1. Khái niệm các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân
Khi quy định trách nhiệm hình sự cũng như nghiên cứu về các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân, vấn đề cơ bản và đầu tiên cần được giải quyết là phải đưa ra khái niệm các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân. Tuy nhiên, BLHS nước ta quy định về các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân nhưng lại không nêu định nghĩa về loại tội phạm này. Theo chúng tôi, các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân là một loại tội phạm được quy định trong BLHS.
Do vậy, khái niệm các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân cũng bao gồm các những dấu hiệu chung của khái niệm tội phạm. Theo đó, các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân là những hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong BLHS do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách có lỗi và phải chịu hình phạt. Có thể hiểu: Các tội xâm phạm hoạt động quân sự là những hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định tại Chương XXIII Bộ luật hình sự, do quân nhân tại ngũ; quân nhân dự bị trong thời gian tập trung huấn luyện, công dân được điều động hoặc trưng tập vào phục vụ trong quân đội; dân quân, tự vệ trong thời gian huấn luyện hoặc phối thuộc với quân đội trong chiến đấu hoặc phục vụ chiến đấu, có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm chế độ hoạt động trong quân đội.
2. Khái quát quy định về các tội xâm phạm chế độ kỷ luật chiến đấu
Các tội xâm phạm chế độ kỷ luật chiến đấu bao gồm: tội đầu hàng địch, tội khai báo hoặc tự nguyện làm việc cho địch khi bị bắt làm tù binh, tội bỏ vị trí chiến đấu, tội vi phạm chính sách đối với thương binh, tử sỹ trong chiến đấu, tội chiếm đoạt hoặc huỷ hoại chiến lợi phẩm và tội ngược đãi tù binh, hàng binh; được quy định tại các Điều 322, 323, 324, 336, 337 và 340 BLHS. Các tội phạm này được quy định trong pháp luật hình sự của tất cả các nước có tổ chức quân đội không phụ thuộc vào chế độ chính trị của Nhà nước. BLHS Vương quốc Thuỵ Điển quy định các hành vi sau đây thuộc nhóm các tội xâm phạm chế độ kỷ luật chiến đấu: khai báo tin tức cho địch; ở lại lãnh thổ của kẻ thù; giao nộp cho kẻ thù vị trí chiến đấu, phương tiện chiến tranh; nộp mạng chính mình hoặc đơn vị mình cho địch; không thực hiện nhiệm vụ trong chiến đấu.
Theo quy định của BLHS nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa, thì các hành vi phạm tội xâm phạm chế độ kỷ luật chiến đấu bao gồm: tự động bỏ vũ khí đầu hàng; tháo chạy khi lâm trận; khi ở trong chiến trường biết chiến sỹ ở đơn vị khác gặp nguy hiểm yêu cầu cứu viện, có khả năng mà không cứu viện; khi thi hành nhiệm vụ chiến đấu, rời bỏ vị trí phản bội chạy ra nước ngoài hoặc ở nước ngoài làm những việc gây nguy hại đến lợi ích quân sự của Nhà nước; khi thi hành nhiệm vụ chiến đấu, điều khiển máy bay, chiến thuyền phản bội, bỏ chạy; cố ý bỏ rơi quân nhân bị bệnh trong chiến trường; không cứu chữa quân nhân bị thương trong chiến trường; tàn sát người dân vô tội hoặc cướp bóc tài sản trong khu vực có chiến sự; ngược đã tù binh. BLHS Liên bang Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Xô viết Nga trước đây cũng quy định trách nhiệm hình sự đối với một loạt hành vi xâm phạm chế độ kỷ luật chiến đấu như: bỏ vị trí chiến đấu, giao nộp hoặc để lại cho địch phương tiện chiến đấu; bỏ trận chiến hoặc từ chối thực hiện hành động chiến đấu; tự nguyện làm tù binh; tự nguyện làm việc cho địch khi bị bắt làm tù binh; chiếm đoạt tài sản của người bị thương hoặc bị chết trong trận chiến; tàn sát hoặc cướp bóc tài sản của dân thường trong khu vực có hành động quân sự; đối xử tàn ác với tù binh.
