1. Không ký kết hợp đồng lao động sau thời gian thử việc đúng hay sai ?

Thưa luật sư! Tôi có 1 việc thế này rất mong được sự tư vấn của luật Minh Khuê tháng 11 năm 2014 tôi có được nhận vào làm và ký hợp đồng thử việc 2 tháng theo diện hợp đồng 68 với 1 cơ quan nhà nước. Công việc của tôi là quét dọn và làm vệ sinh.
Hết thời hạn thử việc tôi vẫn được làm việc nhưng ko thấy được ký hợp đồng tiếp, tôi có hỏi thì nhận được câu trả lời là nhà nước đang yêu cầu cắt giảm cán bộ công nhân viên nên chưa thể ký hợp đồng cho tôi được. Tôi vẫn tiếp tục làm việc từ đó cho tới nay, khi không được ký hđ tôi vẫn phải làm việc và không nhận lương, sau đó cơ quan có cho tôi ký hđ 6 tháng một và lúc đấy mới trả lương 1 cục cho tôi. Sang đầu năm 2017 cơ quan lại tiếp tục không ký hđ và tôi hiện tại đang làm việc không lương. Tiền lương của tôi có trừ đi tiền bh nhưng 3 năm làm việc tôi ko hề nhận được bhyt hay sổ bhxh. Tôi có tham gia công đoàn cơ quan và vẫn phải đóng phí đều đặn.
Tôi xin được hỏi 2 việc đó là:
- Việc không ký hợp đồng với tôi như vậy liệu có được không ? - và tôi có thuộc diện bị cắt giảm lao động không vì lúc tôi vào làm tổ của tôi có 7 người, sau đó 1 người nghỉ hưu và 1 người nghỉ làm, công việc thì được giao thêm nhưng số lượng người làm lại giảm đi 2, và công việc của tôi ngày nào cũng phải làm.
Như vậy có bị coi là dôi dư lao động không ạ. Trong khi tôi thấy ở đó rất nhiều người ko có cũng được, đến toàn ngồi chơi rồi về, thỉnh thoảng mới có việc làm, có người thì ngồi làm 1 cái văn bản nửa tháng mới xong. Tôi cũng có kỹ năng làm văn phòng và tôi có thể đảm nhiệm cả việc quét dọn lẫn văn phòng, nhưng phòng lại giao mấy việc đó cho mấy người đứng tuổi sắp đến tuổi nghỉ hưu, ngôi tập đánh máy từng chữ một. Phòng của tôi thì có đến 3 phó phòng. Nếu tôi mà bị cắt giảm thì tôi cảm thấy vô cùng bất công. Liệu cơ quan đó mà cắt giảm tôi thì tôi có làm đơn khởi kiện được không ?
Tôi rất mong nhận được lời khuyên. Tôi xin chân thành cảm ơn.

Luật sư tư vấn:

Về việc không ký hợp đồng đới với bạn và tính chất công việc của bạn dựa trên quy định tại Điều 1 Nghị định số 68/2000/NĐ-CP của Chính phủ : Thực hiện chế độ hợp đồng một số loại công việc trong cơ về thực hiện chế độ hợp đồng một số loại công việc trong cơ quan hành chính nhà nước, đơn vị sự nghiệp. Căn cứ vào thông tin mà bạn cung cấp và dựa trên quy định tại Khoản 4 Điều 1 Nghị định 68/2000/NĐ-CP quy định như sau:

"Điều 1. Thực hiện chế độ hợp đồng đối với một số loại công việc sau đây trong cơ quan hành chính nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập:

1. Sửa chữa, bảo trì đối với hệ thống cấp điện, cấp, thoát nước ở công sở, xe ô tô và các máy móc, thiết bị khác đang được sử dụng trong cơ quan, đơn vị sự nghiệp;

2. Lái xe;

3. Bảo vệ;

4. Vệ sinh;

................"

