Nội dung được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật Dân sự của Công ty luật Minh Khuê

>> Luật sư tư vấn pháp luật Dân sự, gọi: 1900 6162

1. Cơ sở pháp lý:

- Bộ luật dân sự năm 2015

- Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010

- Luật an toàn vệ sinh thực phẩm năm 2010

2. Bồi thường thiệt hại do thực phẩm không an toàn gây ra cho người tiêu dùng

Bồi thường thiệt hại do thực phẩm không an toàn gây ra cho người tiêu dùng có thể hiểu là bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Đây là một loại trách nhiệm dân sự của bên có lỗi (cố ý hoặc vô ý), gây hại đến tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của cá nhân, gây hại đến danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc các chủ thể khác.

An toàn thực phẩm là “việc bảo đảm để thực phẩm không gây hại đến sức khỏe, tính mạng con người”. Do đó, thực phẩm không an toàn là thực phẩm có thể gây hại đến sức khỏe, tính mạng con người. Nói cách khác, khi người tiêu dùng sử dụng thực phẩm không an toàn có thể sẽ bị những thiệt hại về sức khỏe, tính mạng. Như vậy, trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do thực phẩm không an toàn gây ra cho người tiêu dùng sẽ được đặt ra. Cụ thể, căn cứ quy định tại Điều 7, Điều 8 Luật an toàn vệ sinh thực phẩm, pháp luật ấn định trách nhiệm bồi thường thiệt hại khi thực phẩm mất an toàn đối với cá nhân, tổ chức sản xuất và kinh doanh.

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do thực phẩm không an toàn gây ra cho người tiêu dùng được đặt ra khi có đầy đủ các căn cứ làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, đó là: Có thiệt hại xảy ra; Hành vi gây thiệt hại là hành vi trái pháp luật; Có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và hậu quả xảy ra.

Việc xác định căn cứ bồi thường thiệt hại do thực phẩm không an toàn gây ra chúng tôi đã trình bày ở bài viết “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do thực phẩm không an toàn gây ra cho người tiêu dùng”, bạn đọc có thể tìm kiếm trên website của Luật Minh Khuê để tham khảo, chúng tôi sẽ không đề cập lại nữa. Ở bài viết này, Luật Minh Khuê sẽ trình bày những vướng mắc trong thực tiễn xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do thực phẩm không an toàn gây ra cho người tiêu dùng.

3. Những vướng mắc trong thực tiễn áp dụng

3.1. Khó khăn trong việc xác định chủ thể bồi thường

Như đã nêu ở trên, trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do thực phẩm không an toàn gây ra cho người tiêu dùng thường đặt ra đối với nhà sản xuất thực phẩm không an toàn đó. Tuy nhiên, trên thực tế, khi có “sự cố về an toàn thực phẩm”, việc xác định chủ thể bồi thường là không đơn giản bởi vì sản xuất thực phẩm là việc thực hiện một, một số hoặc tất cả các hoạt động trồng trọt, chăn nuôi, thu hái, đánh bắt, khai thác, sơ chế, chế biến, bao gói, bảo quản để tạo ra thực phẩm. Do đó, việc xác định sự cố về an toàn thực phẩm xảy ra do hoạt động nào để áp dụng trách nhiệm bồi thường là vấn đề khó khăn, đòi hỏi nhiều thời gian, chi phí và sự tích cực hoạt động của các cơ quan thực thi pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Ví dụ: khi có một vụ ngộ độc thực phẩm xảy ra thì chúng ta cần phải xác định được nguyên nhân gây ngộ độc là từ nguyên liệu hay từ khâu chế biến hoặc do cả hai để có thể xác định chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường. Nếu nguyên nhân từ cả nguyên liệu và khâu chế biến thì các chủ thể có thể phải chịu trách nhiệm liên đới bồi thường cho người bị thiệt hại theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, việc tìm ra nguyên nhân gây ngộ độc thực phẩm là vấn đề phức tạp, do đó, việc xác định chủ thể có trách nhiệm bồi thường sẽ gặp rất nhiều khó khăn. Trong khi đó, các quy định pháp luật liên quan đến việc xác định chủ thể bồi thường còn chưa đồng bộ, đặc biệt là quy định của Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 đặt ra yêu cầu xác định chủ thể bồi thường là nhà sản xuất, nhà nhập khẩu… rồi mới đến chủ thể trực tiếp cung cấp hàng hóa. Điều này càng gây khó khăn cho người tiêu dùng trong việc yêu cầu bồi thường khi có thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật nói chung và thực phẩm không an toàn nói riêng.

