1. Thuộc tính của biện pháp ngăn chặn tạm giam trong tố tụng hình sự

BPNCTG hiện diện trong TTHS là một tất yếu khách quan nhằm giải quyết vụ án hình sự, đáp ứng yêu cầu ngăn chặn tội phạm và những yêu cầu khác khi xử lý tội phạm. Dưới góc nhìn từ cấu trúc bên trong của ngành luật TTHS, BPNCTG là một chế định pháp luật bao gồm tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh cơ chế, trình tự, thủ tục, quyền hạn, trách nhiệm và nghĩa vụ pháp lý của các chủ thể có liên quan khi áp dụng biện pháp này. Do vậy, BPNCTG trong TTHS thể hiện những đặc điểm sau.

2. Tính cưỡng chế của biện pháp ngăn chặn tạm giam

Tính cưỡng chế của BPNCTG bắt nguồn từ tính cưỡng chế của quy phạm pháp luật. BPNCTG quy định trong luật TTHS là hệ thống các quy phạm pháp luật, do đó mang “tính bắt buộc chung của quy phạm pháp luật thể hiện ở chỗ, quy phạm có tính quyền lực nhà nước”. Theo đó, tính cưỡng chế nhà nước là một trong các đặc điểm để phân biệt quy phạm pháp luật với các quy phạm xã hội khác thông qua việc Nhà nước đề ra các biện pháp bảo đảm thực hiện và chế tài áp dụng đối với vi phạm, buộc mọi chủ thể phải chấp hành pháp luật.
Trong hoạt động TTHS, BPNCTG là một trong các biện pháp có tính cưỡng chế được quy định áp dụng đối với NBBT, nhằm không để họ tiếp tục thực hiện tội phạm hoặc cản trở quá trình giải quyết vụ án hình sự của các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Tính cưỡng chế của BPNCTG, được hiểu là khi một đối tượng bị áp dụng thì buộc họ phải có nghĩa vụ chấp hành, đồng thời Nhà nước đưa ra những biện pháp bảo đảm cũng như chế tài cần thiết để buộc họ phải chấp hành biện pháp ngăn chặn này. Hay nói một cách khác, người bị áp dụng BPNCTG không có quyền lựa chọn mà buộc phải chấp hành.
Tính cưỡng chế của BPNCTG thể hiện trên các khía cạnh sau: (1) Là biện pháp do nhà nước quy định trong luật TTHS thể hiện sự cưỡng chế nhà nước; (2) Khi bị áp dụng thì người bị áp dụng buộc phải chấp hành, không có lựa chọn, không được thỏa thuận, nếu không chấp hành thì nhà nước có thể dùng sức mạnh của bộ máy cưỡng chế để đảm bảo thực hiện; (3) Trong trường hợp không thực hiện, hoặc thực hiện không đúng, đủ thì phải chịu hậu quả pháp lý. Mặt khác, tính cưỡng chế của biện pháp ngăn chặn còn thể hiện: “Là cách thức mang tính quyền lực nhà nước do CQ/NCTQTHTT áp dụng theo những căn cứ, trình tự, thủ tục và thời hạn được pháp luật TTHS quy định, tác động lên tư tưởng, hành vi người tham gia tố tụng, buộc những chủ thể này phải thực hiện những nghĩa vụ nhằm bảo đảm cho việc tiến hành hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án”. GS.TS Hoàng Thị Kim Quế cho rằng: “Nhà nước xây dựng, ban hành pháp luật, nhà nước có thẩm quyền một cách hợp pháp, chính danh, độc quyền áp dụng các biện pháp cưỡng chế cần thiết để bảo đảm thực hiện pháp luật. Mọi hành vi phạm pháp luật đều bị áp dụng các biện pháp xử lý thích hợp (sử dụng các chế tài pháp luật”. Theo tác giả, pháp luật sẽ không có hiệu lực, hiệu quả nếu thiếu đi sự đảm bảo bởi bộ máy cưỡng chế của nhà nước. Trong xã hội pháp quyền, dân chủ, việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành pháp luật phải trên cơ sở pháp luật, đúng quy trình, thủ tục và không được vi phạm quyền, lợi ích của con người.

