1. Không ký kết hợp đồng lao động sau thời gian thử việc đúng hay sai ?

Tôi được nhận vào làm và ký hợp đồng thử việc 2 tháng theo diện hợp đồng 68 với 1 cơ quan nhà nước. Công việc của tôi là quét dọn và làm vệ sinh. Hết thời hạn thử việc tôi vẫn được làm việc nhưng không thấy được ký hợp đồng tiếp. Tôi vẫn tiếp tục làm việc từ đó cho tới nay. Tiền lương của tôi các tháng trước đã trừ đi tiền bảo hiểm nhưng 3 năm làm việc tôi không hề nhận được BHYT hay sổ BHXH. Tôi có tham gia công đoàn cơ quan và vẫn phải đóng phí đều đặn. Như vậy, việc tôi không được ký hợp đồng lao động có đúng không? - và tôi có thuộc diện bị cắt giảm lao động không vì lúc tôi vào làm tổ của tôi có 7 người, sau đó 1 người nghỉ hưu và 1 người nghỉ làm, công việc thì được giao thêm nhưng số lượng người làm lại giảm đi 2, và công việc của tôi ngày nào cũng phải làm.
Tôi rất mong nhận được lời khuyên. Tôi xin chân thành cảm ơn.

Trả lời:

Điều 1 Nghị định số 68/2000/NĐ-CP của Chính phủ quy định về việc thực hiện chế độ hợp đồng một số loại công việc trong cơ quan hành chính nhà nước, đơn vị sự nghiệp như sau:

"Điều 1. Thực hiện chế độ hợp đồng đối với một số loại công việc sau đây trong cơ quan hành chính nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập:

1. Sửa chữa, bảo trì đối với hệ thống cấp điện, cấp, thoát nước ở công sở, xe ô tô và các máy móc, thiết bị khác đang được sử dụng trong cơ quan, đơn vị sự nghiệp;

2. Lái xe;

3. Bảo vệ;

4. Vệ sinh;

5. Trông giữ phương tiện đi lại của cán bộ, công chức và khách đến làm việc với cơ quan, đơn vị sự nghiệp;

6. Công việc thừa hành, phục vụ khác có yêu cầu trình độ đào tạo từ trung cấp trở xuống.”

Theo đó, có thể thấy công việc của bạn là quét dọn và làm vệ sinh mang tính chất thường xuyên, liên tục. Theo quy định trên thì cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập phải thực hiện ký kết hợp đồng với bạn theo đúng quy định nêu trên và phải có trách nhiệm đóng bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội cho bạn theo đúng quy định của Luật Bảo hiểm xã hội.

Hơn nữa, theo như thông tin bạn cung cấp thì tổ của bạn có 7 người nhưng trong số đó 1 người nghỉ hưu và một người nghỉ làm, công việc thì vẫn được giao thêm nhưng số người làm lại giảm đi. Vì vậy để đảm bảo điều kiện và khả năng hoàn thành công việc, phía cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp mà bạn đang làm không thể viện lý do cắt giảm biên chế hay dôi dư lao động để từ chối việc tiếp tục ký hợp đồng với bạn. Điều 5 Nghị định 68/2000/NĐ-CP ngày 17/11/2000 của Chính phủ quy định:

"1.Các công việc quy định tại Điều 1 của Nghị định này được thực hiện thông qua ký kết hợp đồng giữa cơ quan hành chính nhà nước, đơn vị sự nghiệp với cá nhân trực tiếp làm, hoặc cá nhân, tổ chức kinh doanh dịch vụ dưới các dạng: hợp đồng thuê khoán tài sản, hợp đồng dịch vụ, hợp đồng lao động, hợp đồng kinh tế và các loại hợp đồng khác theo quy định của pháp luật.

2. Không ký hợp đồng đối với các công việc quy định tại Điều 1 của Nghị định này khi những người trong biên chế đang đảm nhận công việc có đủ điều kiện, khả năng thực hiện."