3.2. Chứng minh thiệt hại là vấn đề không đơn giản

Trong thời gian vừa qua, ở nước ta, vấn đề an toàn thực phẩm là một vấn đề đang rất được quan tâm. Bởi lẽ, trên thực tế, nhiều sự cố về an toàn thực phẩm đã xảy ra và nhiều người tiêu dùng đã bị thiệt hại về tính mạng, sức khỏe. Chưa bao giờ người dân lại đối diện với “cái chết” cận kề từ bàn ăn như bây giờ. Liên tiếp hàng loạt vụ thực phẩm bẩn bị phanh phui như gà tẩm chất vàng ô, lợn nuôi bằng chất tạo nạc, chuối tẩm thuốc diệt cỏ, rau củ trồng sử dụng chất kích thích tăng trưởng quá mức cho phép… đã khiến người tiêu dùng hoang mang, lo ngại.

Từ những thông tin trên, chúng ta thấy rằng người tiêu dùng đã bị ảnh hưởng rất nhiều bởi những thực phẩm không an toàn, những tác động của thực phẩm không an toàn trên có thể sẽ không làm cho người tiêu dùng tức thời phát bệnh mà sẽ từ từ tấn công, hủy hoại sức khỏe của người tiêu dùng. Tuy nhiên, để được bồi thường thiệt hại theo quy định pháp luật như đã nêu ở phần trên, người tiêu dùng phải chứng minh được mình có bị thiệt hại về sức khỏe, tính mạng… Điều này thực sự là vấn đề không đơn giản. Về vấn đề này, có quan điểm cho rằng: “Người tiêu dùng có quyền khởi kiện, có quyền đòi bồi thường. Tuy nhiên, nếu khởi kiện, người tiêu dùng phải chứng minh được thiệt hại thì tòa mới thụ lý. Vậy làm sao có thể chứng minh được thiệt hại cụ thể khi thực phẩm bẩn âm thầm tấn công người tiêu dùng có thể trong thời gian 1 tháng, 2 tháng, 1 năm, 2 năm, thậm chí cả chục năm? Quy định phải chứng minh thiệt hại không khác gì “đánh đố” người tiêu dùng”.

3.3. Khó xác định hành vi trái pháp luật

Mặc dù Luật an toàn thực phẩm đã liệt kê rất rõ các hành vi bị cấm đối với nhà sản xuất, tuy nhiên, trên thực tế, ngoại trừ những trường hợp bị ngộ độc thực phẩm, trong phần lớn các trường hợp còn lại, người tiêu dùng sử dụng thực phẩm không an toàn mà khó có thể phát hiện ra sự không an toàn của thực phẩm, do đó, việc xác định nhà sản xuất có hành vi trái pháp luật lại càng không dễ dàng. Vì vậy, thực phẩm không an toàn cứ ngày càng tràn lan và sức khỏe, tính mạng của người tiêu dùng càng ngày càng bị đe dọa. Chỉ khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền phát hiện ra vi phạm hoặc một số trường hợp vi phạm rõ ràng thì người tiêu dùng mới có thể biết được quyền lợi của mình đang bị xâm phạm. Ví dụ điển hình của tình trạng này là vụ nước tương có chất 3-MCPD vượt quá tiêu chuẩn quy định.

