- 1. Cưỡng chế nhà nước là yếu tố cần thiết trong cơ chế điều chỉnh pháp luật
- 2. Tố tụng hình sự là một trong những lĩnh vực hoạt động quan trọng của Nhà nước
- 3. Biện pháp cưỡng chế trong tố tụng hình sự nhằm bảo vệ xã hội
- 4. Các biện pháp cưỡng chế trong tố tụng hình sự là một dạng của các biện pháp cưỡng chế nhà nước
- 5. Các điều kiện chung áp dụng biện pháp cưỡng chế trong BLTTHS 2003
1. Cưỡng chế nhà nước là yếu tố cần thiết trong cơ chế điều chỉnh pháp luật
Cưỡng chế nhà nước là yếu tố cần thiết không thể thiếu được trong cơ chế điều chỉnh pháp luật. Nhà nước với tư cách là người ban hành pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội có quyền buộc chủ thể trong quan hệ pháp luật phải thực hiện những hành vi cụ thể không phụ thuộc vào ý chí và mong muốn của chủ thể nhằm đạt được những mục tiêu của Nhà nước. Đây chính là cưỡng chế nhà nước vì do Nhà nước quy định, thể hiện quyền lực nhà nước, do các cơ quan nhà nước thực hiện vì lợi ích của Nhà nước. Một trong những lý do dẫn đến sự cần thiết áp dụng các biện pháp cưỡng chế là thái độ chủ quan của chủ thể quan hệ pháp luật đối với nghĩa vụ của mình. Với chủ thể tự nguyện chấp hành nghĩa vụ pháp luật thì Nhà nước không cần thiết phải áp dụng biện pháp cưỡng chế. Cách nhìn nhận vấn đề như vậy nhấn mạnh việc sử dụng biện pháp cưỡng chế là hợp lý, thực sự cần thiết và không còn lựa chọn khác khi mà các biện pháp thuyết phục đối với chủ thể không đem lại kết quả. Các biện pháp cưỡng chế luôn là công cụ tác động xã hội sắc bén và nghiêm khắc bởi lẽ chúng hạn chế quyền, lợi ích hợp pháp của chủ thể quan hệ pháp luật, đặt chủ thể vào trong tình trạng không có lựa chọn nào khác ngoài lựa chọn do cơ quan quyền lực nhà nước đưa ra.
2. Tố tụng hình sự là một trong những lĩnh vực hoạt động quan trọng của Nhà nước
So với các lĩnh vực hoạt động nhà nước khác thì tố tụng hình sự là lĩnh vực trong đó việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế là cần thiết khách quan và xâm phạm nhiều nhất vào cuộc sống tư của công dân, hạn chế quyền và tự do hiến định của họ. Điều này xuất phát từ nhiệm vụ của tố tụng hình sự là phát hiện tội phạm và kẻ phạm tội, ngăn chặn tiếp tục phạm tội và truy cứu trách nhiệm hình sự của kẻ phạm tội. Đây là yếu tố quyết định sự cần thiết áp dụng các biện pháp cưỡng chế can thiệp vào tự do cá nhân, quyền bất khả xâm phạm về thân thể và các quyền hiến định khác của công dân. Vì mục đích bảo vệ trật tự trong xã hội, bảo đảm các quyền, tự do cơ bản của các thành viên trong xã hội..., Nhà nước nhận về mình nghĩa vụ thực hiện hoạt động bảo vệ pháp luật trong đó có hoạt động tố tụng hình sự. Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội nên đấu tranh chống tội phạm đòi hỏi phải có những biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc. Do tác động của nguyên tắc tội phạm không tránh khỏi hình phạt nên kẻ phạm tội tìm mọi cách lẩn tránh trách nhiệm hình sự của mình. Ví dụ như bỏ trốn, không chế đe dọa người bị hại, người làm chứng để những người này thay đổi lời khai ban đầu, trình bày không đúng sự thật, chống đối khi bị bắt giữ, tiếp tục phạm tội, tẩu tán tài sản do phạm tội mà có... Do vậy, nhu cầu áp dụng các biện pháp cưỡng chế từ phía các cơ quan tiến hành tố tụng hạn chế quyền, tự do của bị can, bị cáo, người bị tạm giữ trong những trường hợp nhất định là hoàn toàn khách quan và có tính xã hội nhằm loại trừ những cản trở hoạt động tố tụng, bảo đảm cho hoạt động tố tụng hình sự diễn ra bình thường, bảo đảm cho các cơ quan tiến hành tố tụng hoàn thành nhiệm vụ của mình.