Nghiên cứu quy định của BLHS về các tội xâm phạm kỷ luật chiến đấu, chúng tôi thấy:
- Tội bỏ vị trí chiến đấu là hành vi bỏ vị trí chiến đấu hoặc không làm nhiệm vụ trong chiến đấu. Trong đó: bỏ vị trí chiến đấu là hành vi tự ý bỏ vị trí chiến đấu đã được phân công mà không được phép của người chỉ huy có thẩm quyền; không làm nhiệm vụ trong chiến đấu là hành vi của người đang làm nhiệm vụ chiến đấu tuy vẫn có mặt ở vị trí chiến đấu nhưng không làm nhiệm vụ được phân công. Như vậy, tên tội danh là “bỏ vị trí chiến đấu” không bao quát hết các hành vi khách quan được mô tả tại khoản 1 Điều này.
- Về tội đầu hàng địch và tội bỏ vị trí chiến đấu, thì tại điểm b khoản 2 của các Điều 322 và 324 BLHS quy định “Giao nộp tài liệu quan trọng cho địch, bỏ tài liệu quan trọng” là những tình tiết tăng nặng định khung hình phạt. Theo hướng dẫn tại Thông tư liên tịch số 01/2003/ TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BTP-BQP ngày 11/8/2003 của TAND tối cao, VKSND tối cao, Bộ Công an, Bộ Tư pháp, Bộ Quốc phòng hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Chương XXIII “Các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân” của BLHS năm 1999, thì “Tài liệu quan trọng" được hiểu là tài liệu bí mật công tác quân sự hoặc tuy không phải là tài liệu bí mật công tác quân sự nhưng ảnh hưởng lớn đến việc đảm bảo hoàn thành nhiệm vụ của đơn vị. Ví dụ: tài liệu về tổ chức, biên chế, trang bị, kế hoạch công tác của đơn vị, các tài liệu đảm bảo cho hoạt động của đơn vị v.v...[11] Cho nên, không thể áp dụng điểm b khoản 2 của các Điều 322 và 324 BLHS đối với trường hợp giao nộp cho địch tài liệu bí mật nhà nước khi đầu hàng địch hoặc bỏ tài liệu bí mật nhà nước khi bỏ vị trí chiến đấu. Nhưng tại Điều 263 BLHS lại chưa quy định là tội phạm trường hợp giao nộp cho địch tài liệu bí mật nhà nước khi đầu hàng địch hoặc bỏ tài liệu bí mật nhà nước khi bỏ vị trí chiến đấu.
- Tội vi phạm chính sách đối với thương binh, tử sỹ trong chiến đấu được quy định tại Điều 336 BLHS như sau:
“1. Người nào có trách nhiệm mà cố ý bỏ thương binh, tử sĩ tại trận địa hoặc không chăm sóc, cứu chữa thương binh gây hậu quả nghiêm trọng, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm.
2. Phạm tội gây hậu quả rất nghiêm trọng thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.
3. Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ năm năm đến mười năm.
4. Người nào chiếm đoạt di vật của tử sĩ, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm.”
Như vậy, tại Điều 336 BLHS quy định hai nhóm hành vi phạm tội vi phạm chính sách đối với thương binh, tử sỹ trong chiến đấu là: cố ý bỏ thương binh, tử sĩ tại trận địa hoặc không chăm sóc, cứu chữa thương binh; và chiếm đoạt di vật của tử sĩ. Chủ thể của nhóm hành vi bỏ thương binh, tử sĩ tại trận địa hoặc không chăm sóc, cứu chữa thương binh là người có trách nhiệm trong việc: chuyển hoặc tổ chức vận chuyển thương binh, tử sỹ ra khỏi trận địa; chăm sóc, cứu chữa hoặc tổ chức chăm sóc, cứu chữa thương binh. Còn chủ thể của hành vi chiếm đoạt di vật của tử sỹ là bất cứ người nào được quy định tại Điều 315 BLHS có năng lực trách nhiệm hình sự. Hành vi không chăm sóc, cứu chữa thương binh có thể xảy ra cả trong chiến đấu, trên trận chiến và trong quá trình phục vụ chiến đấu ở hậu cứ nhưng tên tội danh quy định tại Điều 336 BLHS chỉ giới hạn không gian hành vi bị truy cứu trách nhiệm hình sự là “trong chiến đấu”. Đối tượng tác động của hành vi bỏ thương binh, tử sĩ tại trận địa hoặc không chăm sóc, cứu chữa thương binh là tính mạng, sức khoẻ thương binh và thi hài tử sỹ. Trong khi đối tượng tác động của hành vi chiếm đoạt di vật của tử sỹ là “những vật của tử sỹ để lại tuy không có giá trị về tài sản hoặc giá trị về tài sản không đáng kể, nhưng lại có giá trị về tinh thần đối với thân nhân của tử sỹ như ảnh, huân chương, huy chương, nhật ký...”