>> Xem thêm:  Mẫu hợp đồng thử việc song ngữ (Việt - Anh) và Mẫu thông báo kết quả thử việc

2. Trả mức lương thử việc thấp hơn 85% có bị phạt không ?

Tôi mới ra trường đi làm vị trí nhân viên kinh doanh của công ty. Lương chính thức của tôi khi trao đổi là 07 triệu đồng, nhưng thử việc chỉ được trả 5 triệu đồng, mà tôi được biết là lương thử việc phải là 85% lương khi làm chính thức. Như thế có bị vi phạm không và mức xử phạt là bao nhiêu?
Cảm ơn!

Trả lời:

Theo điều số 25 Bộ luật lao động năm 2019 quy định về thời gian thử việc cụ thể như sau :

Điều 25. Thời gian thử việc

Thời gian thử việc do hai bên thỏa thuận căn cứ vào tính chất và mức độ phức tạp của công việc nhưng chỉ được thử việc một lần đối với một công việc và bảo đảm điều kiện sau đây:

1. Không quá 180 ngày đối với công việc của người quản lý doanh nghiệp theo quy định của Luật Doanh nghiệp, Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp;

2. Không quá 60 ngày đối với công việc có chức danh nghề nghiệp cần trình độ chuyên môn, kỹ thuật từ cao đẳng trở lên;

3. Không quá 30 ngày đối với công việc có chức danh nghề nghiệp cần trình độ chuyên môn, kỹ thuật trung cấp, công nhân kỹ thuật, nhân viên nghiệp vụ;

4. Không quá 06 ngày làm việc đối với công việc khác.

Theo đó, tiền lương của người lao động trong thời gian thử việc do hai bên thoả thuận nhưng ít nhất phải bằng 85% mức lương của công việc đó.

Điều 6 Nghị định số 4756/VBHN-BLĐTBXH Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội, đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng quy định xử phạt vi phạm hành chính vể quy định thử việc :

"Điều 6. Vi phạm quy định về thử việc

1. Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với người sử dụng lao động khi có một trong các hành vi sau đây:

a) Yêu cầu thử việc đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động theo mùa vụ;

b) Không thông báo kết quả công việc người lao động đã làm thử theo quy định của pháp luật.

2. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với người sử dụng lao động có một trong các hành vi sau đây:

a) Yêu cầu người lao động thử việc quá 01 lần đối với một công việc;

b) Thử việc quá thời gian quy định;

c) Trả lương cho người lao động trong thời gian thử việc thấp hơn 85% mức lương của công việc đó;

d) Kết thúc thời gian thử việc, người lao động vẫn tiếp tục làm việc mà người sử dụng lao động không giao kết hợp đồng lao động với người lao động.

3. Biện pháp khắc phục hậu quả:

Buộc trả đủ 100% tiền lương của công việc đó cho người lao động đối với hành vi vi phạm quy định tại Điểm a Khoản 1, Điểm a, Điểm b và Điểm c Khoản 2 Điều này."

Như bạn vừa nêu ra, công ty tuyển dụng bạn đã trả mức lương là 5.000.000 đồng cho vị trí công việc có mức lương chính là 7.000.000 đồng là vi phạm về mức lương tại thời gian thử việc. Và việc công ty trả lương cho bạn như vậy là sai quy định của pháp luật. Bạn có thể yêu cầu công ty trả mức lương cao tương ứng 85% mức lương cho vị trí công việc của bạn. Phía công ty vi phạm thì công ty sẽ bị phạt từ2.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng .

Trân trọng./.

