1. Mức án phí khi ly hôn khi không có tài sản là bao nhiêu ?

Thưa luật sư, Tôi được biết mức án phí khi ly hôn là 200.000đ . Vậy tại sao khi tôi hỏi thì bên tòa án nói là mất mấy triệu như vậy có đúng ko. việc ly hôn là cả hai chúng tôi cùng đồng ý và chúng tôi không có tài sản để chanh chấp vậy bên tòa án nói vậy là đúng hay sai ?
Tôi xin chân thành cảm ơn,

Trả lời:

Theo quy định tại Nghị quyết 326/2016/UBTVQH về thu, nộp, miễn, giảm, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí tòa án thì khi ly hôn, đương sự phải chịu mức án phí như sau:

- Án phí cho một vụ việc ly hôn nếu không có tranh chấp về tài sản là 300.000 đồng.

Trường hợp vợ chồng bạn thuận tình ly hôn và không có tài sản để phân chia mà nhận thấy mức án phí không đúng quy định của pháp luật thì có thể khiếu nại quyết định, hành vi của người có thẩm quyền về án phí, lệ phí theo quy định tại Điều 46 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH về thu, nộp, miễn, giảm, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí tòa án và theo quy định pháp luật khác có liên quan.

Điều 46. Giải quyết khiếu nại về án phí, lệ phí Tòa án
1. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền khiếu nại quyết định, hành vi của cơ quan, người có thẩm quyền về tạm ứng án phí, tạm ứng lệ phí Tòa án, án phí, lệ phí Tòa án khi có căn cứ cho rằng quyết định, hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
2. Khiếu nại đối với quyết định, hành vi của Thủ trưởng Cơ quan thi hành án dân sự, Chấp Hành Viện về án phí, lệ phí Tòa án được giải quyết theo quy định của pháp luật thi hành án dân sự.
3. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền khiếu nại đến Chánh án Tòa án cấp sơ thẩm trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được thông báo của Tòa án về nộp tiền tạm ứng án phí, án phí, tạm ứng lệ phí Tòa án, lệ phí Tòa án hoặc thông báo về việc miễn, giảm tạm ứng án phí, án phí, tạm ứng lệ phí Tòa án lệ phí Tòa án, Chánh án Tòa án cấp sơ thẩm phải xem xét giải quyết khiếu nại trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đơn khiếu nại. Quyết định của Chánh án Tòa án cấp sơ thẩm là quyết định cuối cùng.
Khiếu nại về án phí, lệ phí Tòa án trong bản án, quyết định của Tòa án được giải quyết theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự, tố tụng hình sự hoặc tố tụng hành chính.
4. Khiếu nại về việc thu lệ phí Tòa án của Bộ Tư pháp, Bộ Ngoại giao được giải quyết theo quy định của pháp luật về khiếu nại.

2. Nguyên tắc phân chia tài sản chung sau khi ly hôn ?

Thưa luật sư: em muốn hỏi chút về vấn đề chia tài sản sau khi ly hôn. Bọn em kết hôn đã được hơn 5 năm, và có 1 cháu trai 5 tuổi, do cuộc sống vợ chồng xảy ra mâu thuẫn quá nhiều, không tìm được tiếng nói chung, cảm thấy không thể chung sống với nhau tiếp được nên vợ chồng em quyết định sẽ ly hôn.

Em muốn hỏi luật sư về việc phân chia tài sản. Cách đây gần 2 năm nhà em mới xây lại, tổng chi phí khoảng 500 triệu, trong đó bố mẹ đẻ em cho 200 triệu, nghĩa là nhà chồng em có 300 triệu, cộng thêm cách đây 4 năm bố mẹ đẻ em cũng trả nợ cho chồng em 50 triệu đồng. Giờ mà ly hôn thì em có quyền được chia ngôi nhà không ạ ?

Em xin chân thành cảm ơn !

Trả lời:

Tài sản chung của vợ chồng trong thời kì hôn nhân được quy định trong Luật Hôn nhân và gia đình 2014 như sau:

" Điều 33. Tài sản chung của vợ chồng

1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.