Trách nhiệm hình sự đối với hành vi cố ý bỏ thương binh, tử sĩ tại trận địa hoặc không chăm sóc, cứu chữa thương binh được quy định tại khoản 1, 2 và 3; còn trách nhiệm hình sự đối với hành vi chiếm đoạt di vật của tử sĩ được quy định tại khoản 4 Điều luật này. Như vậy, về kỹ thuật lập pháp thì việc quy định hai nhóm hành vi nguy hiểm cho xã hội có đối tượng tác động và chủ thể khác nhau vào cùng một điều luật với cùng một tên tội danh là không hợp lý. Sự bất hợp lý này còn dẫn tới hệ quả không đồng bộ với quy định tại Điều 47 BLHS về việc quyết định hình phạt nhẹ hơn. Bởi vì, tại Điều 336 BLHS quy định bốn khung hình phạt, trong đó khoản 1 là tình tiết định tội “vi phạm chính sách đối với thương binh, tử sỹ trong chiến đấu” đối với hành vi cố ý bỏ thương binh, tử sỹ tại trận địa hoặc không chăm sóc, cứu chữa thương binh gây hậu quả nghiêm trọng; khoản 2 và 3 là những tình tiết tăng năng định khung hình phạt đối với hành vi phạm tội nêu trên; khoản 4 là tình tiết định tội “vi phạm chính sách đối với thương binh, tử sỹ trong chiến đấu” đối với hành vi chiếm đoạt di vật của tử sỹ. Hình phạt quy định tại khoản 3 nặng hơn hình phạt quy định tại khoản 4. Vậy, khi xử phạt bị cáo về tội vi phạm chính sách đối với thương binh, tử sỹ trong chiến đấu theo quy định tại khoản 4 Điều 336 và trong trường hợp áp dụng Điều 47 BLHS thì có thể quyết định hình phạt theo mức quy định tại khoản 3 điều luật này hay không? Nếu có, thì đây là trường hợp quyết định hình phạt nặng hơn quy định của BLHS chứ không phải là “quyết định hình phạt nhẹ hơn quy định của BLHS” như quy định tại Điều 47 BLHS.
- Tại Điều 340 BLHS cũng chỉ mới quy định “Người nào ngược đãi tù binh, hàng binh, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm” mà không mô tả hành vi ngược đãi tù binh, hàng binh. Trong khi đó, Công ước Geneve ngày 12/8/1949 về cách đối xử với tù binh quy định: “Trong mọi trường hợp, bản thân và danh dự của tù binh phải được quyền tôn trọng. Mọi hành vi hoặc mọi bất động bất hợp pháp của quốc gia giam giữ làm thiệt mạng hoặc làm phương hại trầm trọng đến sức khoẻ của một tù binh thuộc quyền họ đều bị cấm chỉ và coi như là một sự vi phạm nặng nề đối với Công ước này. Đặc biệt là không được huỷ hoại thân thể một tù binh hoặc dùng họ để thí nghiệm về y học hay khoa học, dưới bất cứ hình thức nào nếu cuộc thí nghiệm đó không phải là để điều trị cho tù binh đương sự hoặc vì lợi ích của chính bản thân họ. Các tù binh lúc nào cũng phải được bảo vệ, nhất là đối với những hành vi bạo hành hay đe doạ và đối với sự lăng nhục và sự hiếu kỳ của dân chúng. Cấm thi hành những biện pháp trả thù đối với tù binh.”. Nghiên cứu pháp luật hình sự một số nước, thấy: BLHS nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa quy định “ngược đãi tù binh, có tình tiết xấu thì bị phạt đến 3 năm tù.”; BLHS Liên bang Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Xô viết Nga quy định “Nhiều lần ngược đãi hoặc đối xử tàn ác hoặc hành vi chống lại tù binh ốm, bị thương, cũng như không thực hiện nghĩa vụ của mình trong việc cứu chữa, chăm sóc tù binh bị ốm, bị thương nếu không có dấu hiệu của tội nặng hơn, thì bị phạt tù từ một năm đến ba năm.” Theo chúng tôi, BLHS nước ta cũng nên mô tả hành vi ngược đãi tù binh, hàng binh là gì. Hình phạt đối với người phạm tội ngược đãi tù binh cũng cần được quy định tương đồng với quy định của pháp luật hình sự các nước trên thế giới.
