1.Khái niệm về thiết chế thương mại quốc tế 

Dưới góc dô của luật thưcng mại quốc tế, các thiết chế thương mại điổu chỉnh quan hô thương mại quốc tế được hiểu là các cơ quan, các tổ chức do các quốc gia thoả thuận xây dựng hoặc thừa nhận nhầm điểu chỉnh quan hộ thương mại giữa các bôn hữu quan.

Trong hối cành hôi nhập kinh tế quốc tế đang trở thành xu thế tất yếu. các thiết chế đ:ểu chình quan hê thương mại quốc tế càng có ý nghĩa quan ữọng. Tự do hoá thương mại ờ các cấp độ khác nhau dòi hỏi phải có nhiêu hơn những tổ chức, cơ quan với công cụ hữu hiôu là hô thống các vãn bàn pháp lí quốc tế làm cơ sở chc quan hê thương mại quốc tế ngày càng phát triển, đáp ứng dược lợi ích của cộng dóng các quốc gia. WTO, Liên minh châu Âu (EU), Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), Hiệp định vể khu vực mâu dịch tự do Bấc Mỹ (NAFTA)... ra đờ; là nhàm đáp ứng dòi hòi này.

Thực tiễn cùa sự phát triển quan hộ thương mại trên thế giới trong thời gian qua cho thấy vai trò khổng thể thiếu cùa các thiết chế thương mại quốc tế dặc biệt là cùa các tổ chức quốc tế liên chính phù đối với nển thương mại cùa thế giới nói chung và cùa mỗi quốc gia nói riẻng. Chính vì vậy, không thô’ không tiếp cận các thiết chế điểu chình thương mại quốc tế khi nghiên cứu vể luật thương mại quốc tế.

2.Lịch sử ra đời và phát triển 

Trong lịch sử quan hô quốc tế, các tổ chức quốc tế nói chung trong dó có các thiết chế thương mại quốc tế nói riêng hình thành tương đối sớm. Do nhiổu nguyẻn nhãn khác nhau mà những tổ chức quốc tế đầu tiên là nhừng tổ chức có tính chất phi chính phủ, có phạm vi hoạt đông hạn hẹp và vì mục đích nhãn đạo là chủ yếu.

Khi những tổ chức quốc tế liên chính phù đẩu tiên ra đời thì một trong những mục đích hoạt đóng cơ bản cùa chúng là đéu hướng vào lình vực hợp tác vồ kinh tế. Đặc biẹt, kổ từ sau Đại chiéh thế giới lần thứ n, các tổ chúc quốc tế kể cả tổ chức liên chính phủ và phi chính phù, các tổ chức chung và tổ chức chuyên môn có sự gia tảng mạnh mẽ cả vồ số lượng và quy mô.

Cơ sở hình thành và phát triển của các thiết chế thương mại quốc tế.

- Cơ sờ thực tê

Các quốc gia trẻn thế giới ở những mức độ khác nhau đổu có sự khác biỏt vé trình độ phát triển kinh tế, diểu kiên tự nhiên, thể chế chính trị... Bài học cùa viộc thực thi chính sách "tự cung tự cấp", "bế quan toả cảng" của một số quốc gia trong các thời kì khác nhau cho thấy hợp tác dể phát triển là thực tế mà không quốc gia nào thổ đứng ngoài. Vì vây, các thiết chế thương mại quốc tế ra đời, tón tại và phát triển chính là một trong những hình thức hợp tác hiệu quả thông qua việc điểu hoà, phối hợp lẹi ích giữa các thành viên. Mạt khác, ưong những thập nicn gần dây dặc biệt là sau khi kết thúc chiến tranh lạnh, quá trình quốc tế hoá đời sống kinh tế quốc tế diên ra rất mạnh mỗ: các quan hộ kinh tế quốc tế ngày càng phát triển da dạng, các vấn đé mang tính toàn cáu tác dộng đến lợi ích kinh tế của mỏi quốc gia xuất hiện ngày càng nhiểu đòi hòi sự phối hợp chặt chẽ hơn nừa của các quốc gia trong các tổ chức hoặc diên dàn thích hợp nhàm duy trì, ổn định và phát triển trật tự các quan hộ quốc tế nói chung và quan hộ kinh tê' quốc tế nói riêng. Thiết chế thương mại quốc tế chính là một trong những hình thức này. Như vậy, sự ra dời và phát triển :ủa các thiết chế thương mại quốc tế là tất yếu khách quan.