3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung."

Như vậy, ngôi nhà của bạn có được sau khi kết hôn, tức là tài sản hình thành trong thời kỳ hôn nhân do đó ngôi nhà là được xác định là tài sản chung của vợ chồng bạn, hai bạn có thể thỏa thuận với nhau về việc chia tài sản chung, nếu hai bạn không thể thỏa thuận được với nhau về việc chia tài sản chung thì tòa án sẽ là cơ quan giải quyết việc chia tài sản chung theo quy định của pháp luật với nguyên tắc xác định là chia đôi tài sản chung.

" Điều 59. Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn

1. Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này.

Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này để giải quyết.

2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

3. Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.

4. Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này.

Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.

5. Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

6. Tòa án nhân dân tối cao chủ trì phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Tư pháp hướng dẫn Điều này."

Theo đó nếu hai bạn không thể thỏa thuận được về việc phân chia tài sản thì tòa án sẽ chia đôi có tính đến yếu tố đóng góp của mỗi người, do đó nếu sự đóng góp của bạn ít hơn thì bạn có thể được chia ít hơn chồng mình.

3. Tư vấn cách giải quyết về phân chia tài sản chung sau khi ly hôn ?

Kính chào Ông/ Bà Luật Sư: Tôi có một vấn đề cần làm rõ về thủ tục sang tên tài sản sau ly hôn nhờ Ông/ Bà tư vấn hộ: Tôi và Chồng muốn đồng thuận ly hôn, vì chồng tôi muốn lấy một người phụ nữ gia đình có thế lực để có thể mang lại danh lợi cho anh ấy. Tôi không muốn níu kéo người bạc nghĩa nên cũng muốn ly hôn.
Nhưng tôi yêu cầu anh phải sang tên toàn bộ tài sản vợ chồng đang sở hữu để sau này tôi cho con, vì chúng tôi có 3 con và tôi sẽ nuôi hết các cháu. Chồng tôi đồng ý nhưng anh ấy nói sẽ viết cam đoan sang tên sau mười năm vì tất cả tài sản bây giờ đang thế chấp ngân hàng để lấy vốn làm ăn và chồng tôi kinh doanh cũng có lợi nhuận. Nếu lấy hết các giấy tờ ra thì chồng tôi sẽ thiếu vốn. Vui lòng cho tôi hỏi, nếu anh ấy ly hôn tôi và cưới người phụ nữ khác thì những tài sản của vợ chông tôi hiện tại mà anh ấy nói sẽ sang tên sau mười năm sẽ có liên quan gì tới vợ mới của chồng tôi không? Liệu rằng sau 10 năm, nếu anh ấy trở tâm không sang tên nữa thì tôi có được luật pháp bảo vệ hay không? Luật pháp có can thiệp bảo vệ tôi để anh ấy thực hiện cam kết của mình không?
Trong khi chờ đợi câu trả lời từ Ông/ Bà Luật Sư, tôi xin chân thành cảm ơn!

Trả lời:

Theo quy định tại Điều 43, Luật hôn nhân và gia đình năm 2014:

"Điều 43. Tài sản riêng của vợ, chồng

1. Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại các điều 38, 39 và 40 của Luật này; tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng và tài sản khác mà theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng."

Như vậy, những tài sản của vợ chồng bạn hiện tại mà chồng bạn nói sẽ sang tên sau mười năm là tài sản mà chồng bạn có được trước khi kết hôn với vợ mới, đó là tài sản riêng của chồng bạn, sẽ không liên quan gì tới vợ mới của chồng bạn.

Theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, thì khi ly hôn, vợ và chồng có quyền thỏa thuận về vấn đề phân chia tài sản, nếu như các bên không thỏa thuận được thì yêu cầu tòa án giải quyết chia tài sản căn cứ vào việc xác định đó là tài sản chung hay tài sản riêng của vợ chồng.

Tại điều 64 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014:

"Điều 64. Chia tài sản chung của vợ chồng đưa vào kinh doanh

Vợ, chồng đang thực hiện hoạt động kinh doanh liên quan đến tài sản chung có quyền được nhận tài sản đó và phải thanh toán cho bên kia phần giá trị tài sản mà họ được hưởng, trừ trường hợp pháp luật về kinh doanh có quy định khác."

