1. Khoản nợ thuế có được thanh toán trước khi giải thể doanh nghiệp hay không?

Theo điểm b khoản 5 Điều 208 của Luật Doanh nghiệp 2020, các khoản nợ của doanh nghiệp cần được thanh toán theo một thứ tự ưu tiên nhất định. Trong số các ưu tiên này, nợ thuế được đặt ở vị trí quan trọng và được xem là một trong những khoản nợ cần được ưu tiên thanh toán.

Điều này có nghĩa là khi doanh nghiệp gặp khó khăn tài chính và không đủ tiền để thanh toán toàn bộ các khoản nợ hiện có, nợ thuế sẽ được xem xét và ưu tiên thanh toán trước. Điều này đảm bảo rằng các cơ quan thuế có thể thu được số tiền nợ thuế mà doanh nghiệp nợ mà không cần chờ đợi lâu.

Theo quy định, việc ưu tiên thanh toán các khoản nợ sẽ được thực hiện theo quy định trên. Điều này có nghĩa là trong trường hợp giải thể doanh nghiệp, khoản nợ thuế sẽ không được xem là ưu tiên thanh toán trước, mà sẽ được thanh toán sau khi các khoản nợ lương, trợ cấp thôi việc, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp đã được trả theo quy định của pháp luật và các quyền lợi khác của người lao động theo thỏa ước lao động tập thể và hợp đồng lao động đã ký kết.

Quy định này nhằm bảo vệ quyền lợi của người lao động và đảm bảo rằng các khoản nợ lương và các quyền lợi liên quan được ưu tiên và được thanh toán đầy đủ trước khi tiến hành thanh toán các khoản nợ thuế. Điều này đảm bảo rằng người lao động không bị thiệt hại và được đảm bảo quyền lợi của mình.

Tuy nhiên, cần lưu ý rằng việc ưu tiên thanh toán các khoản nợ không đồng nghĩa với việc các khoản nợ khác không quan trọng hoặc không cần được thanh toán. Các khoản nợ khác cũng có tính chất quan trọng và cần được thanh toán đúng thứ tự và đầy đủ. Quy định về ưu tiên thanh toán chỉ áp dụng trong trường hợp giải thể doanh nghiệp.

Tóm lại, việc ưu tiên thanh toán các khoản nợ sẽ tuân theo quy định trên. Trong trường hợp giải thể doanh nghiệp, khoản nợ thuế sẽ được thanh toán sau khi đã trả các khoản nợ lương, trợ cấp thôi việc, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật và các quyền lợi khác của người lao động theo thỏa ước lao động tập thể và hợp đồng lao động đã ký kết. Điều này nhằm bảo vệ quyền lợi của người lao động và đảm bảo việc thanh toán các khoản nợ một cách công bằng và đúng thứ tự.

 

2. Khi công ty không còn đủ số lượng thành viên có giải thể doanh nghiệp hay không?

Theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 207 của Luật Doanh nghiệp 2020, doanh nghiệp có thể bị giải thể trong một số trường hợp cụ thể. Trong trường hợp cụ thể này, công ty sẽ bị giải thể khi không đủ số lượng thành viên tối thiểu theo quy định của Luật Doanh nghiệp trong thời hạn liên tục 06 tháng mà không thực hiện thủ tục chuyển đổi loại hình doanh nghiệp.

Quy định này áp dụng cho các công ty và doanh nghiệp, và nhằm đảm bảo rằng các doanh nghiệp hoạt động đúng theo quy định về số lượng thành viên tối thiểu. Số lượng thành viên tối thiểu này được quy định để đảm bảo sự ổn định và chất lượng của hoạt động doanh nghiệp, cũng như bảo vệ quyền lợi của các thành viên liên quan.

Theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 207 của Luật Doanh nghiệp 2020, đã được đề cập một trong các điều kiện để giải thể doanh nghiệp là khi công ty không còn đủ số lượng thành viên.

Việc đảm bảo số lượng thành viên đủ theo quy định là một yếu tố quan trọng trong quản lý và hoạt động của một doanh nghiệp. Số lượng thành viên đủ sẽ đảm bảo sự đa dạng và đồng thời cũng góp phần vào quyền lợi và trách nhiệm của các thành viên trong công ty. Việc thiếu thành viên có thể ảnh hưởng đến quyền lợi và quyền trọng đại của công ty trong việc ra quyết định và thực hiện các hoạt động kinh doanh.

Khi công ty không đủ số lượng thành viên, điều này có thể cho thấy sự không ổn định trong tổ chức và quản lý công ty. Việc giải thể doanh nghiệp trong trường hợp này là một biện pháp hợp lý để giải quyết tình trạng không đủ thành viên và đảm bảo tính hợp pháp và bền vững của doanh nghiệp.

Quy định này cũng nhằm bảo vệ lợi ích của các bên liên quan, bao gồm cả thành viên trong công ty và các bên thứ ba có liên quan tới hoạt động kinh doanh của công ty. Khi số lượng thành viên không đủ, sẽ làm mất đi tính chất pháp nhân của công ty và ảnh hưởng đến quyền lợi của các bên liên quan.

Do đó, việc tuân thủ quy định về số lượng thành viên đủ theo quy định của Luật Doanh nghiệp là cần thiết để đảm bảo sự ổn định và phát triển bền vững của doanh nghiệp. Đồng thời, việc giải thể doanh nghiệp khi không đủ số lượng thành viên là một biện pháp cần thiết để bảo vệ quyền lợi của các bên liên quan và duy trì tính hợp pháp và trách nhiệm của doanh nghiệp.

