1.Khái niệm về thẩm quyền của toà án

Thẩm quyền của toà án có thể được xem xét theo những cách khác nhau. Nhiều quy định về thẩm quyền xét xử hoàn toàn mang tính địa phương (trong nước). Cái gọi là ‘thẩm quyền xét xử dựa trên vấn đề’ (‘subject-matter jurisdiction’) là một ví dụ. Khái niệm này sẽ trả lời câu hỏi: liệu một toà án có thẩm quyền giải quyết một vấn đề cụ thể nào đó không? Toà chuyên ngành chỉ có thẩm quyền xét xử đối với một số vấn đề nhất định, nghĩa là toà không có thẩm quyền xét xử các vấn đề khác. Ví dụ, toà chuyên ngành về thuế không thể giải quyết vụ việc về li hôn. Tại Hoa Kỳ, ‘thẩm quyền xét xử dựa trên vấn đề’ được hiểu theo các cách khác nhau. Vấn đề này liên quan đến câu hỏi: liệu toà liên bang có thể thụ lí một vụ việc cụ thể hay không, hay vụ việc đó phải được giải quyết ở toà cấp bang?

2.Các loại thẩm quyền của toà án

Thẩm quyền của toà án đối với cá nhân (‘in personam’) hoặc thẩm quyền của toà án đối với tài sản (‘in rem’) Thẩm quyền của toà án có thể được phân tích trên kết quả mà bản án nhằm đạt được. Hiện nay, việc phân loại hình thức thẩm quyền xét xử của toà án phổ biến nhất là việc phân loại giữa ‘thẩm quyền của toà án đối với cá nhân’ (‘in personam’), và ‘thẩm quyền của toà án đối với tài sản’ (‘in rem’). Ngoài ra còn có các thủ tục tố tụng nhất định khác, ví dụ, thủ tục về li hôn và giám hộ - không phù hợp với cả hai loại trên, nhưng cũng không thuộc phạm vi phân tích của Giáo trình.