Trong vụ việc của gia đình bạn: Nếu hai bên thỏa thuận thuận tình ly hôn; thỏa thuận được về việc phân chia, sử dụng tài sản chung thì tòa án sẽ ra Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự theo thủ tục thuận tình ly hôn. Tuy nhiên, nhiều Tòa án không ghi rõ trong bản án mà thường ghi: về tài sản hai bên tự thỏa thuận, mà không nói rõ thỏa thuận như thế nào, theo văn bản nào...

Trường hợp, 10 năm sau chồng bạn không thực hiện như thỏa thuận thì tranh chấp đó được xác định là tranh chấp tài sản chung của “vợ chồng”, nhưng khi ly hôn, hai bên không yêu cầu phân chia tài sản chung. Khi đó, bạn có thể yêu cầu Tòa án giải quyết. Tuy nhiên, hiện tại hai bên không còn quan hệ vợ chồng, việc tranh chấp về tài sản ở đây không phải là tranh chấp về hôn nhân gia đình. Trường hợp này, Tòa án sẽ thụ lý và giải quyết như vụ án dân sự thông thường. Theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự thì Tòa án có trách nhiệm hòa giải và tạo điều kiện thuận lợi để hai bên thỏa thuận với nhau về việc giải quyết tranh chấp tài sản. Nếu hòa giải không thành, Tòa án sẽ thực hiện các thủ tục để đưa vụ án ra xét xử.

4. Phải chia tài sản chung sau khi ly hôn như thế nào ?

Tôi mua 1 mảnh đất trị giá 1.200.000.000 đồng từ năm 2013 nhưng đến bây giờ tôi vẫn chưa làm được sổ đỏ (đang chờ làm sổ đỏ, hiện tại thủ tục chỉ đứng tên một mình tôi). Đến tháng 2/2014 tôi lấy vợ và sinh em bé tháng 11/2014, tháng 8 hai bên bố mẹ cho tiền để xây nhà trên mảnh đất đó và nhà đã xây hoàn thành tháng 6/2015.

Trong khi sống với nhau tôi thấy hai vợ chồng không hợp nhau và bây giờ tôi muốn ly hôn. Vậy tôi xin luật sư tư vấn giúp tôi một số ý kiến sau.

1. Mảnh đất đấy tôi có phải chia đôi không?.

2. Nhà xây trên mảnh đất đó thì chia như thế nào và ai là người phải đi ra khỏi nhà sau khi chia tài sản.

3. Con tôi chưa đủ 3 tuổi nhưng tôi muốn nuôi con có được không (2 vợ chồng đều là công chức nhà nước)?

4. Nếu tôi không được quyền nuôi con thì một tháng tôi phải chu cấp bao nhiêu tiền?

Trên đây là những thắc mắc tôi không biết giải quyết như thế nào. vậy tôi nhờ luật sư tư vấn giúp tôi. Tôi xin chân thành cảm ơn!

Trả lời:

Việc xác định tài sản có trong thời kỳ hôn nhân là tài sản riêng hay tài sản chung của vợ chồng không căn cứ vào việc người thực hiện giao dịch hay người đứng tên trên các giấy tờ đó mà dựa vào nguồn gốc tạo dựng nên tài sản.

1. Mảnh đất đấy tôi có phải chia đôi không?

Bạn mua 1 mảnh đất trị giá 1.200.000.000 đồng từ năm 2013 nhưng đến bây giờ bạn vẫn chưa làm được sổ đỏ (đang chờ làm sổ đỏ, hiện tại thủ tục chỉ đứng tên bạn). Trong quá trình sống với nhau, bạn thấy hai vợ chồng không hợp nhau và bây giờ bạn muốn ly hôn. Trong trường hợp mảnh đất này chưa được nhập vào tài sản chung của vợ chồng theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 và do bạn mua trước thời kỳ hôn nhân nên dù chưa có sổ đỏ thì mảnh đất này vẫn được xác định là tài sản riêng thuộc sở hữu của bạn.