Theo đó, có thể thấy công việc của bạn là quét dọn và làm vệ sinh mang tính chất thường xuyên, liên tục. Theo quy định trên thì cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập phải thực hiện ký kết hợp đồng với bạn theo đúng phạm vi công việc được điều chỉnh tại Điều luật trên và phải có trách nhiệm đóng bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội cho bạn theo đúng quy định của Luật Bảo hiểm xã hội.

Hơn nữa, theo như thông tin bạn cung cấp thì tổ của bạn có 7 người nhưng trong số đó 1 người nghỉ hưu và một người nghỉ làm, công việc thì vẫn được giao thêm nhưng số người làm lại giảm đi. Vì vậy để đảm bảo điều kiện và khả năng hoàn thành công việc như trên phía cơ qquan nhà nước, đơn vị sự nghiệp mà bạn đang làm không thể viện lý do cắt giảm biên chế hay dôi dư lao động để chối bỏ tiếp tục lý hợp đồng với bạn được.

"Điều 5.

1.Các công việc quy định tại Điều 1 của Nghị định này được thực hiện thông qua kýkết hợp đồng giữa cơ quan hành chính nhà nước, đơn vị sự nghiệp với cá nhântrực tiếp làm, hoặc cá nhân, tổ chức kinh doanh dịch vụ dưới các dạng: hợp đồngthuê khoán tài sản, hợp đồng dịch vụ, hợp đồng lao động, hợp đồng kinh tế vàcác loại hợp đồng khác theo quy định của pháp luật.

2.Không ký hợp đồng đối với các công việc quy định tại Điều 1 của Nghị định nàykhi những người trong biên chế đang đảm nhận công việc có đủ điều kiện, khảnăng thực hiện."

Về thời hạn hợp đồng trong trường hợp này dựa trên các quy định của BLLĐ 2012 trực tiếp điều chỉnh. Đối với công việc có tinch chất thường xuyên như trên thì phía cơ qaun nhà nước sau khi ký hợp đồng 6 tháng đã hết hạn phải tiến hành gia hạn hợp đồng, nếu tiếp tục làm việc sau khi thời hạn hợp đồng 6 tháng đã hết trong khoảng thời gian 30 ngày sau đó thì phái cơ quan nhà nước phải tiến hành ký tiếp hợp đồng từ 6-36 tháng đối với loại công việc có tính chất này.

Về việc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động đối với trường hợp của bạn, pháp luật lao động quy định cụ thể như sau:

Điều 38. Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người sử dụng lao động

1. Người sử dụng lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trong những trường hợp sau đây:

a) Người lao động thường xuyên không hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động;

b) Người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 12 tháng liên tục đối với người làm theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, đã điều trị 06 tháng liên tục, đối với người lao động làm theo hợp đồng lao động xác định thời hạn và quá nửa thời hạn hợp đồng lao động đối với người làm theo hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa hồi phục.

Khi sức khỏe của người lao động bình phục, thì người lao động được xem xét để tiếp tục giao kết hợp đồng lao động;

c) Do thiên tai, hỏa hoạn hoặc những lý do bất khả kháng khác theo quy định của pháp luật, mà người sử dụng lao động đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng vẫn buộc phải thu hẹp sản xuất, giảm chỗ làm việc;

d) Người lao động không có mặt tại nơi làm việc sau thời hạn quy định tại Điều 33 của Bộ luật này.

2. Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động người sử dụng lao động phải báo cho người lao động biết trước:

a) Ít nhất 45 ngày đối với hợp đồng lao động không xác định thời hạn;

Điều 44. Nghĩa vụ của người sử dụng lao động trong trường hợp thay đổi cơ cấu, công nghệ hoặc vì lý do kinh tế

1. Trường hợp thay đổi cơ cấu, công nghệ mà ảnh hưởng đến việc làm của nhiều người lao động, thì người sử dụng lao động có trách nhiệm xây dựng và thực hiện phương án sử dụng lao động theo quy định tại Điều 46 của Bộ luật này; trường hợp có chỗ làm việc mới thì ưu tiên đào tạo lại người lao động để tiếp tục sử dụng.

