Tôi muốn hỏi thủ tục khởi kiện để đòi nợ khoản tiền này như thế nào? Gửi đơn kiện ở đâu? Gửi cho ai và án phí theo quy định tôi phải nộp là bao nhiêu ?

Người gửi: MANH HA TUAN

>> Luật sư tư vấn pháp luật dân sự trực tuyến (24/7) gọi số: 1900.6162

 

Trả lời:

1. Xác định bản chất giao dịch của bạn trong trường hợp trên

Việc người ở Hải Dương đến Cẩm Phả làm ăn và vay tiền của bạn (có giấy nhận nợ) là một giao dịch dân sự và sẽ bị điều chỉnh bởi Bộ luật Dân sự. Theo đó giao dịch dân sự là hợp đồng hoặc hành vi pháp lý đơn phương làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự.

 

1.1 Điều kiện có hiệu của giao dịch cho vay của bạn

Điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự (giao dịch vay tiền của bạn) là chủ thể tham gia giao dịch dân sự hoàn toàn tự nguyện và chủ thể phải có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập (cả bạn và người vay tiền của bạn). Đồng thời mục đích và nội dung của giao dịch dân sự không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.

Điều kiện về hình thức thì giao dịch cho vay giữa cá nhân với cá nhân thì không cần phải công chứng, chứng thực hay đăng ký cho nên đã lập thành văn bản thì điều kiện về hình thức được đảm bảo.

Các trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu

Giao dịch dân sự không có một trong các điều kiện có hiệu lực được quy định tại Điều 117 của Bộ luật Dân sự thì vô hiệu.

- Giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội. Giao dịch dân sự có mục đích, nội dung vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội thì vô hiệu. Điều cấm của luật là những quy định của luật không cho phép chủ thể thực hiện những hành vi nhất định; Đạo đức xã hội là những chuẩn mực ứng xử chung trong đời sống xã hội, được cộng đồng thừa nhận và tôn trọng;

- Giao dịch dân sự do giả tạo. Khi các bên xác lập giao dịch dân sự một cách giả tạo nhằm che giấu một giao dịch dân sự khác thì giao dịch dân sự giả tạo vô hiệu, còn giao dịch dân sự bị che giấu vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp giao dịch đó cũng vô hiệu theo quy định. Trường hợp xác lập giao dịch dân sự giả tạo nhằm trốn tránh nghĩa vụ với người thứ ba thì giao dịch dân sự đó vô hiệu;

- Giao dịch dân sự vô hiệu do người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập, thực hiện. Khi giao dịch dân sự do người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi hoặc người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập, thực hiện thì theo yêu cầu của người đại diện của người đó, Tòa án tuyên bố giao dịch đó vô hiệu nếu theo quy định định giao dịch này phải do người đại diện của họ xác lập, thực hiện hoặc đồng ý. Trừ trường hợp sau giao dịch dân sự không bị tuyên vô hiệu:

+ Giao dịch dân sự của người chưa đủ sáu tuổi, người mất năng lực hành vi dân sự nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu hàng ngày của người đó;

+ Giao dịch dân sự chỉ làm phát sinh quyền hoặc chỉ miễn trừ nghĩa vụ cho người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự với người xác lập, thực hiện giao dịch với họ;

+ Giao dịch dân sự được xác lập giao dịch thừa nhận hiệu lực sau khi đã thành niên hoặc sau khi khôi phục năng lực hành vi dân sự;

- Giao dịch dân sự vô hiệu do bị nhầm lẫn. Trường hợp giao dịch dân sự được xác lập có sự nhầm lẫn làm cho một bên hoặc các bên không đạt được mục đích của việc xác lập giao dịch thì bên bị nhầm lẫn có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu. Trừ trường hợp là giao dịch dân sự được xác lập có sự nhầm lẫn không vô hiệu trong trường hợp mục đích xác lập giao dịch dân sự của các bên đã đạt được hoặc các bên có thể khắc phục ngay được sự nhầm làm cho mục đích của việc xác lập giao dịch dân sự vẫn đạt được

- Giao dịch dân sự vô hiệu do bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép

Khi một bên tham gia giao dịch dân sự do bị lừa dối hoặc bị đe dọa, cưỡng ép thì có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự đó là vô hiệu;

Lừa dối trong giao dịch dân sự là hành vi cố ý của một bên hoặc của người thứ ba nhằm làm cho bên kia hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất của đối tượng hoặc nội dung của giao dịch dân sự nên đã xác lập giao dịch đó;

Đe dọa, cưỡng ép trong giao dịch dân sự là hành vi cố ý của một bên hoặc người thứ ba làm cho bên kia buộc phải thực hiện giao dịch dân sự nhằm tránh thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, uy tín, nhân phẩm, tài sản của mình hoặc của người thân thích của mình.

- Giao dịch dân sự vô hiệu do người xác lập không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình. Người có năng lực hành vi dân sự những đã xác lập giao dịch vào đúng thời điểm không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình thì có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự đó là vô hiệu.