2. Nhà xây trên mảnh đất đó thì chia như thế nào và ai là người phải đi ra khỏi nhà sau khi chia tài sản.

Đến tháng 2/2014 bạn lấy vợ và sinh em bé tháng 11/2014, tháng 8 hai bên bố mẹ cho tiền để xây nhà trên mảnh đất đó và nhà đã xây hoàn thành tháng 6/2015. Do bạn và vợ cùng xây nhà trên mảnh đất này trong thời kỳ hôn nhân nên căn nhà vẫn được xác định là tài sản chung vợ chồng theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014:

"Điều 33. Tài sản chung của vợ chồng

1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.

3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung."

Về nguyên tắc, nếu căn nhà này được xác định là tài sản chung vợ chồng thì sẽ được chia theo nguyên tắc sau đây theo quy định của Luật hôn nhân và Gia đình 2014:

"Điều 59. Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn

1. Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này.

Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này để giải quyết.

2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

3. Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.

4. Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này.

Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.

5. Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

6. Tòa án nhân dân tối cao chủ trì phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Tư pháp hướng dẫn Điều này."

Do đó, với tài sản chung là căn nhà, bạn có thể được phân chia theo nguyên tắc như đã nêu trên. Mức chia cụ thể sẽ do vợ chồng bạn thỏa thuận hoặc sẽ do Tòa án quyết định.

3. Con tôi chưa đủ 3 tuổi nhưng tôi muốn nuôi con có được không (2 vợ chồng đều là công chức nhà nước)?

Người trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn được quy định cụ thể tại Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014:

"Điều 81. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn

1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con."

Theo Khoản 3 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì con bạn chưa đủ 3 tuổi (dưới 36 tháng tuổi) nên người trực tiếp nuôi con sẽ là vợ bạn, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con. Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn được quy định tại Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

"Điều 84. Thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

1. Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều này, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

2. Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con được giải quyết khi có một trong các căn cứ sau đây:

a) Cha, mẹ có thỏa thuận về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phù hợp với lợi ích của con;

b) Người trực tiếp nuôi con không còn đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

3. Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phải xem xét nguyện vọng của con từ đủ 07 tuổi trở lên.

4. Trong trường hợp xét thấy cả cha và mẹ đều không đủ điều kiện trực tiếp nuôi con thì Tòa án quyết định giao con cho người giám hộ theo quy định của Bộ luật dân sự.

5. Trong trường hợp có căn cứ theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều này thì trên cơ sở lợi ích của con, cá nhân, cơ quan, tổ chức sau có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con:

a) Người thân thích;

b) Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình;

c) Cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em;

d) Hội liên hiệp phụ nữ."

4. Nếu tôi không được quyền nuôi con thì một tháng tôi phải chu cấp bao nhiêu tiền?

Khi bạn không trực tiếp nuôi con, bạn có nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình 2014:

"Điều 110. Nghĩa vụ cấp dưỡng của cha, mẹ đối với con

Cha, mẹ có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con chưa thành niên, con đã thành niên không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình trong trường hợp không sống chung với con hoặc sống chung với con nhưng vi phạm nghĩa vụ nuôi dưỡng con."

Điều 116 Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định về mức cấp dưỡng như sau:

"Điều 116. Mức cấp dưỡng

1. Mức cấp dưỡng do người có nghĩa vụ cấp dưỡng và người được cấp dưỡng hoặc người giám hộ của người đó thỏa thuận căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng có thể thay đổi. Việc thay đổi mức cấp dưỡng do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết."

Theo quy định, mức cấp dưỡng một tháng mà bạn phải chu cấp do vợ, chồng bạn thỏa thuận căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của bạn và nhu cầu thiết yếu của con bạn; trong trường hợp hai vợ, chồng bạn không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết. Ngoài ra bạn có thể thay đổi mức cấp dưỡng khi có lý do chính đáng.