3. Tính hạn chế quyền tự do của con người

BPNCTG được quy định trong luật TTHS đã hạn chế một số quyền tự do con người của người bị áp dụng, đặc biệt là quyền tự do thân thể nhằm mục đích ngăn ngừa đối tượng này tiếp tục phạm tội, bỏ trốn, phá huỷ chứng cứ gây cản trở quá trình xử lý vụ án hình sự. Do vậy, người bị áp dụng BPNCTG buộc phải bị cách ly khỏi xã hội một khoảng thời gian nhất định theo quy định của pháp luật. Đây là thuộc tính, đặc điểm quan trọng nhất khi đề cập đến khái niệm BPNCTG trong TTHS. Thuộc tính này, thể hiện bản chất của BPNCTG, đồng thời cũng là thuộc tính căn bản, riêng biệt để so sánh với các biện pháp ngăn chặn khác trong TTHS. Bản chất đó thể hiện tính nghiêm khắc đặc biệt của BPNCTG mà xét về tính chất, mức độ, hậu quả pháp lý không có ở các biện pháp ngăn chặn khác. Mặt khác, tính nghiêm khắc đặc biệt của BPNCTG còn thể hiện bởi pháp luật quy định nó chỉ được áp dụng đối với người phạm vào tội đặc biệt nghiêm trọng, hoặc người phạm tội đó có thể gây ra nguy hại lớn cho xã hội, hoặc làm ảnh hưởng đến hoạt động đúng đắn trong lĩnh vực tư pháp hình sự cần phải tạm thời cách ly họ khỏi đời sống xã hội.
QCN, bao gồm rất nhiều quyền được pháp luật quốc tế, pháp luật quốc gia ghi nhận, bảo đảm và bảo vệ như: “Mọi người đều có quyền cố hữu là được sống. Quyền này được pháp luật bảo vệ. Không ai có thể bị tước đoạt mạng sống một cách tuỳ tiện” hay “Mọi người đều có quyền hưởng tự do và an toàn cá nhân. Không ai bị bắt hoặc bị giam giữ vô cớ. Không ai bị tước quyền tự do trừ trường hợp việc tước quyền đó là có lý do và theo đúng những thủ tục mà pháp luật quy định”. Tương tự, Hiến pháp năm 2013 ghi nhận quyền sống, quyền tự do và bất khả xâm phạm thân thể, quyền thông tin liên lạc... Như vậy, bên cạnh quyền sống, con người còn cần đến nhu cầu và điều kiện để phát triển. Quyền được phát triển gắn liền với việc tiếp cận, nghiên cứu, thụ hưởng các giá trị vật chất, tinh thần và những thành quả của khoa học - công nghệ, văn học nghệ thuật, các giá trị văn hoá. Chính vì thế, việc Hiến định các quyền trên là hết sức cần thiết, giúp ích cho việc nâng cao chất lượng cuộc sống và mục tiêu hướng tới của quá trình phát triển của mọi người. Tuy nhiên, khi một người bị áp dụng BPNCTG không chỉ quyền tự do bị hạn chế trong một khoảng thời gian tương đối dài mà kéo theo hệ quả là hàng  loạt các quyền cơ bản khác bị hạn chế theo.
Mặc dù vậy, hạn chế này chỉ mang tính tạm thời, bởi vì, nếu người bị tạm giam được Tòa án tuyên là phạm tội và áp dụng hình phạt thì thời hạn tạm giam được tính vào thời hạn chấp hành hình phạt tù hoặc cải tạo không giam giữ... hoặc được chuyển đổi nếu Tòa án không tuyên hình phạt tù; nếu Toà án tuyên không phạm tội, thì sẽ được minh oan và được bồi thường. Mặt khác, do khả năng xâm phạm đến quyền tự do của con người, việc áp dụng BPNCTG cần chú ý bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị áp dụng. Bởi lẽ, đối tượng bị áp dụng mới chỉ là nghi can chứ chưa phải là tội phạm và chỉ hạn chế một số quyền trong một thời hạn nhất định do luật định. Do vậy, việc áp dụng BPNCTG vẫn phải bảo đảm và tôn trọng các quyền bất khả xâm phạm về thân thể, quyền được bảo hộ về tính mạng, sức khỏe, danh dự và nhân phẩm của người bị tam giam.