>> Xem thêm:  10 điểm mới về hợp đồng lao động có hiệu lực từ 01/01/2021

3. Hợp đồng lao động thử việc tự chuyển thành hợp đồng lao động được không ?

Hiện tại tôi đang làm việc tại công ty đã được hơn 3 tháng, tôi đã hoành thành thử việc 2 tháng. Sau đó, công ty thông báo là do khó khăn tài chính nên cắt giảm nhận sự, công ty sẽ trả cho tôi 01 tháng lương và yêu cầu tôi viết đơn xin nghỉ. Tôi có thắc mắc là hợp đồng lao động 1 năm mà chỉ đền bù có 1 tháng lương kèm thông báo trước 30 ngày thì có đúng luật không. Công ty tôi giải thích: Trong Hợp đồng lao động đã kí kết: “Khi Người sử dụng lao động có nhu cầu thay đổi về nhân sự Công ty sẽ báo trước cho Người lao động 30 ngày. Trong trường hợp này, công ty sẽ không có trách nhiệm bồi thường bất cứ chi phí hay khoản tiền công, tiền lương nào đối với Người lao động. Khi Người lao động muốn đơn phương chấm dứt Hợp đồng lao động trước thời hạn, sẽ báo trước cho bên sử dụng lao động tối thiểu 30 ngày. Điều khoản này đã được Hai Bên thỏa thuận, được nêu rõ trong HĐLĐ ký kết trước đây. Nội dung điều khoản này cũng thể hiện sự công bằng giữa hai bên, trong trường hợp một Bên sử dụng quyền thỏa thuận chấm dứt Hợp đồng, đều phải thông báo cho Bên kia trước 30 ngày”

Tuy nhiên Sau khi hết thời gian thử việc tôi vẫn đi làm đến nay và chưa được ký hợp đồng lao động 12 tháng mà chỉ nhận thông báo là Hợp đồng lao động của tôi kéo dài thêm 01 năm.

Như vậy, sau khi hết thử việc tôi vẫn đi làm mà chưa ký Hợp đồng lao động có thời hạn như đã trình bày phía trên thì theo quy định pháp luật hợp đồng của tôi với công ty là Hợp đồng lao động có thời hạn bao lâu hay như thế nào? Nếu tôi tự động chuyển thành Hợp đồng lao động một năm mà công ty chỉ bồi thường một tháng lương và báo trước 30 ngày thì có đúng quy định pháp luật hay không?

>> Luật sư tư vấn pháp luật Lao động, gọi: 1900.6162

Trả lời:

1. Về Hợp đồng lao động:

Điều 29 Bộ luật Lao động 2019 có quy định về kết thúc thời gian thử việc như sau:

Điều 27. Kết thúc thời gian thử việc

1. Khi kết thúc thời gian thử việc, người sử dụng lao động phải thông báo kết quả thử việc cho người lao động.

Trường hợp thử việc đạt yêu cầu thì người sử dụng lao động tiếp tục thực hiện hợp đồng lao động đã giao kết đối với trường hợp thỏa thuận thử việc trong hợp đồng lao động hoặc phải giao kết hợp đồng lao động đối với trường hợp giao kết hợp đồng thử việc.

Trường hợp thử việc không đạt yêu cầu thì chấm dứt hợp đồng lao động đã giao kết hoặc hợp đồng thử việc.

2. Trong thời gian thử việc, mỗi bên có quyền hủy bỏ hợp đồng thử việc hoặc hợp đồng lao động đã giao kết mà không cần báo trước và không phải bồi thường.

Như vậy, về nguyên tắc, sau khi việc làm thử đạt yêu cầu thì người sử dụng lao động phải giao kết hợp đồng lao động với người lao động. Trong thời gian thử việc, nếu việc làm thử không đạt yêu cầu mà hai bên đã thoả thuận thì hai bên có quyền huỷ bỏ thoả thuận thử việc mà không cần báo trước và không phải bồi thường. Theo đó, khi hết thời gian thử việc mà công ty không ký kết hợp đồng lao động với người lao động, người lao động cũng không được thông báo kết quả thử việc và vẫn tiếp tục làm việc cho công ty, thì người lao động đương nhiên được làm việc chính thức. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành không có quy định cụ thể về trường hợp vẫn tiếp tục làm việc sau khi kết thúc thời gian thử việc thì được làm việc chính thức sẽ tương ứng với loại hợp đồng lao động nào và trong thời hạn bao lâu? Do đó, phải căn cứ vào thỏa thuận tại hợp đồng thử việc để biết trường hợp sau khi thử việc đạt yêu cầu thì hai bên sẽ ký hợp đồng lao động loại nào, dùng thông tin này làm cơ sở xác định trách nhiệm thực hiện hợp đồng lao động được xác lập đương nhiên sau thời gian thử việc. Trong trường hợp này của bạn, sau thời gian thử việc mà công ty không ký hợp đồng lao động, cũng không thông báo cho bạn về kết quả thử việc, công ty vẫn giao việc cho bạn làm thì đương nhiên hợp đồng lao động giữa bạn và công ty được xác lập.