- Giao dịch dân sự vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức. Giao dịch dân sự vi phạm quy định điều kiện có hiệu lực về hình thức thì vô hiệu, trừ trường hợp sau đây:

+ Giao dịch dân sự đã được xác lập theo quy định phải bằng văn bản nhưng văn bản không đúng quy định của luật mà một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực của giao dịch đó;

+ Giao dịch dân sự đã được xác lập bằng văn bản nhưng vi phạm quy định bắt buộc về công chứng, chứng thực mà một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực của giao dịch đó. Trong trường hợp này, các bên không phải thực hiện việc công chứng, chứng thực.

Hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu

- Giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm giao dịch được xác lập;

- Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận (trường hợp không thể hoàn trả được bằng hiện vật thì trị giá thành tiền để hoàn trả;

- Bên ngay tình trong việc thu hoa lợi, lợi tức không phải hoàn trả lại hoa lợi, lợi tức đó;

- Bên có lỗi gây thiệt hại thì phải bồi thường;

- Việc giải quyết hậu quả của giao dịch dân sự vô hiệu liên quan đến quyền nhân thân do Bộ luật Dân sự, luật khác có liên quan quy định.

 

1.2 Hợp đồng đồng cho vay

Giao dịch dân sự của bạn với người vay tiền là hợp đồng vay tài sản. Hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định.

Nghĩa vụ của bên cho vay là giao cho bên vay đầy đủ, đúng chất lượng, số lượng vào thời điểm và địa điểm đã thỏa thuận; Bồi thường thiệt hại cho bên vay, nếu bên cho vay biết tài sản không bảo đảm chất lượng mà không báo cho bên vay biết, trừ trường hợp bên vay biết mà vẫn nhận tài sản đó; Không được yêu cầu bên vay trả lại tài sản trước thời hạn, trừ trường hợp quy định tại Điều 470 của Bộ luật dân sự hoặc luật khác có liên quan quy định khác;

Nghĩa vụ trả nợ của bên vay nếu là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn; nếu tài sản thì phải trả vật cùng loại đúng số lượng, chất lượng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác; Trường hợp bên vay không thể trả vật thì có thể trả bằng tiền theo trị giá của vật đã vay tại địa điểm và thời điểm trả nợ, nếu được bên cho vay đồng ý; Địa điểm trả nợ là nơi cư trú hoặc nơi đặt trụ sở của bên cho vay, trừ trường hợp có thỏa thuận khác; Trường hợp vay không có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả nợ hoặc trả không đầy đủ thì bên cho vay có quyền yêu cầu trả tiền lãi với mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự 2015 trên số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác;

Trường hợp vay có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi như sau: Lãi trên nợ gốc theo lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tương ứng với thời hạn vay mà đến hạn chưa trả; trường hợp chậm trả thì còn phải trả lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự 2015; Lãi trên nợ gốc quá hạn chưa trả bằng 150% lãi suất vay theo hợp đồng tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác;

Vì bạn không đưa ra rõ thông tin về lãi suất và kỳ hạn nên Luật Minh Khuê đưa ra hướng giải quyết sau:

Nguyên tắc đầu tiên về lãi suất là do các bên thỏa thuận. Tuy nhiên trong giao dịch dân sự thì lãi suất được giới hạn là không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay (trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác). Căn cứ tình hình thực tế và theo đề xuất của Chính phủ, Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định điều chỉnh mức lãi suất nói trên và báo cáo Quốc hội tại kỳ họp gần nhất;

Như vậy trong trường hợp lãi suất do bạn thỏa thuận với bên vay tiền mà vượt quá giới hạn trên thì mức lãi suất vượt quá không có hiệu lực;

Trong trường hợp các bên có thỏa thuận về việc trả lãi, nhưng không xác định rõ lãi suất và có tranh chấp về lãi suất thì lãi suất được xác định bằng 50% mức lãi suất giới hạn được nêu ở trên.

Ngoài ra trường hợp mức lãi suất của bạn thỏa thuận trong giao dịch dân sự nay mà gấp 5 lần trở lên của mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật dân sự (tức là trên 100%) đồng thời thu lợi bất chính từ 30 triệu đồng đến dưới 100 triệu đồng hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bạn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự với hình phạt là phạt tiền từ 50 triệu đồng đến 200 triệu đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm.

Nếu phạm tội mà thu lợi bất chính từ 100 triệu đồng trở lên thì bị phạt tiền từ 200 triệu đồng đến 1 tỷ đồng hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm

Ngoài ra người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 30 triệu đồng đến 100 triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 1 năm đến 5 năm.