Để bảo đảm quyền của người bị tạm giam, Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị (năm 1966) yêu cầu NBBT phải được xét xử trong thời hạn hợp lý hoặc được trả tự do (khoản 3 Điều 9). Như vậy, có thể hiểu pháp luật quốc tế khuyến nghị việc tạm giam chỉ nên là ngoại lệ và với thời hạn ngắn. Liên quan đến thời hạn tạm giam để xét xử, thì quyền được tại ngoại chờ xét xử tuy không được quy định là nguyên tắc chung nhưng cũng là một những quyền mà pháp luật quốc tế ghi nhận cho người bị tạm giam. Có thể thấy, việc tạm giam không được luật quốc tế coi là đương nhiên mà chỉ coi là ngoại lệ và áp dụng khi tồn tại khả năng bị can sẽ hủy hoại chứng cứ, ảnh hưởng đến nhân chứng. Trong trường hợp cá nhân bị tạm giam thì đến giai đoạn xét xử cũng có khả năng được hưởng quyền được tại ngoại để chờ xét xử. Cùng với việc quy định quyền được tại ngoại chờ xét xử thì quy định đặt tiền tại ngoại cũng là những hình thức khuyến khích việc hạn chế áp dụng giam giữ trong luật quốc tế, hướng đến bảo đảm QCN của NBBT.

4. Tính căn cứ, thủ tục, thẩm quyền, thời hạn chặt chẽ, rõ ràng khi áp dụng

Yêu cầu pháp luật phải chặt chẽ về mặt hình thức, chính xác về mặt nội dung, tính thống nhất, ổn định và phải được bảo đảm thực hiện bởi Nhà nước. Là một chế định của luật TTHS, do vậy, BPNCTG cũng chứa đựng các thuộc tính chung của pháp luật và buộc phải thể hiện thủ tục tố tụng đặc trưng của tố tụng tư pháp. Tuy nhiên, BPNCTG lại chứa đựng trong nó những đặc trưng riêng có về tính hạn chế một số quyền Hiến định của người bị tam giam khi cách ly người đó khỏi xã hội nên BPNCTG được coi là biện pháp ngăn chặn nghiêm khắc và nặng nề nhất. Chính vì vậy, TTHS đòi hỏi khi áp dụng biện pháp này yêu cầu về mặt thủ tục, thẩm quyền phải chặt chẽ, được biểu hiện bằng việc pháp luật phải quy định đầy đủ quy trình đối với việc áp dụng biện pháp ngăn chặn này; quy trình đó phải cụ thể, rõ ràng, minh bạch, dễ áp dụng, tránh việc hiểu theo nhiều nghĩa, diễn giải theo ý chủ quan của người có thẩm quyền, tránh bị lạm dụng khi áp dụng. Đồng thời thủ tục chặt chẽ còn phải bảo đảm khi áp dụng BPNCTG không làm ảnh hưởng đến những QCN khác của người bị áp dụng biện pháp này mà pháp luật TTHS không hạn chế hoặc tước bỏ cũng như phải đồng bộ, phù hợp với các thủ tục tố tụng khác tránh việc mâu thuẫn, chồng chéo trong quá trình áp dụng.
Bên cạnh việc tuân thủ trình tự, thủ tục chặt chẽ còn phải xác định rõ thẩm quyền việc áp dụng BPNCTG, bởi lẽ, như ở Việt Nam, xuất phát từ chức năng, nhiệm vụ trong đấu tranh, xử lý tội phạm, CQĐT được quyền đề xuất việc áp dụng BPNCTG khi có đủ các điều kiện mà pháp luật quy định. Tuy nhiên, VKS lại là cơ quan được giao nhiệm vụ thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân thủ pháp luật trong hoạt động tư pháp, trong khi đó, BPNCTG là biện pháp ngăn chặn khắc nghiệt nhất với việc cách ly NBBT khỏi đời sống xã hội một thời gian tương đối dài nên một số quyền Hiến định của họ bị xâm phạm, do vậy, để tăng cường và đảm bảo tính đúng đắn trong việc áp dụng BPNCTG, đề nghị của CQĐT cần phải được kiểm sát, thông qua hoạt động phê chuẩn của cơ quan thực hiện quyền công tố là một tất yếu khách quan, nhằm khẳng định sự thận trọng, tôn trọng và đảm bảo tính chính xác và khách quan nhất khi áp dụng BPNCTG. Tuỳ thuộc vào thể chế và trường phái luật của mỗi quốc gia mà có sự quy định khác nhau, ở một số nước thì việc phê chuẩn hay ra quyết định áp dụng BPNCTG lại thuộc thẩm quyền của Toà án mà cụ thể là thẩm phán chuyên trách. Điều này mang một ý nghĩa đặc biệt quan trọng, thể hiện tính thận trọng cần thiết khi buộc phải hạn chế một số quyền của người bị tạm giam bởi CQ/NCTQTHTT và chính điều này đã tạo ra sự khác biệt giữa BPNCTG với các biện pháp ngăn chặn khác trong TTHS.