 (a) Thẩm quyền của toà án đối với cá nhân Một số lĩnh vực trong pháp luật Hoa Kỳ hoặc pháp luật Anh rất khó có thể giải thích được cho các luật gia thuộc hệ thống civil law, ví dụ, vấn đề ‘thẩm quyền của toà án đối với cá nhân’. Lịch sử về thẩm quyền của toà án Hoa Kỳ đối với cá nhân gắn liền với những khái niệm rất khó và phức tạp về ‘mối quan hệ tối thiểu’ (‘minimum contacts’) và ‘tuân thủ đúng các thủ tục’ (‘due process’) theo Hiến pháp Hoa Kỳ. Khi một vụ kiện được khởi xướng tại Hoa Kỳ và nếu bên bị đơn cho rằng phải áp dụng nguyên tắc ‘toà án thích hợp’ (‘forum conveniens’) để giải quyết tranh chấp, thì những sai sót có thể xảy ra về quyền tài phán sẽ được xem xét, hoặc bị hoãn để chờ được quyết định theo nguyên tắc ‘toà án không thích hợp’ (‘forum non conveniens’) (xem nội dung dưới đây). Lí do của việc này có thể do việc dự đoán kết quả cho câu hỏi về thẩm quyền xét xử là khó khăn hơn so với việc dự đoán câu trả lời về ‘toà án không thích hợp’ (‘forum non conveniens’). Việc yêu cầu phải có những ‘mối quan hệ tối thiểu’ là cần thiết để đáp ứng đòi hỏi về ‘tuân thủ đúng các thủ tục’ (‘due process’) theo bản sửa đổi Hiến pháp Hoa Kỳ lần thứ XIV. Nếu tiêu chí ‘mối quan hệ tối thiểu’ được chứng minh, thì toà án sẽ cân nhắc những điều kiện khác về tính hợp lí, ví dụ, liệu thẩm quyền đang được thực hiện có đáp ứng khái niệm về tính công bằng và công lí thực sự hay không? Việc xác định thẩm quyền của toà án đối với cá nhân sẽ dẫn đến bản án có tính ràng buộc đối với bị đơn, theo đó cưỡng chế bị đơn phải trả tiền, chuyển giao tài sản, hoặc phải thực hiện hoặc không thực hiện một hành vi khác nào đó. Một bản án trên cơ sở ‘thẩm quyền của toà án đối với cá nhân’ là bản án mang tính cưỡng chế chỉ đối với một hoặc một vài cá nhân cụ thể, và bắt buộc cá nhân đó làm hoặc không làm một việc gì đó (thường là bồi thường thiệt hại bằng tiền). Đây là hình thức phổ biến nhất của bản án. Ở Anh, có ba loại quy tắc điều chỉnh thẩm quyền của toà án đối với cá nhân. Loại quy tắc thứ nhất có nguồn gốc châu Âu, đó là Quy định Brúcxen I (có nguồn gốc từ Công ước Brúc-xen về thẩm quyền và thực thi các bản án về dân sự và thương mại). Mô hình thứ hai là phiên bản có sửa đổi các quy tắc của châu Âu về thẩm quyền xét xử, theo đó, trong một số trường hợp nhất định sẽ trao thẩm quyền xét xử trong phạm vi nước Anh. Thứ ba, các quy tắc mang tính truyền thống sẽ được áp dụng trong trường hợp không thể áp dụng các quy tắc của châu Âu và/hoặc phiên bản sửa đổi trong đó quy định về thẩm quyền xét xử trong phạm vi nước Anh. Theo common law, thẩm quyền của toà án Anh đối với cá nhân dựa trên cơ sở theo đó bị đơn phải thuộc thẩm quyền xét xử của toà án đó. Nếu bị đơn có mặt ở Anh, quy trình tố tụng đó sẽ được áp dụng đối với người này tại Anh. Nếu bị đơn không ở Anh tại thời điểm bắt đầu của hoạt động tố tụng, nhưng anh ta đã chấp nhận việc đang bị kiện ở Anh, thì toà án Anh có thẩm quyền xét xử. Nếu bị đơn không thể thực hiện hoạt động tố tụng tại Anh và không chấp nhận thẩm quyền xét xử đó, thì toà án có thể vẫn có quyền tài phán theo Quy tắc 6.20 của Bản quy tắc tố tụng dân sự (viết tắt là ‘Quy tắc 6.20 CPR’) bằng cách cho phép quy trình tố tụng áp dụng đối với bị đơn đang ở ngoài phạm vi tài phán của toà án. Tuy nhiên, thẩm quyền này chỉ phát sinh trong trường hợp bị đơn là người nước ngoài và những sự kiện hoặc vấn đề tranh chấp có liên quan đến nước Anh. Toà án sẽ không được trao thẩm quyền, trừ trường hợp chứng minh được rằng nước Anh ‘là nơi thích hợp để khiếu kiện’. Trong vụ kiện Seaconsar Far East Ltd v. Bank Markazi Jomhouri Islami Iran, Thượng nghị viện đã khẳng định rằng có ba vấn đề cần phải cân nhắc: thứ nhất, nguyên đơn bắt buộc phải chứng minh rằng vấn đề sẽ xét xử là nghiêm trọng; thứ hai, nguyên đơn phải chứng minh rằng khiếu kiện của mình thuộc trường hợp được quy định trong Quy tắc 6.20 CPR; và thứ ba, toà án phải được thuyết phục rằng nước Anh là ‘forum conveniens’ - nơi thích hợp cho việc xét xử, và là nơi mà vụ việc có thể được xét xử tốt nhất cho lợi ích của các bên cũng như mục đích cuối cùng của công lí.