Trong trường hợp người sử dụng lao động không thể giải quyết được việc làm mới mà phải cho người lao động thôi việc thì phải trả trợ cấp mất việc làm cho người lao động theo quy định tại Điều 49 của Bộ luật này.

2. Trong trường hợp vì lý do kinh tế mà nhiều người lao động có nguy cơ mất việc làm, phải thôi việc, thì người sử dụng lao động phải xây dựng và thực hiện phương án sử dụng lao động theo quy định tại Điều 46 của Bộ luật này.

Trong trường hợp người sử dụng lao động không thể giải quyết được việc làm mà phải cho người lao động thôi việc thì phải trả trợ cấp mất việc làm cho người lao động theo quy định tại Điều 49 của Bộ luật này.

3. Việc cho thôi việc đối với nhiều người lao động theo quy định tại Điều này chỉ được tiến hành sau khi đã trao đổi với tổ chức đại diện tập thể lao động tại cơ sở và thông báo trước 30 ngày cho cơ quan quản lý nhà nước về lao động cấp tỉnh.

b) Ít nhất 30 ngày đối với hợp đồng lao động xác định thời hạn;

c) Ít nhất 03 ngày làm việc đối với trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều này và đối với hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng."

Như vậy, nếu cơ quan bạn chứng minh được khó khăn vì lý do kinh tế ( tiền chi trả cho HĐLĐ của bạn không được ngân sách nhà nước phê duyệt), nhu cầu về công việc quét dọn cần giảm lao động,...có phương án sử dụng lao động phù hợp với Điều 46 BLLĐ 2012 thì hoàn toàn có thể cho bạn thôi việc và bạn sẽ được hưởng trợ cấp thất nghiệp theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ Luật sư tư vấn pháp luật Lao động về ký hợp đồng lao động, gọi: 1900.6162 để được giải đáp. Rất mong nhận được sự hợp tác! Trân trọng./.

2. Trả mức lương thử việc thấp hơn 85% có bị phạt không ?

Kính thưa công ty: Tôi mới ra trường đi làm vị trí nhân viên kinh doanh của công ty. Lương chính thức của tôi khi trao đổi là 7 triệu đồng, nhưng thử việc họ chỉ trả 5 triệu đồng, mà tôi được biết là lương thử việc phải là 85% lương khi làm chính thức. Như thế có bị vi phạm không và mức xử phạt là bao nhiêu?
Cảm ơn!

Trả lời:

Theo điều số 27 Bộ luật lao động năm 2012 quy định về thời gian thử việc cụ thể như sau :

Điều 27. Thời gian thử việc

Thời gian thử việc căn cứ vào tính chất và mức độ phức tạp của công việc nhưng chỉ được thử việc 01 lần đối với một công việc và bảo đảm các điều kiện sau đây:

1. Không quá 60 ngày đối với công việc có chức danh nghề cần trình độ chuyên môn, kỹ thuật từ cao đẳng trở lên;

2. Không quá 30 ngày đối với công việc có chức danh nghề cần trình độ chuyên môn kỹ thuật trung cấp nghề, trung cấp chuyên nghiệp, công nhân kỹ thuật, nhân viên nghiệp vụ.

3. Không quá 6 ngày làm việc đối với công việc khác.

Theo điều số 28 Bộ luật lao động năm 2012 quy định về Tiền lương trong thời gian thử việc như sau:

Điều 28. Tiền lương trong thời gian thử việc

Tiền lương của người lao động trong thời gian thử việc do hai bên thoả thuận nhưng ít nhất phải bằng 85% mức lương của công việc đó.

Như vậy, doanh nghiệp sẽ phải trả cho người lao động ít nhất là 85% mức lương của công việc đó cho người lao động khi ký hợp đồng thử việc.

Theo điều 6 Nghị định Số: 4756/VBHN-BLĐTBXH Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội, đưa người lao động việt nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng quy định xử phạt vi phạm hành chính vể quy định thử việc :

Điều 6. Vi phạm quy định về thử việc

1. Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với người sử dụng lao động khi có một trong các hành vi sau đây:

a) Yêu cầu thử việc đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động theo mùa vụ;

b) Không thông báo kết quả công việc người lao động đã làm thử theo quy định của pháp luật.

2. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với người sử dụng lao động có một trong các hành vi sau đây:

a) Yêu cầu người lao động thử việc quá 01 lần đối với một công việc;

b) Thử việc quá thời gian quy định;

c) Trả lương cho người lao động trong thời gian thử việc thấp hơn 85% mức lương của công việc đó;

d) Kết thúc thời gian thử việc, người lao động vẫn tiếp tục làm việc mà người sử dụng lao động không giao kết hợp đồng lao động với người lao động.

3. Biện pháp khắc phục hậu quả:

Buộc trả đủ 100% tiền lương của công việc đó cho người lao động đối với hành vi vi phạm quy định tại Điểm a Khoản 1, Điểm a, Điểm b và Điểm c Khoản 2 Điều này.

Như bạn vừa nêu ra, công ty tuyển dụng bạn đã trả mức lương là 5.000.000 đồng cho vị trí công việc có mức lương chính là 7.000.000 đồng là vi phạm về mức lương tại thời gian thử việc. Và việc công ty trả lương cho bạn như vậy là sai quy định của pháp luật. Bạn có thể yêu cầu công ty trả mức lương cao tương ứng 85% mức lương cho vị trí công việc của bạn. Phía công ty vi phạm thì công ty sẽ bị phạt từ 2.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng .

Ngoài ra bạn có thể xem thêm nội dung khi kết thúc thời gian thử việc theo quy định tại điều 29 Bộ luật lao động năm 2012 dưới đây:

Điều 29. Kết thúc thời gian thử việc

1. Khi việc làm thử đạt yêu cầu thì người sử dụng lao động phải giao kết hợp đồng lao động với người lao động.

2. Trong thời gian thử việc, mỗi bên có quyền huỷ bỏ thoả thuận thử việc mà không cần báo trước và không phải bồi thường nếu việc làm thử không đạt yêu cầu mà hai bên đã thoả thuận.

Bạn có thể tham khảo thêm về quy định thử việc tại bộ luật lao động năm 2012 để biết thêm:

Điều 26. Thử việc

1. Người sử dụng lao động và người lao động có thể thoả thuận về việc làm thử, quyền, nghĩa vụ của hai bên trong thời gian thử việc. Nếu có thoả thuận về việc làm thử thì các bên có thể giao kết hợp đồng thử việc.

Nội dung của hợp đồng thử việc gồm các nội dung quy định tại các điểm a, b, c, d, đ, g và h khoản 1 Điều 23 của Bộ luật này.

2. Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động mùa vụ thì không phải thử việc.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ Luật sư tư vấn pháp luật lao động trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi số: 1900.6162 để được giải đáp. Rất mong nhận được sự hợp tác!

3. Tư vấn về vấn đề bị chấm dứt HĐLĐ của NLĐ khi qua thời gian thử việc ?

Kính gửi: Đoàn luật sư Minh Khuê.Tôi tên Bình, Trình độ: Đại học, xin Có một số nội dung xin nhờ Đoàn luật sư Minh Khuê tư vấn.1. Có phải Người sử dụng đơn phương chấm dứt HĐLĐ trái pháp luật không?Tôi vào công ty A làm việc (từ ngày 21/9/2015 đến hết ngày 31/01/2016) được 4 tháng 10 ngày thì bị Công ty đơn phương chấm dứt HĐLĐ.
Theo luật lao động thì thời gian thử việc: Không quá 60 ngày đối với trình độ Đại học, không quá 30 ngày đối với trình độ Trung cấp, Bằng nghề, không quá 06 ngày đối lao động khác.- Qua hết thời gian thử việc 60 ngày tôi đã làm tờ trình đề nghị người sử dụng lao động ký HĐLĐ nhưng Người sử dụng lao động không ký và vẫn để cho tôi tiếp tục làm việc đến ngày 31/01/2016 mới làm quyết định Chấm dứt HĐLĐ.- Thời điểm nhận quyết định: 20/01/2016 (Thời gian báo trước 10 ngày)- Trong thời gian làm việc không vi phạm kỷ luật nội quy của công ty.2. BHXH, BHYT, BHTN được Người sử dụng lao động cho chuyển tiếp từ đơn vị cũ đến từ tháng 10/2015. Do quá trình nhân viên phụ trách làm thủ tục báo tăng trể hết 01 tháng (tháng 10/2015). Đến tháng 12/2015 làm truy đóng BHXH, BHYT, BHTN. Người sử dụng lao động khấu trừ luôn cả khoản 22% của doanh nghiệp vào người lao động.3. Không chi trả tiền phép năm trong thời gian làm việc. Theo luật lao động thì ngày phép năm được tính là ngày kể cả thời gian thử việc, học việc, đào tạo.
Kính mong nhận được sự tư vấn sớm của Đoàn luật sư Minh khuê.Trân trọng cám ơn!