Tuy nhiên, ngay cả cơ quan nhà nước có thẩm quyền cũng gặp phải những khó khăn trong việc phát hiện hành vi sản xuất thực phẩm không an toàn bị coi là trái pháp luật. Về vấn đề này, có quan điểm cho rằng: “theo báo cáo của các địa phương, trên thị trường vẫn còn nhiều mặt hàng không rõ nguồn gốc, xuất xứ hoặc có sử dụng những phụ gia ngoài danh mục cho phép… Ðáng chú ý, lực lượng thanh tra chuyên ngành còn mỏng, năng lực của các đoàn kiểm tra của tuyến cơ sở còn nhiều hạn chế, và khá chủ quan trong công tác kiểm tra dẫn đến vẫn chưa kiểm soát được hết các cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm…”.

3.4. Quy định về lỗi không thống nhất

Như đã phân tích ở trên, các quy định pháp luật liên quan đến lỗi vẫn còn chưa thống nhất. Theo Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 thì trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật (không an toàn) đặt ra ngay cả khi nhà sản xuất không có lỗi trong việc làm phát sinh khuyết tật. BLDS năm 2015 cũng quy định tương đồng. Trong khi đó, Luật chất lượng sản phẩm hàng hóa năm 2007 vẫn yêu cầu yếu tố lỗi là căn cứ làm phát sinh trách nhiệm bồi thường (Điều 61). Vì vậy, quy định trên sẽ gây nên những trở ngại nhất định khi được áp dụng vào thực tiễn giải quyết tranh chấp liên quan đến trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do thực phẩm không an toàn gây ra cho người tiêu dùng. Đồng thời, khoản 2 và 3 Điều 42 Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 cũng đã có quy định tiến bộ về nghĩa vụ chứng minh lỗi là “Tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ có nghĩa vụ chứng minh mình không có lỗi gây ra thiệt hại. Tòa án quyết định bên có lỗi trong vụ án dân sự về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng”. Tuy nhiên, những quy định này vẫn chưa được khai thác hiệu quả trên thực tế và người tiêu dùng dù bị thiệt hại vẫn chưa thể khởi kiện để bảo vệ quyền lợi của mình vì nhiều lý do.

4. Nguyên nhân tồn tại những khó khăn trong áp dụng

Nhìn chung, khi người tiêu dùng sử dụng thực phẩm không an toàn và bị thiệt hại thì việc áp dụng quy định pháp luật để yêu cầu nhà sản xuất bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong thực tiễn là rất ít. Điều này xuất phát từ “nhiều nguyên nhân”.

Thứ nhất, các quy định pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng nói chung và bảo đảm an toàn thực phẩm nói riêng còn nhiều điểm chưa rõ ràng, thống nhất, nhiều quy định còn chưa hoàn thiện.

Thứ hai, trong mối quan hệ giữa nhà sản xuất với người tiêu dùng thì người tiêu dùng thường là bên yếu thế (về trình độ nhận thức vi phạm, về khả năng kinh tế). Do đó, người tiêu dùng rất e ngại trong việc khiếu nại trực tiếp đến nhà sản xuất đã sản xuất thực phẩm không an toàn gây thiệt hại. Đồng thời, việc khiếu nại đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc khởi kiện tại tòa án lại càng hiếm hoi hơn.

Thứ ba, khi người tiêu dùng tiến hành khiếu nại hoặc khởi kiện yêu cầu nhà sản xuất bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do thực phẩm không an toàn gây ra thì vấn đề chứng minh thiệt hại, chứng minh hành vi vi phạm… cũng là những rào cản lớn. Chẳng hạn như: “Năm 2007, ông Hà Hữu Tường… đã gửi đơn đến Tòa án nhân dân TP. Hồ Chí Minh khởi kiện các doanh nghiệp và cơ sở sản xuất nước tương có chất 3-MCPD vượt quá tiêu chuẩn quy định. Nhưng cuối cùng vụ kiện cũng đi vào im lặng vì khi yêu cầu bồi thường, người khởi kiện phải đưa ra được chứng cứ cụ thể mình bị thiệt hại do lô sản phẩm nào, của hãng sản xuất nào để tòa xem xét. Điều này có nghĩa là người tiêu dùng dù quan tâm đến quyền lợi của mình nhưng cũng rất khó để khiếu kiện”.