- Cơ sở pháp lí

Các thiết chế thương mại quốc tế ra đời trên cơ sờ các vãn bản pháp lí quốc tế do các quốc gia thoả thuận kí kết hoậc do các cơ quan có thầm quyển của một số tổ chức quốc tế liên chính phủ ban hành rihư các điổu ước quốc tế, các nghị quyết, các thoà thuận cuốc tế... Những vãn bàn này không chỉ là tiền dể cho sự ra đời của tổ chức, thiết chế mà nó thường bao góm cả nhũng quy định về cơ CẨU tổ chức, chức nàng quyền hạn của chính các thiết chẽ' đó. Ví dụ như; Liên hợp quốc ra đời trôn cơ sở cùa Hiến chương, ASEAN ra dời trên cơ sở cùa Tuyên bố 3ãng Cốc, Uỷ ban luật thương mại quốc tế cùa Liên hợp quốc (UNCITRAL) được thành lạp ngày 17/12/1966 theo Nghị quyết số 2205 (XXI) của Đại hội đồng liên hợp quốc... Với các tổ chức quốc tế liên chính phù, các vân bản pháp lí quốc tế này còn là một trong những cơ sờ xác định quyển nâng chù Ihé' luật quốc tế cùa chính những tổ chức đó.

3.Đặc điểm của các thiết chế thương mại quốc tế hiện nay

Xuất phát từ những nguyên nhấn như; Mục đích thành lập và hoạt dộng, tác động của xu thế khu vực hoá và toàn cáu hoá... nôn so với các tổ chức quốc tế khác, các thiết chế thương mại quóc tế hiộn nay thường có một số đàc điểm dặc trưng sau:

- Sự da dạng vế hình thức tổ chức

Để đáp ứng nhu cầu và lợi ích kinh tế của mình, các thực thể tham gia quá ưình hợp tác quốc tế có xu hưóng tạo lập ra nhiổu "mô hình" tổ chức rất phong phú. Bên cạnh các tổ chức kinh tế quốc tế lien chính phủ, tổ chức phi chính phù, tổ chức có quy mô toàn cẩu (Liên hợp quốc, Tổ chức thương mại thế giới....), tổ chức khu vực (Liên minh châu Ảu, Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á...) còn xuất hiên cà những hình thức mới như Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC). Ngoài ra, trong khuôn khổ của các tổ chức quốc tế liên chính phủ mà hoạt dộng của nó bao trùm trôn nhiéu lĩnh vực khác nhau (tô chức quốc tế chung), dể thực hiên mục tiêu hợp tác trong lĩnh vực kinh tế thương mại, trong cơ cấu của những tổ chức này còn có nhũng cơ 'quan chuyên thực hiên chức nâng phôi hợp hoạt động giữa các thành viôn trong lĩnh vực kinh tế như Hội dồng kinh tế - xã hôi, Uỷ ban luật thương mại quốc tế, Hội nghị VC hợp tác và phát tríổn... cùa Liên hợp quốc, Hôi đổng AFTA, Hội đổng AIA, Hội nghị bộ trưởng kinh tế của ASEAN...

-     Sự đa dạng vé thành viên

Sự gia tâng về sô' lượng CỂC thiết chỗ' thương mại quốc tế và số lượng thành viên của mỗi thiết chế cho thấy những khác biệt vể trình độ phát triển kinh tế, vé khu vực địa lí, về quan điểm chính trị giữa các quốc gia đã khỡng còn bị coi là "rào cản" không thể vưọt qua khi hôi nhập vào các thiết chế quốc tế này. "Hiên tượng" này có thể gáp không chi ờ những tổ chức toàn cẩu mà còn ngay cả ữong một sô' tổ chức quốc tế khu vực. Điển hình như đối vói ASEAN, trong các thành viên cùa tổ chức này có cả những quốc gia rất phát triển như Singapore và có quốc gia đang phát triển như Việt Nam, Lào, Câmpuchia... có quốc gia đang thực hiện nen kinh tế chuyển đổi (Việt Nam) và các quốc gia đã có nền kinh tế thị trường "truyền thống" (Thái Lan, Singapore)... Hơn nữa, quy chê' cùa một sô' thiết chế thương mại quốc tế còn cho phép cả những thực thể phi quốc gia nếu đáp ứng dược các quy định vổ tiêu chuẩn thành viên thì hoàn toàn có thể trờ thành hội viên của những thiết chế này (như trường hợp Hổng Kông, Ma Cao là thành viên cùa WTO). Đây là diều khó có thể được chấp nhận trong các tổ chức quốc tế liên chính phù khác mà hợp tác kinh tê' thương mại không chì là mục tiôu duy nhất.