(b) Thẩm quyền của toà án đối với tài sản Thẩm quyền của toà án đối với tài sản dẫn đến một bản án về tài sản, và có tính ràng buộc đối với bất cứ ai trên thế giới, nếu người đó có lợi ích liên quan đến tài sản trong vụ kiện. Theo pháp luật của Anh, các vụ kiện này liên quan trực tiếp tài sản, thường là một con tàu. Chẳng có gì là lạ nếu một con tàu bị coi là ‘bị đơn’ trong vụ kiện về tài sản, nhưng trên thực tế thì hành động khiếu kiện lại nhằm vào chủ sở hữu của con tàu. Điển hình là trường hợp người khởi kiện gửi đơn kiện chống lại một chủ tàu liên quan đến hoạt động của con tàu đó. Ví dụ, trường hợp hàng hoá của nguyên đơn bị hư hại do những sai phạm về hàng hải của con tàu. Nguyên đơn thường sẽ tìm cách bắt giữ con tàu, do đó con tàu có thể được bán để đáp ứng bất kì bản án nào của toà án sao cho có lợi cho nguyên đơn. Chỉ có một số loại khiếu kiện nhất định liên quan đến tình huống nêu trên. Ví dụ, khiếu kiện của chủ sở hữu hàng hoá đối với hàng hoá bị hư hỏng, khiếu kiện của thủy thủ về tiền lương, và khiếu kiện của người sửa chữa tàu về chi phí sửa chữa. Nếu khiếu kiện chỉ liên quan đến tài sản, thì việc thi hành bản án của toà án cũng chỉ có tính cưỡng chế đối với tài sản đó mà thôi - bằng cách tịch thu hoặc bán tài sản đó theo lệnh của toà án. Vì vậy, không thể đạt được một giá trị cao hơn giá trị của tài sản đó (con tàu). Khi các khiếu kiện chỉ đơn thuần về tài sản, nguyên đơn bị giới hạn về giá trị của bản án chỉ bằng khoản tiền có thể thu được sau khi bán tài sản đó, nhưng đối với các khiếu kiện cả về tài sản và cá nhân bị đơn, thì nguyên đơn không bị giới hạn như vậy.

3.Tống đạt giấy tờ trong quá trình tố tụng

Tống đạt giấy tờ trong quá trình tố tụng ở nước ngoài được quy định tại Công ước La Hay về tống đạt ra nước ngoài văn bản tố tụng và ngoài tố tụng trong lĩnh vực dân sự và thương mại 1965. Tống đạt giấy tờ theo Công ước La Hay đang được thực hiện ở hơn 40 nước. Tống đạt giấy tờ được thực hiện bởi một ‘cơ quan trung ương’ của một quốc gia nước ngoài và cơ quan này sẽ chuyển hồ sơ tống đạt tới một cơ quan thích hợp. Mặc dù việc gửi hồ sơ tống đạt bằng thư tín thường bị hạn chế, nhưng việc này liệu có được coi là một hình thức tống đạt hay không thì vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau. Nếu việc tống đạt giấy tờ không tuân thủ một công ước, thì gần như chắc chắn dẫn đến việc bản án đó bị từ chối thi hành ở nước ngoài. Chính phủ Đức đã quy định rất rõ trong vụ kiện Schlunk rằng: toà án Đức sẽ không cho thi hành bản án, trừ trường hợp việc tống đạt giấy tờ đã được thực hiện theo Công ước La Hay.

4.Toà án không thích hợp (‘forum non conveniens’)

Học thuyết ‘toà án không thích hợp’ thể hiện sự công bằng. Nó cho phép toà án bác bỏ vụ kiện, nếu toà án tin rằng vụ kiện đó nên được giải quyết ở một nơi khác. Không phải tất cả các nước đều công nhận học thuyết này, nhưng cũng đưa ra kết luận tương tự với những tên gọi khác. Học thuyết này ở Hoa Kỳ có nguồn gốc từ vụ kiện Gulf Oil Corp. v. Gilbert, một vụ kiện liên quan đến toà án ở Hoa Kỳ. Trong vụ này, Toà án tối cao cho phép các toà án từ chối thẩm quyền xét xử của mình, nếu những yếu tố công và tư đều ủng hộ việc đưa vụ kiện giải quyết ở một toà án khác. Tuyên bố ‘toà án không thích hợp’ sẽ được bị đơn đề xuất như là một phần của chiến lược tranh tụng. Nếu họ thành công, vụ kiện có thể bị chuyển tới một toà án ở một nơi rất xa và vụ kiện sẽ chìm xuống. Vụ kiện chìm xuống vì lúc đó các luật sư Hoa Kỳ không còn hy vọng vào việc đạt được một bản án bồi thường thiệt hại nhiều hơn. Thực tế là họ không còn cơ hội để tham gia vào vụ kiện với tư cách là luật sư, một khi vụ kiện này được giải quyết ở một toà án nước ngoài. Một vấn đề đặt ra đối với bị đơn sau khi có được tuyên bố ‘toà án không thích hợp’ là việc bị mất hoặc giảm quyền kiểm soát đối với vụ việc. Nếu vụ kiện được đưa ra nước ngoài, thì luật sư của họ sẽ không thể đại diện cho họ trước toà án nước ngoài, và như vậy họ phải thuê luật sư nước ngoài. Bị đơn sẽ phải tìm hiểu về luật và hệ thống pháp luật nước ngoài. Sự lựa chọn tốt hơn cho các bị đơn là tiếp tục giữ vụ việc giải quyết tại toà án Hoa Kỳ, nhưng có thể áp dụng luật nước ngoài trong quá trình xét xử. Trong nhiều trường hợp như vậy, luật nước ngoài đã được viện dẫn, tuy nhiên, khi toà án gặp khó khăn trong xét xử bằng luật nước ngoài, thì gánh nặng không thể gánh vác này có thể sẽ đặt lên vai nguyên đơn. Luật là một sản phẩm của sự công bằng, và giống như sự công bằng, nó là một thứ gì đó trừu tượng và khó lường trước được.