5. Giải quyết ly hôn khi không có tài sản chung và con chung ?

Xin chào luật sư! tôi và vợ tôi năm nay cưới nhau đã gần 3 năm nhưng không sống chung với nhau vì gia đình hai bên không chấp nhận tài sản chúng tôi không có, con cũng không nay tôi muốn ly hôn thì thủ tục giải quýêt như thế nào viết đơn ra sao? và sau bao lâu thì tôi mới được kết hôn lại!
Mong luật sư tư vấn giúp tôi xin chân thành cảm ơn!

Trả lời:

Trong trường hợp này bạn có thể lựa chọn hình thức ly hôn đơn phương hoặc ly hôn thuận tình để giải quyết việc ly hôn.

Cụ thể, nếu cả hai cùng đồng thuận ly hôn thì thực hiện thủ tục ly hôn thuận tình. Cụ thể:

"Điều 55, Luật hôn nhân và gia định 2014 Thuận tình ly hôn

Trong trường hợp vợ chồng cùng yêu cầu ly hôn, nếu xét thấy hai bên thật sự tự nguyện ly hôn và đã thỏa thuận về việc chia tài sản, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con trên cơ sở bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án công nhận thuận tình ly hôn; nếu không thỏa thuận được hoặc có thỏa thuận nhưng không bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án giải quyết việc ly hôn."

a, Hồ sơ ly hôn thuận tình gồm:

- Đơn yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, ly hôn và chia tài sản khi ly hôn

-Bản chính giấy chứng nhận đăng ký kết hôn

-Bảo sao có chứng thực chứng minh nhân dân, sổ hộ khẩu của hai vợ chồng

-Bản sao giấy khai sinh của con (nếu có)

-Giấy tờ chứng minh tài sản chung của hai vợ chồng (nếu có)

b, Nộp hồ sơ: tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền

Điều 29 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 quy định về việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án như sau:

Điều 29. Những yêu cầu về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án
1. Yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật.
2. Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn.
Về thẩm quyền theo cấp: khoản 2 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015:

Tòa án nhân dân cấp huyện có thẩm quyền giải quyết những yêu cầu sau đây:

b) Yêu cầu về hôn nhân và gia đình quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 10 và 11 Điều 29 của Bộ luật này;


Về thẩm quyền theo lãnh thổ: Khoản 2 Điều 39 BLTTDS quy định:

"2. Thẩm quyền giải quyết việc dân sự của Tòa án theo lãnh thổ được xác định như sau:

h) Tòa án nơi một trong các bên thuận tình ly hôn, nuôi con, chia tài sản khi ly hôn cư trú, làm việc có thẩm quyền giải quyết yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, nuôi con, chia tài sản khi ly hôn;"

Theo quy định của Điều 40 Bộ luật dân sự 2015, thì:

“1. Nơi cư trú của cá nhân là nơi người đó thường xuyên sinh sống.

2. Trường hợp không xác định được nơi cư trú của cá nhân theo quy định tại khoản 1 Điều này thì nơi cư trú của cá nhân là nơi người đó đang sinh sống.

Như vậy, chị sẽ nộp đơn tại Tòa án nhân dân cấp huyện nơi vợ hoặc chồng chị cư trú, làm việc.

Nếu một bên không muốn ly hôn thì bạn thực hiện thủ tục ly hôn đơn phương. Cụ thể mời bạn thao khảo bài viết: Quy trình, thủ tục ly hôn đơn phương ?

Về việc kết hôn lại có thể sẽ được tiến hành ngay sau khi bản án ly hôn có hiệu lực. Vì khi đó quan hệ hôn nhân của bạn đã hoàn toàn chấm dứt.

6. Tư vấn về thời hạn giải quyết ly hôn khi khởi kiện lại ?

Chào luật sư! Do mâu thuẫn vợ chồng không thể giải quyết nên tôi đã nộp đơn ly hôn đơn phương từ tháng 4/2015. Nhưng đến tháng 9/2015 do tòa án chưa thể giải quyết cho tôi nên đã thỏa thuân với tôi làm giấy tạm dừng vì môt ly do gì đó bên tòa án và sau đó tôi đã làm đơn tiếp tục viêc ly hôn nhưng đến nay vẫn chưa được giải quyết.
Vì quá lâu nhưg chưa được giải quyết nên tôi gọi hỏi tòa án thì tòa án chỉ trả lời tôi là chưa nhận được giấy xác nhận đất đai do vợ chồng tôi sử dụng nên chưa thể giải quyết, khi nào có giấy bên phòng tài nguyên môi trường gửi vể thì họ mới giải quyết cho tôi nhưng tôi không biết khi phòng tài nguyên mới gửi về tòa án. Xin hỏi luật sư găp trường hợp như tôi thì tôi phải giải quyết thế nào?