4. Về việc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động.

Việc công ty quyết định cho bạn thôi việc mà không có căn cứ, không tuân thủ thời gian báo trước là đơn phương chấm dứt hợp đồng trái pháp luật. Điều 36 Bộ luật lao động 2019 quy định về các trường hợp người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động và thời hạn thông báo khí đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động như sau:

Điều 36. Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người sử dụng lao động

1. Người sử dụng lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trong trường hợp sau đây:

a) Người lao động thường xuyên không hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động được xác định theo tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thành công việc trong quy chế của người sử dụng lao động. Quy chế đánh giá mức độ hoàn thành công việc do người sử dụng lao động ban hành nhưng phải tham khảo ý kiến tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở đối với nơi có tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở;

b) Người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 12 tháng liên tục đối với người làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn hoặc đã điều trị 06 tháng liên tục đối với người làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn từ 12 tháng đến 36 tháng hoặc quá nửa thời hạn hợp đồng lao động đối với người làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa hồi phục.

Khi sức khỏe của người lao động bình phục thì người sử dụng lao động xem xét để tiếp tục giao kết hợp đồng lao động với người lao động;

c) Do thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh nguy hiểm, địch họa hoặc di dời, thu hẹp sản xuất, kinh doanh theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền mà người sử dụng lao động đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng vẫn buộc phải giảm chỗ làm việc;

d) Người lao động không có mặt tại nơi làm việc sau thời hạn quy định tại Điều 31 của Bộ luật này;

đ) Người lao động đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định tại Điều 169 của Bộ luật này, trừ trường hợp có thỏa thuận khác;

e) Người lao động tự ý bỏ việc mà không có lý do chính đáng từ 05 ngày làm việc liên tục trở lên;

g) Người lao động cung cấp không trung thực thông tin theo quy định tại khoản 2 Điều 16 của Bộ luật này khi giao kết hợp đồng lao động làm ảnh hưởng đến việc tuyển dụng người lao động.

2. Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trong trường hợp quy định tại các điểm a, b, c, đ và g khoản 1 Điều này, người sử dụng lao động phải báo trước cho người lao động như sau:

a) Ít nhất 45 ngày đối với hợp đồng lao động không xác định thời hạn;

b) Ít nhất 30 ngày đối với hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn từ 12 tháng đến 36 tháng;

c) Ít nhất 03 ngày làm việc đối với hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn dưới 12 tháng và đối với trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều này;

d) Đối với một số ngành, nghề, công việc đặc thù thì thời hạn báo trước được thực hiện theo quy định của Chính phủ.

3. Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động quy định tại điểm d và điểm e khoản 1 Điều này thì người sử dụng lao động không phải báo trước cho người lao động.

Khi người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật thì người sử dụng lao động phải thực hiện các nghĩa vụ theo quy định tại Điều 41 Bộ luật Lao động 2019:

Điều 41. Nghĩa vụ của người sử dụng lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật

1. Phải nhận người lao động trở lại làm việc theo hợp đồng lao động đã giao kết; phải trả tiền lương, đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp trong những ngày người lao động không được làm việc và phải trả thêm cho người lao động một khoản tiền ít nhất bằng 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động.

Sau khi được nhận lại làm việc, người lao động hoàn trả cho người sử dụng lao động các khoản tiền trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm nếu đã nhận của người sử dụng lao động.

Trường hợp không còn vị trí, công việc đã giao kết trong hợp đồng lao động mà người lao động vẫn muốn làm việc thì hai bên thỏa thuận để sửa đổi, bổ sung hợp đồng lao động.