>> Luật sư tư vấn trực tiếp về pháp luật lao động gọi: 1900.6162

Trả lời:

Theo quy định về chế độ thử việc, khi hết thời gian thử việc mà Công ty không ký kết HĐLĐ cho NLĐ, NLĐ không được thông báo kết quả thử việc mà vẫn tiếp tục làm việc thì có thể được làm việc chính thức.

Tuy nhiên pháp luật không có quy định cụ thể trường hợp đương nhiên được làm việc chính thức sẽ tương ứng với loại HĐLĐ có xác định thời hạn bao lâu, do đó cần thiết phải căn cứ vào thỏa thuận tại hợp đồng thử việc để biết trường hợp sau khi thử việc đạt yêu cầu thì hai bên sẽ ký HĐLĐ loại gì, dùng làm cơ sở xác định trách nhiệm thực hiện HĐLĐ đã được xác lập đương nhiên sau thời gian thử việc.

Trong trường hợp của bạn, qua hết thời gian thử việc 60 ngày tôi đã làm tờ trình đề nghị người sử dụng lao động ký HĐLĐ nhưng Người sử dụng lao động không ký và vẫn để cho tôi tiếp tục làm việc đến ngày 31/01/2016 thì HĐLĐ đương nhiên được xác lập.

Sau khi kết thúc thời gian thử việc Công ty đề nghị chấm dứt quan hệ lao động với NLĐ, trường hợp NLĐ đồng ý thì hai bên thỏa thuận chấm dứt quan hệ lao động đó. Trường hợp NLĐ không đồng ý, Công ty đơn phương chấm dứt HĐLĐ đã được xác lập đương nhiên sau thời gian thử việc, thì phải thực hiện đúng quy định tại Điều 38 Bộ luật Lao động, việc đơn phương chấm dứt HĐLĐ phải có căn cứ và tuân thủ thời gian báo trước cho NLĐ.

Điều 38 Bộ luật lao động số 10/2012/QH13 quy định:

"1. Người sử dụng lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trong những trường hợp sau đây:

a) Người lao động thường xuyên không hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động;

b) Người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 12 tháng liên tục đối với người làm theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, đã điều trị 06 tháng liên tục, đối với người lao động làm theo hợp đồng lao động xác định thời hạn và quá nửa thời hạn hợp đồng lao động đối với người làm theo hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa hồi phục.

Khi sức khỏe của người lao động bình phục, thì người lao động được xem xét để tiếp tục giao kết hợp đồng lao động;

c) Do thiên tai, hỏa hoạn hoặc những lý do bất khả kháng khác theo quy định của pháp luật, mà người sử dụng lao động đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng vẫn buộc phải thu hẹp sản xuất, giảm chỗ làm việc;

d) Người lao động không có mặt tại nơi làm việc sau thời hạn quy định tại Điều 33 của Bộ luật này.

2. Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động người sử dụng lao động phải báo cho người lao động biết trước:

a) Ít nhất 45 ngày đối với hợp đồng lao động không xác định thời hạn;

b) Ít nhất 30 ngày đối với hợp đồng lao động xác định thời hạn;

c) Ít nhất 03 ngày làm việc đối với trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều này và đối với hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng."