Thứ tư, về phía nhà sản xuất, do họ chỉ quan tâm chính đến mục tiêu lợi nhuận nên đã coi thường sức khỏe, tính mạng người tiêu dùng. Thứ năm, sự hạn chế trong việc kiểm tra, giám sát và xử lý vi phạm của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã làm cho nhiều nhà sản xuất cố tình vi phạm pháp luật, tạo ra thực phẩm không an toàn, gây thiệt hại cho người tiêu dùng.

5. Một số đề xuất tháo gỡ khó khăn

Để các quy định pháp luật liên quan đến trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do thực phẩm không an toàn gây ra được áp dụng một cách hiệu quả và phát huy được vai trò bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng, đồng thời, khắc phục phần nào những bất cập trong thực tiễn áp dụng pháp luật đã nêu trên, cần lưu ý những vấn đề sau:

Thứ nhất, sửa đổi thống nhất quy định pháp luật liên quan về xác định chủ thể có trách nhiệm bồi thường thiệt hại

Hiện hành, quy định về chủ thể bồi thường thiệt hại giữa BLDS năm 2015, Luật an toàn thực phẩm năm 2010 và Luật chất lượng sản phẩm hàng hóa năm 2007 khác với Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010.

Theo đó, Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 đã thiết lập thứ tự xác định chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường khi hàng hóa có khuyết tật gây thiệt hại (từ nhà sản xuất, nhập khẩu… rồi mới đến chủ thể trực tiếp cung cấp hàng hóa có khuyết tật gây thiệt hại). Trong khi đó, BLDS năm 2015, Luật an toàn thực phẩm năm 2010 và Luật chất lượng sản phẩm hàng hóa năm 2007 không nêu về thứ tự trên mà chỉ quy định căn cứ vào từng trường hợp để xác định trách nhiệm bồi thường. Chẳng hạn: Luật chất lượng sản phẩm hàng hóa năm 2007 quy định lỗi của chủ thể nào thì chủ thể đó phải bồi thường, Luật an toàn thực phẩm năm 2010 thì tách nghĩa vụ bồi thường của nhà sản xuất và nhà kinh doanh ra quy định riêng nhưng cũng không thiết lập thứ tự như Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010. Do đó, để thuận tiện trong việc áp dụng pháp luật, khi xác định chủ thể bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật nói chung và thực phẩm không an toàn nói riêng gây ra, các quy định này nên được sửa đổi cho phù hợp, thống nhất và trên cơ sở bảo vệ quyền được yêu cầu bồi thường thiệt hại của người tiêu dùng.

Thứ hai, sửa đổi quy định liên quan đến vấn đề xác định thiệt hại, cần được xem xét sửa đổi theo hướng chấp nhận bồi thường cho những thiệt hại về sức khỏe của người tiêu dùng chắc chắn sẽ xảy ra do hành vi vi phạm của nhà sản xuất thực phẩm không an toàn dựa trên những tính toán khoa học. Điều này sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho người tiêu dùng trong quá trình chứng minh thiệt hại của mình, khuyến khích người tiêu dùng tích cực, chủ động hơn trong việc bảo vệ quyền lợi của mình.

Thứ ba, quy định về lỗi là một trong những căn cứ làm phát sinh trách nhiệm bồi thường như tại Luật chất lượng sản phẩm hàng hóa năm 2007 là không cần thiết và không thống nhất với quy định của Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 và BLDS năm 2015. Do đó, quy định trên nên bị loại bỏ. Điều này càng tăng cường trách nhiệm của nhà sản xuất trong việc sản xuất ra những thực phẩm an toàn cung cấp cho người tiêu dùng, tránh việc phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do thực phẩm không an toàn gây ra.

Trên đây là tư vấn của chúng tôi. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900 6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Luật Minh Khuê - Sưu tầm & biên tập