Trường hợp vi phạm quy định về thời hạn báo trước quy định tại khoản 2 Điều 36 của Bộ luật này thì phải trả một khoản tiền tương ứng với tiền lương theo hợp đồng lao động trong những ngày không báo trước.

2. Trường hợp người lao động không muốn tiếp tục làm việc thì ngoài khoản tiền phải trả quy định tại khoản 1 Điều này người sử dụng lao động phải trả trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 46 của Bộ luật này để chấm dứt hợp đồng lao động.

3. Trường hợp người sử dụng lao động không muốn nhận lại người lao động và người lao động đồng ý thì ngoài khoản tiền người sử dụng lao động phải trả theo quy định tại khoản 1 Điều này và trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 46 của Bộ luật này, hai bên thỏa thuận khoản tiền bồi thường thêm cho người lao động nhưng ít nhất bằng 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động để chấm dứt hợp đồng lao động.

Như vậy, sau khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động với bạn, công ty phải bồi thường cho bạn theo các quy định tại Khoản 1 và Khoản 2 Điều 42 Bộ luật Lao động trích dẫn ở trên.

Để đảm bảo quyền lợi của mình, bạn có thể thông qua Hòa giải viên lao động để giải quyết, nếu trong quá trình hòa giải mà hai bên không thể thỏa thuận được với nhau về các vấn đề thì bạn có thể gửi đơn yêu cầu Tòa án nơi công ty đặt trụ sở giải quyết. Hoặc bạn có thể trực tiếp gửi đơn lên Tòa án mà không cần phải thông qua thủ tục hòa giải. Tòa án nhân dân có thẩm quyền để giải quyết căn cứ theo Điều 32 Bộ luật tố tụng Dân sự 2015 quy định Những tranh chấp về lao động thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật lao động bảo hiểm qua Email [email protected] để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận Tư vấn pháp luật lao động - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Thử việc bao lâu thì phải ký hợp đồng lao động ? Các chế độ được hưởng khi thử việc

Các câu hỏi thường gặp

Câu hỏi: Thời gian thử việc với công việc của người quản lý doanh nghiệp là bao lâu?

Trả lời:

Căn cứ theo Điều số 25 Bộ luật lao động năm 2019 quy định về thời gian thử việc cụ thể thì

thời gian thử việc do hai bên thỏa thuận căn cứ vào tính chất và mức độ phức tạp của công việc nhưng chỉ được thử việc một lần đối với một công việc và bảo đảm điều kiện sau đây:

1. Không quá 180 ngày đối với công việc của người quản lý doanh nghiệp theo quy định của Luật Doanh nghiệp, Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp;

Câu hỏi: Thời gian thử việc với công việc có chức danh nghề nghiệp cần trình độ chuyên môn, kỹ thuật từ cao đẳng trở lên>

Trả lời:

Căn cứ theo Điều số 25 Bộ luật lao động năm 2019 quy định về thời gian thử việc cụ thể thì

thời gian thử việc do hai bên thỏa thuận căn cứ vào tính chất và mức độ phức tạp của công việc nhưng chỉ được thử việc một lần đối với một công việc và bảo đảm điều kiện sau đây:

Không quá 60 ngày đối với công việc có chức danh nghề nghiệp cần trình độ chuyên môn, kỹ thuật từ cao đẳng trở lên;

Câu hỏi: Thời gian thử việc với công việc có chức danh nghề nghiệp cần trình độ chuyên môn, kỹ thuật trung cấp?

Trả lời:

Căn cứ theo Điều số 25 Bộ luật lao động năm 2019 quy định về thời gian thử việc cụ thể thì

thời gian thử việc do hai bên thỏa thuận căn cứ vào tính chất và mức độ phức tạp của công việc nhưng chỉ được thử việc một lần đối với một công việc và bảo đảm điều kiện sau đây:

Không quá 30 ngày đối với công việc có chức danh nghề nghiệp cần trình độ chuyên môn, kỹ thuật trung cấp, công nhân kỹ thuật, nhân viên nghiệp vụ;