3. Biện pháp cưỡng chế trong tố tụng hình sự nhằm bảo vệ xã hội
Chúng ta cũng phải thấy rằng những biện pháp cưỡng chế trong tố tụng hình sự nhằm bảo vệ xã hội chống lại các hành vi tội phạm nguy hiểm đến lượt mình có thể trở thành mối đe dọa thực tế với quyền, tự do hiến định của bị can, bị cáo, người bị tạm giữ nếu như việc áp dụng những biện pháp này không tuân thủ các quy đỊnh của luật về điều kiện, trình tự, thủ tục, căn cứ áp dụng. Ý nghĩa to lớn của quyền, tự do hiến định của các chủ thể này, những bảo đảm từ phía Nhà nước đối với các quyền, tự do hiến định đó và sự cần thiết thực hiện nhiệm vụ phát hiện, khám phá tội phạm, phát hiện và truy cứu trách nhiệm hình sự của kẻ phạm tội đòi hỏi phải tìm ra hình thức pháp lý hạn chế quyền, tự do hiến định một cách hài hòa có cân nhắc đến quyền, lợi ích của người bị hạn chế và cả lợi ích của Nhà nước, xã hội. Nếu nghiêng về lợi ích của bên nào một cách thái quá tất yếu sẽ làm thiệt hại lợi ích của bên kia. Trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa thì giá trị xã hội của hai nhóm lợi ích này là như nhau. Không thể nhân danh lợi ích đấu tranh chống tội phạm mà làm thiệt hại đến quyền, lợi ích được Hiến pháp thừa nhận của cá nhân và ngược lại, không thể hạ thấp yêu cầu đấu tranh chống tội phạm trước những khả năng bất lợi khi hạn chế quyền, tự do của cá nhân. Hệ thống pháp luật của bất kỳ quốc gia nào cũng luôn ghi nhận các tình huống trong hoạt động tố tụng hình sự khi các quyền, tự do hiến định của công dân có thể bị hạn chế trước yêu cầu bảo vệ lợi ích chung của xã hội. Quy định của Hiến pháp năm 2013 về hạn chế quyền con người, quyền công dân trong những trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng cho thấy hạn chế này là cần thiết, có tính khách quan, không thể tránh khỏi. Tuy nhiên, hạn chế quyền con người, quyền công dân chỉ được thực hiện trên cơ sở quy định của luật (Điều 14 Hiến pháp năm 2013). Ngoài bị can, bị cáo, người bị tạm giữ, các biện pháp cưỡng chế có thể được áp dụng đối với cả những công dân không liên quan đến tội phạm tham gia vào hoạt động tố tụng với tư cách người bị hại, người làm chứng... vì điều này cũng là cần thiết từ yêu cầu đấu tranh chống tội phạm nhằm bảo đảm an toàn cho xã hội, trong đó có cả chính những chủ thể này.
4. Các biện pháp cưỡng chế trong tố tụng hình sự là một dạng của các biện pháp cưỡng chế nhà nước
Các biện pháp cưỡng chế trong tố tụng hình sự là một dạng của các biện pháp cưỡng chế nhà nước nói chung nên chúng cũng có đầy đủ các dấu hiệu của biện pháp cưỡng chế, ví dụ như chủ thể áp dụng chúng luôn là những cơ quan và cá nhân có quyền hạn có tính quyền lực nhà nước trong hoạt động tố tụng hình sự - cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng trong vụ án hình sự cụ thể. Đối tượng của các biện pháp cưỡng chế là cá nhân tham gia trong hoạt động tố tụng hình sự với những tư cách tố tụng khác nhau như người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người làm chứng, bị đơn dân sự... (trong trường hợp Bộ luật hình sự quy định pháp nhân là chủ thể tội phạm thì một số biện pháp cưỡng chế cũng có thể được áp dụng với pháp nhân). Bên cạnh đó, các biện pháp cưỡng chế trong tố tụng hình sự khác với các biện pháp cưỡng chế trong các lĩnh vực pháp luật khác ở những điểm sau đây:
Thứ nhất, chúng được quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự. Chính nhờ đặc điểm này mà các biện pháp cưỡng chế trong tố tụng hình sự phân biệt với hình phạt trong pháp luật hình sự và các biện pháp cưỡng chế áp dụng trong tố tụng dân sự, tố tụng hành chính.
Thứ hai, Bộ luật tố tụng hình sự quy định một cách cụ thể từ biện pháp cưỡng chế tối thiểu đến biện pháp cưỡng chế tối đa theo mức độ nghiêm khắc của chúng. Nhà làm luật áp dụng kỹ thuật lập pháp “cho phép” - theo đó những người có thẩm quyền trong tố tụng hình sự chỉ được quyền áp dụng những biện pháp cưỡng chế mà luật quy định trong những trường hợp cụ thể. Bên cạnh đó, luật còn quy định trình tự, thủ tục và những điều kiện áp dụng các biện pháp cưỡng chế và trách nhiệm hình sự khi vi phạm các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về áp dụng các biện pháp cưỡng chế. Đây cũng là một trong những bảo đảm pháp lý cho quyền, tự do hiến định của công dân, một trong những giải pháp chống lại khả năng lạm dụng quyền hạn của những người tiến hành tố tụng khi áp dụng các biện pháp cưỡng chế. Các biện pháp cưỡng chế chỉ áp dụng khi trên thực tế xuất hiện khả năng cản trở hoặc khi có cản trở thực hiện nhiệm vụ của tố tụng hình sự, cản trở tiến trình bình thường của hoạt động tố tụng hình sự. Từ đó có thể định nghĩa các biện pháp cưỡng chế trong tố tụng hình sự là các hành vi và các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng trong vụ án hình sự được áp dụng trên cơ sở các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự đối với những người tham gia tố tụng nhất định không phụ thuộc vào ý chí của những người này nhằm thực hiện những nhiệm vụ của tố tụng hình sự.