>> Xem thêm:  Ví dụ về cách thâm nhập thị trường quốc tế của một sản phẩm cụ thể ? Phân tích cách thâm nhập đó.

5.Ưu và nhược điểm  điểm giải quyết bằng Tòa án

Ưu điểm giải quyết bằng Tòa án

+ Tòa án là cơ quan xét xử của Nhà nước nên phán quyết của tòa án có tính cưỡng chế cao. Trình tự, thủ tục tố tụng chặt chẽ; và đảm bảo hiệu lực thi hành của phán quyết tại Tòa. Nếu các bên không chấp hành sẽ bị cưỡng chế bởi cơ quan thi hành án. Các bên được bảo toàn quyền lợi và nghĩa vụ của mình bắt buộc phải thực hiện theo phán quyết của Tòa.

+ Nguyên tắc xét xử công khai có tính răn đe đối với những thương nhân kinh doanh vi phạm pháp luật. Đây cũng là một lợi thế; vì khi có những vụ xét xử công khai sẽ nhận ra những doanh nghiệp mang tính lừa lọc; hay vi phạm để tránh những trường hợp khác xảy ra.

+ Các tòa án, đại diện cho chủ quyền quốc gia; có điều kiện tốt hơn các trọng tài viên trong việc tiến hành điều tra; có quyền cưỡng chế, triệu tập bên thứ ba đến tòa.

+ Các bên không phải trả thù lao cho thẩm phán, ngoài ra chi phí hành chính rất hợp lý.

Nhược điểm giải quyết bằng Tòa án

+ Thủ tục tố tụng tại tòa án thiếu linh hoạt do đã được pháp luật quy định trước đó;

+ Phán quyết của tòa án thường bị kháng cáo. Quá trình tố tụng có thể bị trì hoãn và kéo dài; có thể phải qua nhiều cấp xét xử; ảnh hưởng đến quá trình sản xuất, kinh doanh.

+ Nguyên tắc xét xử công khai của tòa án tuy là nguyên tắc được xem là tiến bộ; mang tính răn đe nhưng đôi khi lại là cản trở đối với doanh nhân khi những bí mật kinh doanh bị tiết lộ; và uy tín trên thương trường bị giảm sút.

>> Xem thêm:  Phân tích vai trò của thương mại quốc tế đối với doanh nghiệp, quốc gia ?

Đối với các tranh chấp thương mại có yếu tố nước ngoài thì:

+ Phán quyết của tòa án thường khó đạt được sự công nhận quốc tế. Phán quyết của tòa án được công nhận tại một nước khác thường thông qua hiệp định song phương hoặc theo nguyên tắc rất nghiêm ngặt.

+ Mặc dù thẩm phán quốc gia có thể khách quan; họ vẫn phải buộc sử dụng ngôn ngữ và áp dụng quy tắc tố tụng của quốc gia họ và thường cùng quốc tịch với một bên.

Luật Minh Khuê( sưu tầm và biên tập)