-     Mối quan hệ gắn kết giữa các thiết chê’ thương mại quốc tê'

Các thiết chế thưong mại quốc tê' có mối liôn hộ ngày càng chặt chẽ với nhau khôr.g chỉ ờ cấp độ tổ chức, thành viên mà còn trong cà lình vục hoạt dộng. Mối quan hộ này đặc biệt được thể hiện rất rộ trong quan hê giữa Liên hợp quốc với các tổ chức chuyên môn thuộc hê thống Liên hợp quốc, giữa Liên hợp quốc và một số tổ chức khu vực. Đứng trước xu thế khu vực hoá và toàn cẩu hoá ngày càng gia tâng, có thể nói hiện nay khổng có quốc gia nào trén the giới lại không phải là thành viên cùa một tổ chức quốc tế nào dó. Xuất phát từ mục đích tâng cường hiệu quả hoạt đông của mỗi tổ chức quốc tế, mặt khác viôc đổng thời là thành vièn của các tổ chức quốc te khác nhau cũng là một trong những nguyên nhân dần đến sự đan xen các hoạt dông, các thoả thuận, cam kết liôn quan đến quyén và nghĩa vụ của các quốc gia thành viên và cả các tổ chức quốc tế hữu quan.

Với chủ trương "Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế", Việt Nam không chi là thành viên cùa Liên hợp quốc mà còn tham gia vào các tổ chức toàn cáu như Ngân hàng thô' giới (WB). Tổ chức lương thực và nông nghiệp quốc tế (FAO)... các tổ chức khu vực như: ASEAN, APEC... và dã gia nhập vào WTO.

4.Vai trò của thiết chế thương mại quốc tế 

Cùng với sự phát triển cùa các quan hộ quốc tế, các thiết chê' thương mại quốc tế đóng vai ưò ngày càng quan trọng đối với sự phát triển cùa nển kinh tế thế giới nói chung và nổn kinh tế cùa các quốc gia nói riông. Vai trò của những thiết chế này được thể hiện trên những lĩnh vực cơ bản như:

Hoạt động của các thiết chế thương mại góp phần hài hoà lợi ích kinh tế giữa các thành viên thông qua việc phối hợp hành động, bổ sung, hoàn thiên các kế hoạch hợp tác kinh tế, rút ngấn khoảng cách phát triển giữa các nước, giải quyết hiôu quả hơn các vấn đé mang tính toàn cáu hiện nay như: vấn đổ mỏi trường, an ninh lương thực, nâng lượng...

Các thiết chẽ’ thương ,mại có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc đàm phán và kí kết các điểu ước quốc tê' ờ cấp dộ 72 khu Vực cũng như toàn cầu rhẳm xây dựng và hoàn thiộn khuôn khố pháp luật quốc tê' nói chung và pháp luật thương mại quớc tế nói riêng, thúc đây tiến trình toàn cáu hoá diẽn ra nhanh hơn;

Đối với các tranh chấp phát sinh trong quá trình hợp tác kinh tế, cơ chê' giải quyết ưanh chấp của các thiết chế thương mại quốc tế như WT0, EƯ, ASEAN... là một trong những đảm bảo pháp lí cho quyển và lợi ích hợp pháp cùa các thành viên.

5.Sự hình thành của thương mại quốc tế

So với trong nước, thương mại quốc tế ra đời muộn hơn. Điều này có nghĩa là thương mại quốc tế chỉ hình thành khi các quốc gia đã ra đời, các quốc gia đã tham gia vào các mối quan hệ thương mại và các quốc gia thấy cần thiết phải có các quy định điều chỉnh các mối quan hệ quốc tế về thương mại nhằm thúc đẩy sự phát triển của thương mại quốc tế. Để điều chỉnh các mối quan hệ về thương mại, các quốc gia phải cùng nhau xây dựng các nguyên tắc, các quy phạm pháp luật quốc tế để quy định quyền và nghĩa vụ cụ thể đối với nhau trong mối quan hệ quốc tế. Sự hình thành thương mại quốc tế là yêu cầu có tính khách quan. Mặc dù thương mại quốc tế đã xuất hiện từ lâu trong lịch sử loài người, tầm quan trọng kinh tế, xã hội và chính trị của nó mới được để ý đến một cách chi tiết trong vài thế kỷ gần đây.

Luật Minh Khuê ( sưu tầm và biên tập)