5. Các điều kiện chung áp dụng biện pháp cưỡng chế trong BLTTHS 2003
Trong khoa học luật tố tụng hình sự và trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 thừa nhận các điều kiện chung áp dụng biện pháp cưỡng chế như sau:
+ Biện pháp cưỡng chế chỉ áp dụng trong vụ án hình sự cụ thể đã được khởi tố. Khi nhận được tin báo về tội phạm thì hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng như Cơ quan điều tra chỉ là hoạt động kiểm tra, xác minh tính xác thực của tin báo về tội phạm, không được phép tiến hành các hoạt động điều tra trừ hoạt động điều tra duy nhất là khám nghiệm hiện trường (Điều 103 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003). Các hoạt động điều tra còn lại kể cả những hoạt động điều tra ban đầu chỉ có thể tiến hành sau khi có quyết định khởi tố vụ án. Các biện pháp cưỡng chế là những biện pháp nghiêm khắc hơn so với một số hoạt động điều tra càng có lý do không được thực hiện trước khi khởi tố vụ án. Mặt khác, khi có căn cứ để áp dụng biện pháp cưỡng chế thì cũng đủ căn cứ để khởi tố vụ án.
+ Sau khi có quyết định đình chỉ điều tra vụ án thì các biện pháp cưỡng chế là biện pháp ngăn chặn đã được áp dụng phải bị hủy bỏ(Điều 164 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003).
+ Biện pháp cưỡng chế phải do chủ thể là người hoặc cơ quan tiến hành tố tụng đã được phân công hoặc đang thụ lý giải quyết vụ án hình sự cụ thể áp dụng theo đúng thẩm quyền luật định. Đối với người tiến hành tố tụng còn điều kiện bổ sung là không bị yêu cầu thay đổi hoặc phải từ chối tiến hành tố tụng theo Điều 4 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003. Áp dụng các biện pháp cưỡng chế trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 vừa là quyền vừa là nghĩa vụ của các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Các chủ thể này hoàn toàn chủ động quyết định áp dụng biện pháp cưỡng chế khi có căn cứ do luật định không phụ thuộc vào ý kiến của những người tham gia tố tụng khác. Đối với các biện pháp cưỡng chế liên quan đến các quyền, tự do hiến định của công dân thì việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế do Cơ quan điều tra quyết định đòi hỏi phải có thêm thủ tục phê chuẩn của Viện kiểm sát trước khi áp dụng như là một bảo đảm tính hợp pháp và tính có căn cứ của việc hạn chế quyền, tự do hiến định của công dân, chống sự lạm quyền. Trường hợp khẩn cấp thì luật mới cho phép thực hiện mà không cần phê chuẩn nhưng sau đó cơ quan áp dụng phải xin phê chuẩn của Viện kiểm sát ngay (Ví dụ như bắt người trong trường hợp khẩn cấp theo Điều 81 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003: sau khi bắt phải báo cáo ngay bằng văn bản cho Viện kiểm sát để xét phê chuẩn hoặc theo khoản 2 Điều 141 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003: trong trường hợp không thể trì hoãn thì có thể thực hiện khám xét trước khi có phê chuẩn của Viện kiểm sát nhưng sau đó phải có thông báo bằng văn bản cho Viện kiểm sát).
+ Việc áp dụng biện pháp cưỡng chế được xem là hợp pháp khi có căn cứ và tuân thủ trình tự, thủ tục do luật định. Tính hợp pháp của việc áp dụng biện pháp cưỡng chế chính là sự tương thích giữa mức độ hạn chế quyền, tự do của cá nhân với sự cần thiết khách quan phải áp dụng biện pháp cưỡng chế cụ thể. Nếu như tính nghiêm khắc của biện pháp cưỡng chế vượt quá lợi ích xã hội thì lúc này sự hạn chế quyền, tự do cá nhân là không tương thích.
+ Đối tượng bị áp dụng biện pháp cưỡng chế là cá nhân tham gia trong vụ án hình sự với tư cách tố tụng cụ thể trong những trường hợp do luật quy định.
Hiện nay, trong khoa học luật tố tụng hình sự có rất nhiều cách phân loại các biện pháp cưỡng chế nhưng cách phân loại phổ biến nhất là các biện pháp ngăn chặn và các biện pháp cưỡng chế khác.