Căn cứ vào Điều 38 Bộ Luật lao động năm 2012 và những thông tin bạn cung cấp, trong trường hợp của bạn, NSDLĐ đã đơn phương chấm dứt hợp đồng trái pháp luật.

2. Người sử dụng lao động khấu trừ luôn cả khoản 22% của doanh nghiệp vào người lao động ?

Căn cứ điểm a Khoản 1 điều 2, khoản 1 Điều 86, khoản 1 Điều 85 Luật bảo hiểm xã hội số 58/2014/QH13 của Quốc hội; điểm a khoản 1 Điều 57 Luật số 38/2013/QH13 của Quốc hội : Luật việc làm; điểm a khoản 1 Điều 12 và khoản 1 Điều 13 Luật Bảo hiểm y tế năm 2008 sửa đổi bổ sung năm 2014.

Hàng tháng NSDLĐ phải đóng 22% tính trên tiền lương tháng của NLĐ vào quỹ BHXH, BHYT, BHTN. NLĐ phải đóng 10,5% tiền lương tháng vào quỹ BHXH, BHYT, BHTN.

Như vậy, việc NSDLĐ khấu trừ luôn 22% của doanh nghiệp vào NLĐ là sai.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 201 Bộ luật lao động năm 2012, tranh chấp lao động cá nhân về bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội, về bảo hiểm y tế theo quy định của pháp luật về bảo hiểm y tế bạn có thể gửi đơn lên toàn án nhân dân cấp huyện nơi đặt trụ sở của công ty để giải quyết.

3. Không chi trả tiền phép năm trong thời gian làm việc ?

Khoản 1 Điều 144 Bộ luật lao động năm 2012 quy định:"Người lao động do thôi việc, bị mất việc làm hoặc vì các lý do khác mà chưa nghỉ hằng năm hoặc chưa nghỉ hết số ngày nghỉ hằng năm thì được thanh toán bằng tiền những ngày chưa nghỉ."

Nếu qua thương lượng trực tiếp mà NSDLĐ không đồng ý trả tiền, bạn có quyền làm đơn yêu cầu Hội đồng hòa giải cơ sở (nếu Công ty có Hội đồng hòa giải) hoặc yêu cầu cơ quan lao động cấp huyện cử hòa giải viên lao động (nếu công ty không có Hội đồng hòa giải) để hòa giải. Bạn cũng có thể nhờ công đoàn cơ quan giúp bạn thương lượng. Nếu hòa giải không thành, bạn có quyền làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân có thẩm quyền xét xử.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật lao động bảo hiểm qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác!

4. Hợp đồng lao động thử việc tự chuyển thành hợp đồng lao động được không ?

Hiện tại tôi đang làm việc tại công ty đã được hơn 3 tháng, tôi đã hoành thành thử việc 2 tháng vào 16/07/2018. Đến cuối tháng 8 công ty thông báo là do khó khăn tài chính nên cắt giảm nhận sự, công ty sẽ trả cho tôi 01 tháng lương đến hết ngày 30/9.

Và yêu cầu tôi viết đơn xin nghỉ. Tôi có thắc mắc là hợp đồng lao động 1 năm mà chỉ đền bù có 1 tháng lương kèm thông báo trước 30 ngày thì có đúng luật không. Công ty tôi giải thích: Trong hợp đồng này thì công ty có đưa ra Điều khoản số 5 :

Căn cứ theo Điều 5 của Hợp đồng lao động đã kí kết, cụ thể:

Điều 5: Thỏa thuận chấm dứt Hợp đồng lao động trước thời hạn:

“Khi Người sử dụng lao động có nhu cầu thay đổi về nhân sự Công ty sẽ báo trước cho Người lao động 30 ngày. Trong trường hợp này, công ty sẽ không có trách nhiệm bồi thường bất cứ chi phí hay khoản tiền công, tiền lương nào đối với Người lao động.