Trả lời:

Trong trường hợp này là do hai vợ chồng chị có yêu cầu Tòa án giải quyết việc chia tài sản chung, do đó thủ tục giải quyết một vụ án này sẽ có thời hạn chuẩn bị xét xử là từ 4 đến 6 tháng. Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 quy định:

1. Thời hạn chuẩn bị xét xử các loại vụ án, trừ các vụ án được xét xử theo thủ tục rút gọn hoặc vụ án có yếu tố nước ngoài, được quy định như sau:

a) Đối với các vụ án quy định tại Điều 26 và Điều 28 của Bộ luật này thì thời hạn là 04 tháng, kể từ ngày thụ lý vụ án;

b) Đối với các vụ án quy định tại Điều 30 và Điều 32 của Bộ luật này thì thời hạn là 02 tháng, kể từ ngày thụ lý vụ án.

Đối với vụ án có tính chất phức tạp hoặc do sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan thì Chánh án Tòa án có thể quyết định gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử nhưng không quá 02 tháng đối với vụ án thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản này và không quá 01 tháng đối với vụ án thuộc trường hợp quy định tại điểm b khoản này.

Trường hợp có quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết vụ án thì thời hạn chuẩn bị xét xử được tính lại kể từ ngày quyết định tiếp tục giải quyết vụ án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

2. Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, Thẩm phán thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:

a) Lập hồ sơ vụ án theo quy định tại Điều 198 của Bộ luật này;

b) Xác định tư cách đương sự, người tham gia tố tụng khác;

c) Xác định quan hệ tranh chấp giữa các đương sự và pháp luật cần áp dụng;

d) Làm rõ những tình tiết khách quan của vụ án;

đ) Xác minh, thu thập chứng cứ theo quy định của Bộ luật này;

e) Áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời;

g) Tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải theo quy định của Bộ luật này, trừ trường hợp vụ án được giải quyết theo thủ tục rút gọn;

h) Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của Bộ luật này.

3. Trong thời hạn chuẩn bị xét xử quy định tại khoản 1 Điều này, tùy từng trường hợp, Thẩm phán ra một trong các quyết định sau đây:

a) Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự;

b) Tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự;

c) Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự;

d) Đưa vụ án ra xét xử.

4. Trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày có quyết định đưa vụ án ra xét xử, Tòa án phải mở phiên tòa; trường hợp có lý do chính đáng thì thời hạn này là 02 tháng.

Do đó nếu như chị muốn thủ tục giải quyết nhanh hơn thì hai vợ chồng chị có thể yêu cầu Tòa án là rút đơn về và làm lại đơn thuận tình ly hôn sau đó ghi trong đơn là tự thỏa thuận về chia tài sản chung và con chung thì thời hạn giải quyết vụ án ly hôn sẽ nhanh hơn so với việc chị yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn có kèm theo chia tài sản chung. Điều 55 Luật hôn nhân gia đình 2014 quy định:

"Điều 55. Thuận tình ly hôn

Trong trường hợp vợ chồng cùng yêu cầu ly hôn, nếu xét thấy hai bên thật sự tự nguyện ly hôn và đã thỏa thuận về việc chia tài sản, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con trên cơ sở bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án công nhận thuận tình ly hôn; nếu không thỏa thuận được hoặc có thỏa thuận nhưng không bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án giải quyết việc ly hôn."

>> Tham khảo bài viết liên quan: Thời hạn giải quyết nhanh nhất thuận tình ly hôn là bao lâu?

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận Tư vấn Pháp luật hôn nhân - Công ty luật Minh Khuê