5. BPNC tạm giam chỉ áp dụng khi các BPNC khác của TTHS không đạt được mục đích ngăn chặn

Yêu cầu khách quan của quá trình đấu tranh, xử lý tội phạm đòi hỏi nhà nước phải áp dụng các biện pháp cưỡng chế để tác động có chủ đích tới các đối tượng trong một số trường hợp, vì lợi ích hợp pháp của nhà nước, tập thể và cá nhân khác. Đặc điểm chung của các biện pháp cưỡng chế là sự tác động một chiều không phụ thuộc vào ý chí của bên bị áp dụng và Nhà nước có cơ chế đảm bảo việc các biện pháp cưỡng chế này được thực thi, nếu không tuân thủ người bị áp dụng sẽ phải gánh chịu hậu quả pháp lý bất lợi. Tuỳ thuộc vào mục đích, đối tượng hoặc các tiêu chí khác mà các nhà làm luật phân chia các biện pháp cưỡng chế thành những nhóm khác nhau với những căn cứ, thẩm quyền, trình tự, thủ tục và thời hạn áp dụng khác nhau.
Nhóm biện pháp ngăn chặn là những biện pháp cưỡng chế TTHS do CQ/NCTQTHTT áp dụng với NBBT khi có căn cứ do BLTTHS quy định, nhằm kịp thời ngăn chặn tội phạm, ngăn chặn NBBT gây khó khăn cho quá trình giải quyết  vụ án hình sự hoặc ngăn ngừa họ tiếp tục phạm tội. Biện pháp ngăn chặn gồm: bắt, tạm giữ, tạm giam, cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm hoặc cấm xuất cảnh. Như vậy, căn cứ vào tính chất, mục đích, ý nghĩa của các biện pháp ngăn chặn mà nhà làm luật đã sắp xếp thứ tự các biện pháp này một cách có chủ đích. Theo đó, biện pháp bắt có tính chất khởi đầu, đặc thù thường được áp dụng liền trước việc áp dụng biện pháp ngăn chặn tiếp theo. Sau biện pháp bắt là các biện pháp ngăn chặn cách ly người phạm tội khỏi đời sống xã hội trong khoảng thời gian nhất định và được sắp xếp theo thứ tự từ thấp đến cao là tạm giữ, tạm giam, tiếp đó là đến các biện pháp ngăn chặn khác có tính chất cưỡng chế thấp hơn, ít khả năng xâm phạm tới QCN, quyền công dân. Bởi lẽ, nhiều trường hợp khởi tố bị can nhưng xét thấy bị can không tiếp tục phạm tội hoặc gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố thì chỉ cần áp dụng biện pháp ngăn chặn ít nghiêm khắc vừa  tạo điều kiện cho NBBT có điều kiện sinh hoạt, sản xuất, kinh doanh bình thường nhưng vẫn bảo đảm sự có mặt tại cơ quan tiến hành tố tụng khi cần thiết. Các trường hợp này, chỉ áp dụng BPNCTG khi đã áp dụng biện pháp ngăn chặn ít nghiêm khắc như cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản để bảo đảm, tạm dừng xuất cảnh mà không đạt được mục đích ngăn chặn.
