1. Khái quát cơ chế bảo Hiến ở Châu Âu

Tòa án Hiến pháp được thành lập sớm nhất ở Áo (1920). Cho đến nay, đa số các quốc gia châu Âu đều áp dụng mô hình bảo hiến này.

Mô hình bảo hiến kiểu châu Âu có một số đặc điểm sau đây:

- Hoạt động bảo hiến được thực hiện chủ yếu thông qua cơ quan bảo hiến chuyên trách (Tòa án Hiến pháp, Hội đồng bảo hiến). Cơ quan này có vị trí tương đối độc lập với các cơ quan thuộc nhánh quyền lực lập pháp, hành pháp và tư pháp, có chức năng giám sát Hiến pháp, gồm những Thẩm phán có trình độ cao được bổ nhiệm hoặc bầu theo thủ tục đặc biệt;

- Giám sát Hiến pháp theo mô hình kiểu châu Âu vừa là giám sát cụ thể, vừa là giám sát trừu tượng; thực hiện cả giám sát trước và giám sát sau. Việc xem xét tính hợp Hiến của một đạo luật có thể gắn liền với việc giải quyết một vụ việc cụ thể nào đó, những cũng có thể được tiến hành khi có đề nghị của chủ thể có thẩm quyền (Tổng thống, Thủ tướng, các nghị sỹ, Thanh tra Nghị viện…);

- Thẩm quyền giám sát Hiến pháp được thực hiện theo một thủ tục đặc biệt, khác với thủ tục giải quyết vụ việc thông thường tại Tòa án tư pháp;

- Phán quyết của cơ quan bảo hiến là chung thẩm và có hiệu lực bắt buộc đối với các chủ thể kể từ khi một quy phạm, một chế định hoặc một văn bản nào đó bị tuyên bố là vi Hiến.

2. Khái quát về Tòa án Hiến pháp Cộng hòa Áo

Toà án Hiến pháp Áo được xây dựng trên nền tảng của học thuyết về mô hình giám sát tư pháp Hiến pháp (Constitutional Judicial Review) với đặc trưng điển hình là có vị trí pháp lý, cơ cấu tổ chức riêng và hoạt động hoàn toàn độc lập với ba nhánh quyền lực nhà nước. Đây là đại diện tiêu biểu cho mô hình Châu Âu (hay còn gọi là mô hình Áo) - một trong ba loại mô hình điển hình của chế định cơ quan bảo hiến tồn tại cho đến ngày nay. “Chế định này đã lan truyền rộng rãi, đ¬ược khẳng định ở các nước Châu Âu, ở nhiều quốc gia mới thành lập sau Đại chiến thế giới lần thứ hai tại Châu Á, Châu Phi, Châu Mỹ La tinh, ở các nước Đông Âu, các nước đang phát triển mà trước đó, chế định này hoặc bị huỷ bỏ hoặc không hề tồn tại.”[1]

Cộng hoà Áo được thành lập năm 1918 sau sự sụp đổ nền quân chủ Áo - Hung. Trong Chiến tranh thế giới lần thứ nhất, đất nước Áo bị phát xít Đức chiếm đóng, đến năm 1955, sau khi bản Hòa ước quốc gia Áo và bốn nước đồng minh được ký kết thì nước Áo mới chính thức tuyên bố là một quốc gia độc lập, có chủ quyền lãnh thổ và trung lập vĩnh viễn.

Bản Hiến pháp đầu tiên của nước Áo ra đời năm 1920, là cơ sở pháp lý tối cao cho việc ra đời Nhà nước Cộng hoà tổng thống Liên bang Áo và thiết lập ba hệ thống cơ quan quyền lực theo thuyết “tam quyền phân lập” với quyền lập pháp thuộc về Nghị viện, quyền hành pháp thuộc về Chính phủ liên bang, Chính phủ bang và quyền tư pháp thuộc hệ thống toà án. Toà án Hiến pháp Áo là sản phẩm pháp lý được phái sinh trên cơ sở của bản Hiến pháp đó. Nó được xây dựng trên nền tảng của học thuyết về mô hình giám sát tư pháp Hiến pháp(Constitutional Judicial Review) của học giả, luật sư nổi tiếng người Đức là Hans Kelsen. Cùng sự phát triển và đổi thay của đất nước, chế định Toà án Hiến pháp Áo cũng có sự thay đổi theo, đặc biệt vào các năm 1929, 1975, 1981 và 1984.