Để khắc phục những bất cập nêu trên, theo chúng tôi, cần hoàn thiện dấu hiệu cấu thành tội phạm của tội bỏ vị trí chiến đấu, tội vi phạm chính sách đối với thương binh, tử sĩ trong chiến đấu, tội ngược đãi tù binh, hàng binh. Cụ thể như sau:
- Tội bỏ vị trí chiến đấu cần hoàn thiện theo hướng: đặt tên tội danh là “Tội bỏ vị trí chiến đấu hoặc không làm nhiệm vụ trong chiến đấu”; quy định “hành vi tự ý rời bỏ hoặc không có mặt ở vị trí chiến đấu một cách trái phép hoặc không làm nhiệm vụ trong chiến đấu” là dấu hiệu định tội. Điều luật quy định về tội phạm này có thể là:
“Điều... Tội bỏ vị trí chiến đấu hoặc không làm nhiệm vụ trong chiến đấu
1. Người nào tự ý rời bỏ vị trí chiến đấu một cách trái phép hoặc không có mặt ở vị trí chiến đấu đã được phân công mà không có lý do chính đáng hoặc không làm nhiệm vụ trong chiến đấu, thì bị phạt....”
- Tội vi phạm chính sách đối với thương binh, tử sĩ trong chiến đấu cần tách thành hai tội là: tội cố ý bỏ thương binh, tử sĩ tại trận địa hoặc không chăm sóc, cứu chữa thương binh và tội chiếm đoạt hoặc huỷ hoại di vật của tử sỹ hoặc tài sản của thương binh. Trong đó:
+ Tội cố ý bỏ thương binh, tử sĩ tại trận địa hoặc không chăm sóc, cứu chữa thương binh là hành vi cố ý bỏ thương binh, tử sĩ tại trận địa hoặc không chăm sóc, cứu chữa thương binh do những người có trách nhiệm trong việc chuyển hoặc tổ chức vận chuyển thương binh, tử sỹ ra khỏi trận địa hoặc chăm sóc, cứu chữa thương binh thực hiện. Tên tội danh và cấu thành cơ bản của tội phạm này có thể như sau:
“Điều... Tội cố ý bỏ thương binh, tử sĩ hoặc không chăm sóc, cứu chữa thương binh
1. Người nào có trách nhiệm mà cố ý bỏ thương binh, tử sĩ tại trận địa hoặc không chăm sóc, cứu chữa thương binh gây hậu quả nghiêm trọng, thì bị phạt....”
+ Tội chiếm đoạt hoặc huỷ hoại di vật của tử sỹ hoặc tài sản của thương binh là hành vi chiếm đoạt hoặc huỷ hoại đồ vật của thương binh, tử sỹ không thuộc một trong các trường hợp quy định tại Chương “Các tội xâm phạm sở hữu”. Tên tội danh và cấu thành cơ bản của tội phạm này có thể như sau:
“Điều... Tội chiếm đoạt hoặc huỷ hoại di vật của tử sỹ hoặc tài sản của thương binh trong chiến đấu
1. Người nào chiếm đoạt hoặc huỷ hoại di vật của tử sỹ hoặc tài sản của thương binh trong chiến đấu nếu không thuộc một trong các trường hợp quy định tại Chương “Các tội xâm phạm sở hữu” thì bị phạt...”