Tóm lại, quy định tại điểm c khoản 1 Điều 207 của Luật Doanh nghiệp 2020 đã rõ ràng nêu rõ về điều kiện giải thể doanh nghiệp khi công ty không còn đủ số lượng thành viên. Quy định này nhằm đảm bảo tính ổn định và phát triển bền vững của doanh nghiệp, bảo vệ quyền lợi của các bên liên quan và duy trì tính hợp pháp và trách nhiệm của doanh nghiệp.

 

3. Phải hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế như thế nào khi giải thể doanh nghiệp?

Theo quy định tại Điều 138 của Thông tư 38/2015/TT-BTC, được sửa đổi bởi khoản 70 của Điều 1 Thông tư 39/2018/TT-BTC, các nghĩa vụ nộp thuế trong trường hợp giải thể và phá sản được thực hiện theo quy định tại Luật Quản lý thuế, pháp luật về doanh nghiệp, pháp luật về hợp tác xã và pháp luật về phá sản. Trách nhiệm hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế cụ thể như sau:

- Trong trường hợp giải thể doanh nghiệp, các đơn vị và cá nhân có trách nhiệm hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế như sau:

+ Chủ doanh nghiệp tư nhân, chủ sở hữu công ty hoặc hội đồng thành viên công ty; hội đồng quản trị hoặc tổ chức thanh lý doanh nghiệp, người quản lý có liên quan trong trường hợp Điều lệ công ty quy định chịu trách nhiệm hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế của doanh nghiệp trước khi gửi đề nghị giải thể cho cơ quan đăng ký kinh doanh.

+ Hội đồng giải thể hợp tác xã chịu trách nhiệm hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế của hợp tác xã trước khi gửi hồ sơ giải thể cho cơ quan đã cấp giấy chứng nhận đăng ký.

+ Quản tài viên hoặc doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản chịu trách nhiệm hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế của doanh nghiệp sau khi có Quyết định mở thủ tục phá sản theo quy định của Luật Phá sản.

- Trong trường hợp người nộp thuế chấm dứt hoạt động mà không thực hiện thủ tục giải thể hoặc phá sản theo quy định của pháp luật, trách nhiệm hoàn thành nghĩa vụ thuế như sau:

+ Doanh nghiệp chấm dứt hoạt động mà không tuân thủ thủ tục giải thể hoặc phá sản và chưa hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế, chủ doanh nghiệp tư nhân; hội đồng thành viên công ty hoặc chủ sở hữu công ty; hội đồng quản trị; quản trị của hợp tác xã; hoặc người quản lý có liên quan trong trường hợp Điều lệ công ty quy định chịu trách nhiệm nộp phần thuế nợ.

+ Hộ gia đình, cá nhân chấm dứt hoạt động kinh doanh mà không tuân thủ thủ tục giải thể hoặc phá sản và chưa hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế, chủ hộ gia đình, cá nhân chịu trách nhiệm nộp phần thuế nợ.

+ Tổ hợp tác chấm dứt hoạt động chưa hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế thì các thành viên tổ hợp tác liên đới chịu trách nhiệm nộp phần thuế nợ.

Khi giải thể doanh nghiệp, một trong những trách nhiệm quan trọng và bắt buộc của các đơn vị và cá nhân liên quan là hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế theo quy định của pháp luật. Việc này đảm bảo rằng các khoản thuế còn nợ và các nghĩa vụ thuế khác được giải quyết một cách đầy đủ và đúng hạn.

Theo quy định hiện hành tại Việt Nam, khi một doanh nghiệp quyết định giải thể, chủ doanh nghiệp tư nhân, chủ sở hữu công ty, hội đồng thành viên công ty, hội đồng quản trị hoặc tổ chức thanh lý doanh nghiệp, và người quản lý có liên quan (trong trường hợp Điều lệ công ty quy định) phải chịu trách nhiệm hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế trước khi gửi đề nghị giải thể cho cơ quan đăng ký kinh doanh.

Tương tự, đối với hợp tác xã, hội đồng giải thể hợp tác xã phải hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế của hợp tác xã trước khi gửi hồ sơ giải thể cho cơ quan đã cấp giấy chứng nhận đăng ký.

Trong trường hợp phá sản, khi có Quyết định mở thủ tục phá sản, quản tài viên hoặc doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản sẽ chịu trách nhiệm hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế của doanh nghiệp.

Ngoài ra, nếu một doanh nghiệp chấm dứt hoạt động mà không tuân thủ quy trình giải thể hoặc phá sản theo quy định của pháp luật, chủ doanh nghiệp tư nhân, hội đồng thành viên công ty, chủ sở hữu công ty, hội đồng quản trị, quản trị của hợp tác xã, hoặc người quản lý có liên quan (trong trường hợp Điều lệ công ty quy định) sẽ chịu trách nhiệm nộp phần thuế nợ. Tương tự, chủ hộ gia đình hoặc cá nhân chấm dứt hoạt động kinh doanh mà không tuân thủ quy trình giải thể hoặc phá sản cũng phải chịu trách nhiệm nộp phần thuế nợ. Đối với tổ hợp tác, các thành viên tổ hợp tác sẽ chịu trách nhiệm nộp phần thuế nợ trong trường hợp tổ hợp tác chấm dứt hoạt động mà không tuân thủ quy trình giải thể hoặc phá sản.

Tóm lại, việc hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế là một yêu cầu pháp luật quan trọng trong quá trình giải thể và phá sản doanh nghiệp. Điều này đảm bảo tính minh bạch và tuân thủ các quy định thuế đối với các đơn vị và cá nhân liên quan.

Xem thêm >> Nghĩa vụ tài chính khi chuyển đổi mục đích sử dụng đất ? Có được nợ thuế khi chuyển đổi đất ?

Liên hệ đến hotline 19006162 hoặc gửi thư tư vấn đến email: lienhe@luatminhkhue.vn để được tư vấn