3. Vị trí của Toà án Hiến pháp Áo

Không như các nước theo mô hình giám sát Hiến pháp tư pháp kiểu Mỹ (American Mode)với quy định Toà án Hiến pháp thuộc nhánh quyền lực tư pháp mà ở đó “bất cứ toà án nào cũng có quyền  kiểm tra tính hợp hiến của văn bản quy phạm pháp luật”[2]; cũng không như ở các nước theo mô hình hỗn hợp mà ở đó thẩm quyền giám sát hiến pháp được thực hiện bởi các cơ quan nhà nước khác nhau như Nghị viện, Hội đồng nhà nước hoặc một cơ quan đặc biệt của Nghị viện mà không có một cơ quan bảo hiến chuyên trách được thành lập (như Việt Nam, Trung Quốc), Toà án Hiến pháp Áo được quy định là một cơ quan chuyên trách có cơ cấu, tổ chức và hoạt động hoàn toàn độc lập và được đánh giá như là một “nhánh quyền lực thứ tư” trong hệ thống các cơ quan quyền lực nhà nước Cộng hoà Áo.

Để đảm bảo vị trí độc lập này, Hiến pháp và Luật liên bang phần Toà án Hiến pháp (Verfassungsgerichtshofgesetz – VfGG) có rất nhiều quy định mang tính đảm bảo về con đường hình thành thẩm phán, quá trình ra quyết định và giá trị pháp lý của các quyết định, quản lý nhân sự cũng như về nguồn kinh phí để duy trì hoạt động của Toà án Hiến pháp. Ví dụ, trong Hiến pháp 1920 quy định “việc quản lý nhân sự (hành chính) và ngân sách trên thực tế của Toà án Hiến pháp Áo thuộc quyền của Tổng thống Liên bang; nhân viên của Toà án Hiến pháp do Tổng thống bổ nhiệm; ngân sách do Viện Dân tộc quyết định trong khuôn khổ ngân sách hằng năm của Liên bang” [3].

4. Vai trò của Toà án Hiến pháp Áo

 Như các cơ quan bảo hiến ở các nước khác trên thế giới, Toà án Hiến pháp Áo là một cơ quan có vai trò “đảm bảo sự ổn định và tính tối cao của Hiến pháp, sự tuân thủ những mối quan hệ hữu cơ giữa các cơ quan quyền lực nhà nư¬ớc, bảo vệ những quyền và tự do hiến định của con người”[4] Vai trò to lớn này được thể hiện thông qua những quy định về chức năng, nhiệm vụ và hoạt động của Toà án Hiến pháp Áo.

Hiến pháp Áo quy định: “Nhằm ngăn ngừa sự xung đột quyền lực, Toà án Hiến pháp được trao quyền quyết định một vấn đề của lập pháp hoặc hành pháp là thuộc về Liên bang hay thẩm quyền các bang” (Khoản 2 Điều 138); Toà án Hiến pháp Áo có quyền quy trách nhiệm pháp lý (cách chức hoặc truy tố trách nhiệm hình sự) các cơ quan tối cao của Liên bang (Tổng thống, các thành viên Chính phủ) hoặc của các bang (Điều 142 và 143).

5. Cơ sở pháp lý, số lượng thành viên và nguyên tắc hình thành

Theo quy định của Hiến pháp Áo năm 1920 thì Toà án Hiến pháp Áo có tổng cộng 18 thành viên, gồm 12 Thẩm phán chính thức (Members), trong đó có  một Chánh án (a President); một Phó Chánh án (a Vice - President); và 06 thẩm phán dự khuyết (Substitute Members) - người sẽ thay thế thẩm phán chính thức khi vắng mặt.

Trong số các Thẩm phán chính thức trên (trừ Chánh án), Toà án sẽ chỉ định ra 09 Thẩm phán chuyên làm công tác soạn thảo (reporting judges – Standige Referenten) với nhiệm kỳ ba năm và mỗi người trong số họ có ít nhất là hai (chủ yếu là ba) thư ký luật (law clerk) để giúp việc cho mình.

Nguyên tắc hình thành

 Kể từ 1920 cho đến năm 1929, 18 thành viên của Tòa án Hiến pháp Áo đều được Viện Dân tộc (National Council) và Viện Liên bang (Federal Council) chỉ định, mỗi Viện được chỉ định 09 thành viên. 

Từ lần sửa đổi Hiến pháp năm 1929 đến nay, các thành viên của Toà án Hiến pháp Áo được Tổng thống Liên bang bổ nhiệm trên cơ sở có sự đề nghị của Chính phủ liên bang, Viện Dân tộc và Viện Liên bang.