Như vậy, có thể thấy BPNCTG có quan hệ mật thiết và tác động qua lại  trong mối quan hệ mang tính lệ thuộc và có trật tự dựa trên cơ sở là tính chất của hành vi phạm tội và mục đích áp dụng biện pháp cưỡng chế. Mặt khác, hệ quả pháp lý, căn cứ trong việc áp dụng BPNCTG so với các biện pháp cưỡng chế là khác nhau, thể hiện qua việc khi một người bị áp dụng BPNCTG thì người đó buộc phải bị cách ly khỏi xã hội một thời gian tương đối dài, dẫn tới hàng loạt các quyền Hiến định của họ bị hạn chế, do đó, hậu quả mà người này phải gánh chịu luôn là nặng nề nhất, khắc nghiệt nhất so với các biện pháp cưỡng chế khác. Do vậy, căn cứ, trình tự, thủ tục, thẩm quyền và thời hạn cũng khác và chặt chẽ thận trọng hơn nhiều so với các biện pháp cưỡng chế khác, rõ nhất là việc buộc phải có sự phê chuẩn của cơ quan thực hành quyền công tố khi áp dụng hoặc chỉ Toà án mới có quyền áp dụng BPNCTG. Vì vậy cần thiết nhận thức rằng, chỉ áp dụng BPNCTG khi có cơ sở xét thấy các biện pháp ngăn chặn khác không đạt được mục đích ngăn chặn hay nói cách khác BPNCTG luôn là biện pháp cuối cùng được cân nhắc khi áp dụng biện pháp cưỡng chế.
Những thuộc tính nêu trên phản ánh các nội dung cơ bản nhất của BPNCTG, do vậy, khi nêu ra khái niệm BPNCTG không thể bỏ qua bất kỳ thuộc tính nào. Chỉ có như vậy, mới thể hiện đầy đủ bản chất cũng như biểu hiện bên ngoài có tính chất pháp lý của khái niệm BPNCTG.

6. Quan niệm và các định nghĩa về biện pháp ngăn chặn tạm giam trong tố tụng hình sự

Tạm giam là một trong các biện pháp ngăn chặn của TTHS, nhằm mục đích ngăn chặn tội phạm, đồng thời bảo đảm cho quá trình xử lý vụ án hình sự. Tuy nhiên, khi bàn về biện pháp ngăn chặn này lại có những quan điểm, cách tiếp cận khác nhau đối với các vấn đề như: nội hàm và định nghĩa khoa học về BPNCTG; cơ sở hình thành qui định, phạm vi điều chỉnh cũng như hệ quả của BPNCTG trong pháp luật TTHS; tác động khi áp dụng biện pháp ngăn chặn này đối với người bị cáo buộc phạm tội theo chiều hướng nào; QCN của người bị áp dụng biện pháp này có phù hợp với các tiêu chí quốc tế về QCN hay không; trách nhiệm và hậu quả pháp lý của việc áp dụng BPNCTG trái quy định của pháp luật được xác định và xử lý như thế nào; mối quan hệ giữa BPNCTG với các biện pháp cưỡng chế khác trong TTHS cũng như đối với hình phạt và cưỡng chế hình sự khác dẫn tới việc có nhiều quan điểm, nhận thức khác nhau, có thể điểm qua một số quan niệm và định nghĩa về biện pháp ngăn chặn tạm giam của một số học giả sau:
(i) Khoa học pháp lý thời kỳ Xô Viết (Liên Xô cũ) đã có những nghiên cứu khá sớm và đồ sộ về BPNCTG, trong đó đã làm nổi bật khái niệm, bản chất của các biện pháp ngăn chặn nói chung và BPNCTG nói riêng. Tác giả ZD. Enhikeev nhấn mạnh bản chất phòng ngừa của các biện pháp ngăn chặn khi cho rằng các biện pháp ngăn chặn là một phạm trù đặc biệt, có ý nghĩa phòng ngừa. Cũng nhấn mạnh vào đặc điểm này, song tác giả Andreea Simona cho rằng các biện pháp ngăn chặn là