- Tội ngược đãi tù binh là hành vi xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự; hành hung hoặc không thực hiện nghĩa vụ của mình trong việc cứu chữa, chăm sóc tù binh bị ốm, bị thương gây hậu quả nghiêm trọng. Cho nên, tên tội danh và cấu thành cơ bản của tội phạm này có thể như sau:
“Điều… Tội ngược đãi tù binh, hàng binh
1. Người nào xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự; hành hung hoặc không thực hiện nghĩa vụ của mình trong việc cứu chữa, chăm sóc tù binh, hàng binh bị ốm, bị thương gây hậu quả nghiêm trọng, thì bị phạt...”
Nước ta đã gia nhập các Công ước Gieneve ngày 12/8/1949 (bao gồm: Công ước về việc cải thiện số phận của những thương nhân và bệnh nhân của các lực lượng vũ trang trên chiến trường; Công ước về cải thiện số phận của những thương nhân, bệnh nhân và các người bị đắm tầu thuộc các lực lượng vũ trang trên mặt biển; Công ước về cách đối xử đối với tù binh; Công ước về việc bảo vệ các thường dân trong thời kỳ chiến tranh; và Nghị định thư (số I) bổ sung các Công ước nêu trên về bảo vệ nạn nhân trong các cuộc xung đột vũ trang mang tính chất quốc tế). Theo quy định tại Pháp lệnh về ký kết và thực hiện điều ước quốc tế, thì: “Trong trường hợp việc thực hiện điều ước quốc tế đòi hỏi phải sửa đổi, bổ sung, huỷ bỏ hoặc ban hành văn bản quy phạm pháp luật của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thì cơ quan nhà nước hữu quan có trách nhiệm tự mình hoặc kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền kịp thời sửa đổi, bổ sung, huỷ bỏ hoặc ban hành văn bản quy phạm pháp luật theo quy định của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật”; theo thông lệ quốc tế thì các nước tham gia các Công ước Gieneve ngày 12/8/1949 đều quy định là tội phạm quân sự đối với những hành vi vi phạm những điều cấm của các Công ước nêu trên (như Liên bang Nga và Cộng hoà nhân dân Trung Hoa…). Việc quy định trách nhiệm hình sự đối với hành vi tàn sát, chiếm đoạt hoặc huỷ hoại tài sản trong khu vực có chiến sự không những thể hiện trách nhiệm pháp lý của Nhà nước ta trong việc tham gia các Công ước quốc tế nêu trên mà còn có ý nghĩa răn đe, phòng ngừa tội phạm. Do vậy, chúng tôi đề nghị cần tội phạm hoá hành vi tàn sát, chiếm đoạt hoặc huỷ hoại tài sản trong khu vực có chiến sự. Theo đó, tội tàn sát, chiếm đoạt hoặc huỷ hoại tài sản trong khu vực có chiến sự là hành vi xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, chiếm đoạt hoặc huỷ hoại tài sản của nhân dân trong khu vực có hoạt động quân sự. Tên tội danh và cấu thành cơ bản của tội phạm này có thể như sau:
“Điều... Tội tàn sát, chiếm đoạt hoặc huỷ hoại tài sản của nhân dân trong khu vực có chiến sự
1. Người nào cố ý gây thương tích, giết hại, chiếm đoạt hoặc huỷ hoại tài sản của dân thường trong khu vực có chiến sự gây hậu quả nghiêm trọng thì bị phạt…”
3. Quyền và nghĩa vụ đối với sĩ quan
Sĩ quan có nghĩa vụ sau đây:
– Sẵn sàng chiến đấu, hy sinh bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam; tham gia xây dựng đất nước, bảo vệ tài sản và lợi ích của Nhà nước, của cơ quan, tổ chức; bảo vệ tính mạng, tài sản, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân;
– Thường xuyên giữ gìn và trau dồi đạo đức cách mạng, học tập, rèn luyện nâng cao trình độ, kiến thức, năng lực về chính trị, quân sự, văn hoá, chuyên môn và thể lực để hoàn thành nhiệm vụ;
– Tuyệt đối phục tùng tổ chức, phục tùng chỉ huy; nghiêm chỉnh chấp hành điều lệnh, điều lệ, chế độ, quy định của quân đội; giữ bí mật quân sự, bí mật quốc gia;
– Thường xuyên chăm lo lợi ích vật chất và tinh thần của bộ đội;
– Gương mẫu chấp hành và vận động nhân dân thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; tôn trọng và gắn bó mật thiết với nhân dân.