6. Sự khác biệt cơ bản giữa mô hình bảo hiến kiểu châu Âu và mô hình bảo hiến kiểu Mỹ

Những đặc điểm này cho thấy sự khác biệt cơ bản giữa mô hình bảo hiến kiểu châu Âu và mô hình bảo hiến kiểu Mỹ. Sự khác biệt này có thể được lý giải bằng một số nguyên nhân sau đây:

Một là, nhận thức về các đạo luật. Nếu như trong hệ thống pháp luật Anh – Mỹ, thực tiễn xét xử của các Tòa án là một nguồn luật cơ bản, chủ yếu thì đối với các nước châu Âu lục địa, luật thành văn có giá trị rất quan trọng và được coi là nguồn luật cơ bản chỉ đứng sau Hiến pháp), các đạo luật phải phù hợp với Hiến pháp. Do đó, Tòa án trong thực tiễn xét xử của mình không thể phán xét về tính hợp Hiến của các đạo luật. Chức năng này phải do một cơ quan có thẩm quyền cao hơn thực hiện;

Hai là, các nước châu Âu lục địa quan niệm rằng Thẩm phán Tòa án tư pháp cũng giống như các quan chức hành chính khác, khó có thể cưỡng lại sức ép từ cơ quan lập pháp và hành pháp, do đó không thể đưa ra phán quyết đúng đắn về tính hợp Hiến của văn bản cũng như hành vi do cơ quan lập pháp, hành pháp ban hành hoặc thực hiện;

Ba là, ở châu Âu, các Thẩm phán Tòa án tư pháp có sự chuyên môn hóa cao, do đó tầm nhìn của họ thường bị giới hạn trong lĩnh vực chuyên môn hẹp, không như Thẩm phán ở Anh, Mỹ. Mô hình tài phán Hiến pháp của Mỹ chỉ phù hợp với trường hợp không có sự chuyên môn hóa cao như ở châu Âu;

Bốn là, nếu như ở Mỹ, Nghị viện không thể một mình thay đổi luật mà cần phảo có chế định về quyền phủ quyết của Tổng thống và của Tòa án Tối cao thì ở các nước châu Âu, việc sửa một đạo luật đối với Nghị viện khá đơn giản, chỉ cần được các nghị sĩ tán thành theo tỷ lệ đa số thường. Với tỷ lệ tán thành đó, Nghị viện có thể phủ quyết luôn cả phán quyết của Tòa án.

Trong số các quốc gia châu Âu áp dụng mô hình cơ quan bảo hiến chuyên trách, Hội đồng bảo hiến là thiết chế bảo hiến có một số điểm riêng biệt. Hiện nay, giữa các nhà nghiên cứu còn đang tranh luận về ranh giới để phân biệt mô hình này với mô hình kiểu châu Âu truyền thống. Theo nhà Hiến pháp học người Pháp L.Favoreu, Hội đồng bảo hiến không khác Tòa án Hiến pháp về thành phần và thẩm quyền hoạt động. Tuy nhiên, có quan điểm coi đây là mô hình tổ chức cơ quan bảo hiến riêng (gọi là mô hình bảo hiến kiểu Pháp – The “French” Model) và cho rằng Hội đồng bảo hiến (hay các thiết chế tương tự) chỉ là các cơ quan bán tư pháp, hoạt động chủ yếu dựa trên các thủ tục tố tụng, thiếu tính tranh luận và công khai. Trong mô hình này, quyền giám sát Hiến pháp được giao tập trung và được thực hiện theo một thủ tục đặc biệt. Giám sát Hiến pháp chủ yếu là giám sát trước, có cả giám sát quyết định và giám sát có tính chất tư vấn. Hệ thống này thường có hoạt động giám sát mang tính bắt buộc, đặc biệt là các vấn đề liên quan đến các luật về tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, quy chế hoạt động của Nghị viện, các vụ tranh chấp, khiếu kiện về bầu cử. Quyết định của Hội đồng bảo hiến là chung thẩm và có hiệu lực pháp lý bắt buộc. Ngoài Pháp, một số nước như Algeria, Comoros, Djibouti, Morocco, Bờ Biển Ngà, Mozambic… cũng lựa chọn cách tổ chức cơ quan bảo hiến chuyên trách theo mô hình này.

Ghi chú:

[1] ThS. Nguyễn Đức Lam, Cơ quan bảo vệ Hiến pháp ở một số nước”, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp số 7/2001.

[2] TS. Vũ Hồng Anh, Giám sát Hiến pháp, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp số 12/2003

[3] Chuyên đề tổ chức, hoạt động Toà án Hiến pháp ở một số nước, Thông tin khoa học pháp lý, số 4/1991, tr. 26.

[4] Nguyễn Đức Lam, Tlđd

Bài viết tham khảo:

1. Mô hình Tòa án Hiến pháp ở Cộng hòa Áo; Bùi Huy Tùng, Ths. Học viện Hành chính;

2. Mô hình bảo hiến kiểu châu Âu: Giám sát tập trung; Quỳnh Nhi – Báo Điện tử Đại Biểu Nhân Dân.