và nghĩa vụ của mình cũng như của bên kia; Ba là, làm chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự: đây là trường hợp giữa các bên chủ trong giao dịch dân sự đã tồn tại quyền và nghĩa vụ với nhau. Sau đó, các bên chủ thể xác lập giao dịch để làm chấm dứt các quyền và nghĩa vụ đang tồn tại giữa các bên.

Một giao dịch dân sự được xác lập có thể làm phát sinh một hoặc nhiều hậu quả pháp lý. Điều này phụ thuộc vào thỏa thuận giữa các bên chủ thể trong giao dịch. Như vậy, giao dịch dân sự có hai đặc điểm chính: (i) giao dịch dân sự phải là sự thể hiện ý chí của chủ thể tham gia và (ii) sự thể hiện ý chí phải nhằm đạt được một hậu quả pháp lý nhất định.

4. Các loại giao dịch dân sự.

- Hành vi pháp lý đơn phương: là giao dịch thể hiện ý chí của một bên chủ thể nhằm phát sinh quan hệ dân sự mà không cần ý chí của các chủ thể khác. Hành vi pháp lý đơn phương có thể do một hoặc nhiều chủ thể ở cùng một bên bày tỏ ý chí. 

Trong nhiều trường hợp hành vi pháp lý đơn phương chỉ phát sinh hậu quả pháp lý khi có điều kiện do chủ thể bày tỏ ý chí đặt ra, phía bên kia phải đáp ứng mới làm phát sinh nghĩa vụ của bên bày tỏ ý chí đơn phương. 

- Hợp đồng dân sự: là giao dịch thể hiện sự thống nhất ý chí của hai hay nhiều bên chủ thể ở hai phía của giao dịch, làm phát sinh, thay đổi . chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự.

5.Hậu quả của việc xác lập giao dich dân sư.

Làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của chủ thể trong quan hệ pháp luật dân sự. Giao dịch dân sự là một sự kiện pháp lý (hành vi pháp lý đơn phương hoặc đa phương – một bên hoặc nhiều bên) làm phát sinh hậu quả pháp lý. Tùy từng giao dịch cụ thể mà làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quan hệ dân sự. Giao dịch dân sự là hành vi mang tính ý chí của chủ thể tham gia giao dịch, với những mục đích và động cơ nhất định.

Giao dịch dân sự là căn cứ phổ biến, thông dụng nhất trong các căn cứ làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự; là phương tiện pháp lý quan trọng nhất trong giao lưu dân sự, trong việc dịch chuyển tài sản và cung ứng dịch vụ nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của tất cả các thành viên trong xã hội. Trong nền sản xuất hàng hóa theo cơ chế thị trường, thông qua giao dịch dân sự (hợp đồng), các chủ thể đáp ứng nhu cầu sản xuất, kinh doanh các nhu cầu khác trong đời sống hàng ngày của mình.