các biện pháp cưỡng chế để các cơ quan tư pháp hình sự áp dụng đảm bảo hoạt động TTHS, để ngăn chặn bị can, bị cáo trốn tránh sự truy tố, xét xử hoặc để ngăn cản việc tiếp tục thực hiện tội phạm. Tương tự, tác giả Marin Alin đưa ra quan niệm: các biện pháp phòng ngừa là thủ tục của pháp luật TTHS, có tính chất cưỡng chế và ngăn cản bị can, bị cáo đã hoặc sẽ (có mục tiêu) thực hiện một số hoạt động nhất định mà hoạt động này có tác động tiêu cực đến thủ tục TTHS. Qua các định nghĩa này, cho thấy, mặc dù có những biểu hiện khác nhau nhưng về cơ bản vẫn coi tạm giam là biện pháp có tính cưỡng chế của TTHS nhằm mục đích để các cơ quan tư pháp hình sự áp dụng đảm bảo hoạt động TTHS, thông qua đó sẽ tiến hành việc ngăn chặn bị can, bị cáo trốn tránh pháp luật hoặc tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội. Do tạm giam là biện pháp ngăn chặn của TTHS nên khi định nghĩa các tác giả cũng đề cập đến căn cứ, thủ tục pháp lý khi quyết định áp dụng biện pháp này nhưng không phải là điểm nhấn trong các định nghĩa. Tính chất cưỡng chế và mục đích tạo thuận lợi cho các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án được xem là bản chất của khái niệm BPNCTG và thường được các tác giả khẳng định tại câu đầu của định nghĩa về BPNCTG.
(ii) Ở Việt Nam, đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về BPNCTG từ những năm 1960 của thế kỷ trước, nhưng cho đến nay vẫn theo cách tiếp cận truyền thống khi đưa ra định nghĩa về BPNCTG trong TTHS. Chẳng hạn, Giáo trình luật TTHS Việt Nam của Khoa Luật - ĐHQG Hà Nội và trường Đại học Luật Hà Nội mặc dù thể hiện khuynh hướng của phương pháp tiếp cận quyền nhưng vẫn đưa ra định nghĩa dựa theo các dấu hiệu của luật thực định với các nội hàm thể hiện tính cưỡng chế nhà nước của BPNCTG, như sau: “Tạm giam là biện pháp ngăn chặn trong TTHS do cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng đối với bị can, bị cáo phạm tội trong trường hợp phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, tội rất nghiêm trọng hoặc tội nghiêm trọng, ít nghiêm trọng trong trường hợp cần thiết khi có những căn cứ để cho rằng người đó có thể trốn hoặc cản trở việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc có thể tiếp tục phạm tội được quy định cụ thể trong BLTTHS”.
Tương tự, “Tạm giam là biện pháp ngăn chặn áp dụng với bị can, bị cáo khi có căn cứ theo quy định của luật TTHS. Là biện pháp ngăn chặn hạn chế quyền tự do cá nhân, tạm giam là một trong những biện pháp ngăn chặn có tính nghiêm khắc nhất trong các biện pháp ngăn chặn của TTHS. Người bị áp dụng BPNCTG bị cách ly với xã hội trong một thời gian nhất định, bị hạn chế một số quyền công dân”. Cách định nghĩa này về BPNCTG đại diện cho cách tiếp cận của khoa học pháp lý TTHS Việt Nam trong một thời gian dài. Tuy nhiên, khái niệm này hoàn toàn dựa theo luật thực định và chỉ ra: căn cứ, thẩm quyền, thủ tục, thời hạn áp dụng BPNCTG hay nói cách khác mới chỉ là tính thủ tục chặt chẽ.