 

2. Hướng giải quyết của Luật Minh Khuê

Vì thông tin của bạn cung cấp chưa rõ ràng nên sẽ khó có thể xác định hành vi của người vay tiền bạn thuộc lĩnh vực dân sự hay hình sự. Vì vậy Luật Minh Khuê đưa ra hướng giải quyết trong trường hợp thỏa thuận về lãi suất của bạn không vi phạm pháp luật như sau:

Theo thông tin bạn cung cấp thì người vay bạn 150 triệu đồng đã bỏ trốn khỏi nơi cư trú. Trường hợp có những căn cứ như đã quá thời hạn trả nợ được ghi nhận trong giấy nhận nợ nhưng số điện thoại liên lạc thuê bao, tìm đến xưởng làm việc của họ nhưng người làm hay quản lý ở đó xác nhận việc không có tại nơi làm việc, tìm về nhà thân nhân của họ cũng không liên lạc được,... thì đã có dấu hiệu của hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Cụ thể như sau:

Có thể bị phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm đối với  người nào có hành vi vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả; Hoặc là đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản mà chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 4 triệu đồng đến dưới 50 triệu đồng hoặc dưới 4 triệu nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản hoặc bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại điêu 168, 169, 170, 171, 172, 173, 174 và 290 của Bộ Luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 chưa được xóa án tích mà còn vi phạm hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ.

Có thể bị phạt tù từ 2 năm đến 7 năm nếu phạm tội thuộc trong các trường hợp sau:

+ Có tổ chức;

+ Có tính chất chuyên nghiệp;

+ Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50 triệu đồng đến dưới 200 triệu đồng;

+ Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

+ Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

+ Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

+ Tái phạm nguy hiểm;

- Trường hợp phạm tội chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200 triệu đồng đến dưới 500 triệu đồng thì bị phạt tù từ 5 năm đến 12 năm;

- Chiếm đoạt tài sản trị giá 500 triệu đồng trở lên thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm;

Ngoài ra người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10 triệu đồng đến 100 triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 1 năm đến 5 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Trong trường hợp này bạn có thể làm đơn trình báo ra cơ quan công an cấp xã nơi bạn cư trú để được xác minh làm rõ. 

Tuy nhiên trong trường bạn không có những tài liệu, chứng cứ cụ thể ban đầu nào về việc bỏ trốn của người vay đó. Ví dụ như bởi vì mọi người đều có quyền tự do đi lại và tự do cư trú trong phạm vi lãnh thổ của một quốc gia. Quyền tự do đi khỏi bất cứ nước nào, kể cả nước mình được áp dụng không phụ thuộc vào nước đến và mục đích, thời gian mà cá nhân dự định ở lại bên ngoài nước mình. Như vậy việc không chuyển nơi cư trú thì chưa đủ để kết luận họ bỏ trốn. Do đó sau khi trình báo cơ quan công an và được xác minh giải quyết đơn trình báo là không có dấu hiệu hình sự thì bạn cần giải quyết theo hướng dân sự như sau:

- Xác minh thông tin của người vay tiền kèm nơi tạm trú, thường trú của họ.

- Hoàn thiện hồ sơ đơn khởi kiện gồm:

+ Đơn khởi kiện theo mẫu;

+ Giấy tờ chứng minh yêu cầu khởi kiện (giấy nhận nợ, chứng từ thanh toán)

+ Giấy tờ tùy thân của bạn (Bản sao chứng thực căn cước công dân, chứng minh thư nhân dân, hộ chiếu)

+ Thông tin của người vay tiền như: bản sao chứng minh thư nhân dân, căn cước công dân, hộ chiếu (nếu có);

- Nộp hồ sơ

Bạn nộp hồ sơ khởi kiện đến Tòa án nhân dân huyện nơi người bị kiện thường trú hoặc tạm trú thông qua hình thức trực tiếp hoặc bưu chính để được giải quyết.

Trong trường hợp bạn không xác định được nơi cư trú, làm việc, trụ sở của người vay tiền thì bạn có thể yêu cầu Tòa án nơi người vay tiền cư trú, làm việc, có trụ sở cuối cùng hoặc nơi bị đơn có tài sản giải quyết.

Kết luận: Anh nên đưa vụ việc đến trình báo cơ quan công an nơi anh cư trú để họ xem xét có dấu hiệu cấu thành tội phạm để tiến hành khởi tố hay không (Tham khảo: Tải mẫu đơn trình báo công an). Anh cũng có thể khởi kiện ra tòa dân sự nếu không chứng minh được yếu tố bỏ đi nhằm mục đích chiếm đoạt nhưng việc khởi kiện ra tòa dân sự thường kéo dài và hiệu quả đôi khi không cao.

Trên đây là hướng dẫn giải quyết trường hợp vay tiền bỏ trốn của Luật Minh Khuê. Hi vọng những thông tin mà chúng tôi phân tích, đưa ra trên đây sẽ giúp ích cho quý khách trong quá trình làm việc. Trong trường hợp quý bạn đọc có điều chưa rõ về bài viết hay có bất cứ khúc mắc nào về pháp luật vui lòng liên hệ Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến theo số Hotline: 1900.6162 để được hỗ trợ giải đáp một cách nhanh, hiệu quả nhất. Rất mong nhận được sự hợp tác và tin tưởng của quý khách, Luật Minh Khuê xin trân trọng cảm ơn !