4. Quyền và nghĩa vụ đối với quân nhân chuyên nghiệp
– Quân nhân chuyên nghiệp có những quyền sau:
+ Được Nhà nước bảo đảm đời sống vật chất, tinh thần, chế độ, chính sách ưu đãi phù hợp với tính chất nhiệm vụ của Quân đội nhân dân;
+ Được đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chính trị, quân sự, pháp luật và chuyên môn kỹ thuật, nghiệp vụ phù hợp với vị trí, chức danh đảm nhiệm;
+Được hưởng các quyền khác theo quy định của pháp luật.
– Quân nhân chuyên nghiệp có nghĩa vụ:
+ Tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, Nhân dân, với Đảng và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
+ Chấp hành nghiêm đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, kỷ luật quân đội, sẵn sàng hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao;
+ Tuyệt đối phục tùng mệnh lệnh cấp trên; khi nhận mệnh lệnh của người chỉ huy, nếu có căn cứ cho là mệnh lệnh đó trái pháp luật, điều lệnh, điều lệ của Quân đội nhân dân thì phải báo cáo ngay với người ra mệnh lệnh; trường hợp vẫn phải chấp hành thì báo cáo kịp thời lên cấp trên trực tiếp của người ra mệnh lệnh và không phải chịu trách nhiệm về hậu quả của việc thi hành mệnh lệnh đó;
+ Bảo vệ tài sản và lợi ích của Nhà nước, quân đội, cơ quan, tổ chức; bảo vệ tính mạng, sức khỏe, tài sản, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân;
+ Học tập chính trị, quân sự, pháp luật, văn hóa, khoa học, kỹ thuật, nghiệp vụ; rèn luyện tính tổ chức, tính kỷ luật và thể lực, nâng cao bản lĩnh chính trị, bản lĩnh chiến đấu phù hợp với từng đối tượng;
+ Quân nhân chuyên nghiệp phải thực hiện nghĩa vụ chiến đấu, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; bảo vệ Nhân dân, Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa, thực hiện nghĩa vụ quốc tế, chấp hành điều lệnh, điều lệ của Quân đội nhân dân, các nghĩa vụ khác của quân nhân theo quy định của Hiến pháp, pháp luật;
+ Công nhân quốc phòng phải thực hiện nghĩa vụ của người lao động, chấp hành kỷ luật, nội quy lao động theo quy định của pháp luật; viên chức quốc phòng phải thực hiện nghĩa vụ của viên chức theo quy định của Luật viên chức.
5. Quyền và nghĩa vụ đối với hạ sĩ quan, binh sĩ
Theo Điều 9 Luật Nghĩa vụ quân sự 2015 thì hạ sĩ quan, binh sĩ có quyền và nghĩa vụ sau:
– Hạ sĩ quan, binh sĩ được Nhà nước bảo đảm chế độ, chính sách ưu đãi phù hợp với tính chất hoạt động của Quân đội nhân dân.
– Hạ sĩ quan, binh sĩ có nghĩa vụ:
+ Tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, Nhân dân, với Đảng và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
+ Sẵn sàng chiến đấu, hy sinh bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; bảo vệ Nhân dân, Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa; hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao và thực hiện nghĩa vụ quốc tế;
+ Bảo vệ tài sản và lợi ích của Nhà nước, cơ quan, tổ chức; bảo vệ tính mạng, tài sản, quyền và lợi ích hợp pháp của Nhân dân; tham gia bảo vệ an ninh quốc gia và trật tự, an toàn xã hội theo quy định của pháp luật;
+ Chấp hành nghiêm đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, Điều lệnh, Điều lệ của Quân đội nhân dân;
+ Học tập chính trị, quân sự, văn hóa, khoa học, kỹ thuật, nghiệp vụ; rèn luyện tính tổ chức, ý thức kỷ luật và thể lực; nâng cao bản lĩnh chính trị, bản lĩnh chiến đấu.
Bài viết tham khảo: Hoàn thiện quy định của Bộ luật hình sự về các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân; TS. Mai Bộ - Phó Chánh án Tòa án quân sự Trung ương.
(Luật Minh Khuê sưu tầm)