Bên cạnh những hạn chế vừa đề cập đến ở trên, tạm giam cũng tạo ra những nguy cơ tiềm tàng với việc đảm bảo công lý trong xét xử tại toà án và đặc biệt là nguyên tắc suy đoán vô tội. Điều này làm gia tăng nguy cơ buộc người bị tạm giam phải nhận tội hoặc đưa ra những lời khai bất lợi do bị ép buộc bởi bức cung, nhục hình. Điều này sẽ dẫn đến hệ luỵ làm giảm khả năng có thể được bào chữa (bảo vệ) của nghi can, đặc biệt là khi NBBT là người nghèo và không thể nhờ đến luật sư bào chữa hoặc hỗ trợ pháp lý để có được bằng chứng ủng hộ bào chữa cho mình. Quan điểm của tác giả cho rằng, việc xem nhẹ tính phòng ngừa hay áp dụng tùy tiện BPNCTG đều có thể gây nên những hậu quả khó lường trước đối với trật tự xã hội đương đại. Tác giả ủng hộ một quan điểm thận trọng hơn trong bối cảnh hiện nay của Việt Nam. Đó là cần thiết phải thu hẹp đối tượng có thẩm quyền quyết định áp dụng BPNCTG, do đó, Bộ luật TTHS năm 2015 đã thu hẹp đáng kể thẩm quyền quyết định áp dụng BPNCTG so với Bộ luật TTHS năm 2003, theo đó chỉ có Viện trưởng VKS các cấp; Chánh án tòa án các cấp; Hội đồng xét xử mới có thẩm quyền này. Khi xem xét các biện pháp thay thế cho tạm giam trước khi xét xử, các thẩm phán nên theo nguyên tắc: Giam giữ trước khi xét xử chỉ là biện pháp cuối cùng và cân nhắc áp dụng các biện pháp thay thế cho giam giữ trước khi xét xử khả dĩ hơn. Các quyết định áp dụng BPNCTG trước khi xét xử cần phải đảm bảo căn cứ thuyết phục và có một tầm nhìn sâu sắc hơn về lý do áp dụng BPNCTG trong một trường hợp cụ thể. Sự tồn tại của các căn cứ để áp dụng BPNCTG trước khi xét xử phải được xem xét một cách thận trọng.
Có thể thấy, BPNCTG là khái niệm đa chiều, không chỉ liên quan đến việc giải quyết vụ án hình sự mà còn ảnh hưởng trực tiếp QCN của người bị áp dụng biện pháp này, cũng như mối liên hệ giữa nó với các chủ thể có thẩm quyền áp dụng và mối quan hệ qua lại với những biện pháp khác của TTHS trong quá trình giải quyết vụ án. Ngoài ra, với tư cách là một chế định pháp lý TTHS, BPNCTG còn chịu sự tương tác của các điều kiện kinh tế, xã hội và nhất là phụ thuộc vào thể chế, vào cơ cấu tổ chức thực hiện quyền lực nhà nước, cũng như sự thống nhất với các chế định pháp lý khác có liên quan trong lĩnh vực tư pháp hình sự. Do đó, đã có những cách tiếp cận khác nhau về BPNCTG và đưa ra các định nghĩa với nội hàm khác nhau. Theo nghiên cứu sinh để đưa ra khái niệm “Biện pháp ngăn chặn tạm giam” cần dựa trên cơ sở phân tích toàn diện nội hàm của biện pháp ngăn chặn này và so sánh, tham khảo các cách tiếp cận, quan điểm nêu trên. Từ đó, BPNCTG  trong luận án này được hiểu như sau: “Tạm giam là biện pháp ngăn chặn trong TTHS do cơ quan/người có thẩm quyền tiến hành tố tụng áp dụng theo quy định của BLTTHS, tạm thời hạn chế quyền tự do cá nhân của bị can, bị cáo bằng việc cách ly họ khỏi đời sống xã hội trong một thời hạn nhất định tại các cơ sở giam giữ, nhằm ngăn chặn tội phạm, bảo đảm việc giải quyết vụ án và là biện pháp cuối cùng khi có cơ sở cho rằng việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn khác không đạt được mục đích ngăn chặn”.
Tạm giam là biện pháp ngăn chặn nghiêm khắc nhất, do người bị áp dụng biện pháp này bị tước bỏ quyền tự do thân thể trong một thời hạn tương đối dài so với biện pháp tạm giữ và các biện pháp ngăn chặn khác. Tính nghiêm khắc còn thể hiện ở việc các quyền hợp pháp khác của người bị tạm giam tuy không hạn chế, tước bỏ nhưng rất khó để thực hiện trên thực tế do việc người này bị cách ly tại cơ sở giam giữ. Do đó, để có cơ sở pháp lý áp dụng biện pháp ngăn chặn này và bảo đảm quyền con người, BLTTHS năm 2015 đã quy định cụ thể về căn cứ, thẩm quyền, trình tự, thủ tục, đối tượng và thời hạn của BPNCTG tại Điều 119 của bộ luật này.
Trân trọng!
Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty Luật Minh Khuê