Khi Người lao động muốn đơn phương chấm dứt Hợp đồng lao động trước thời hạn, sẽ báo trước cho bên sử dụng lao động tối thiểu 30 ngày. Điều khoản này đã được Hai Bên thỏa thuận, được nêu rõ trong HĐLĐ ký kết trước đây. Nội dung điều khoản này cũng thể hiện sự công bằng giữa hai bên, trong trường hợp một Bên sử dụng quyền thỏa thuận chấm dứt Hợp đồng, đều phải thông báo cho Bên kia trước 30 ngày”

Tuy nhiên Sau khi hết thử việc (16/07/2018) tôi vẫn đi làm đến này và chưa ký hợp động lao động 12 tháng mà chỉ nhận thông báo là Hợp đồng lao động của tôi kéo dài 17/07/ 2018 đến 30/09/2018.

Do đó có 2 vấn để tôi muốn hỏi:

1. Sau khi hết thử việc tôi vẫn đi làm mà chưa ký Hợp đồng lao động có thời hạn như đã trình bày phía trên thì theo quy định pháp luật hợp đồng của tôi với công ty là Hợp đồng lao động có thời hạn bao lâu hay như thế nào?

2. Nếu tôi tự động chuyển thành Hợp đồng lao động một năm mà công ty chỉ bồi thường một tháng lương và báo trước 30 ngày thì có đúng quy định pháp luật hay không?

>> Luật sư tư vấn pháp luật Lao động, gọi: 1900.6162

Luật sư tư vấn:

1. Sau khi hết thử việc tôi vẫn đi làm mà chưa ký Hợp đồng lao động có thời hạn như đã trình bày phía trên thì theo quy định pháp luật hợp đồng của tôi với công ty là Hợp đồng lao động có thời hạn bao lâu hay như thế nào?

Điều 29 Bộ luật Lao động 2012 có quy định về kết thúc thời gian thử việc như sau:

“1. Khi việc làm thử đạt yêu cầu thì người sử dụng lao động phải giao kết hợp đồng lao động với người lao động.

2. Trong thời gian thử việc, mỗi bên có quyền huỷ bỏ thoả thuận thử việc mà không cần báo trước và không phải bồi thường nếu việc làm thử không đạt yêu cầu mà hai bên đã thoả thuận.”

Như vậy, về nguyên tắc, sau khi việc làm thử đạt yêu cầu thì người sử dụng lao động phải giao kết hợp đồng lao động với người lao động. Trong thời gian thử việc, nếu việc làm thử không đạt yêu cầu mà hai bên đã thoả thuận thì hai bên có quyền huỷ bỏ thoả thuận thử việc mà không cần báo trước và không phải bồi thường. Theo đó, khi hết thời gian thử việc mà công ty không ký kết hợp đồng lao động với người lao động, người lao động cũng không được thông báo kết quả thử việc và vẫn tiếp tục làm việc cho công ty, thì người lao động đương nhiên được làm việc chính thức. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành không có quy định cụ thể về trường hợp vẫn tiếp tục làm việc sau khi kết thúc thời gian thử việc thì được làm việc chính thức sẽ tương ứng với loại hợp đồng lao động nào và trong thời hạn bao lâu? Do đó, phải căn cứ vào thỏa thuận tại hợp đồng thử việc để biết trường hợp sau khi thử việc đạt yêu cầu thì hai bên sẽ ký hợp đồng lao động loại nào, dùng thông tin này làm cơ sở xác định trách nhiệm thực hiện hợp đồng lao động được xác lập đương nhiên sau thời gian thử việc. Trong trường hợp này của bạn, sau thời gian thử việc mà công ty không ký hợp đồng lao động, cũng không thông báo cho bạn về kết quả thử việc, công ty vẫn giao việc cho bạn làm thì đương nhiên hợp đồng lao động giữa bạn và công ty được xác lập.

2. Nếu tôi tự động chuyển thành Hợp đồng lao động một năm mà công ty chỉ bồi thường một tháng lương và báo trước 30 ngày thì có đúng quy định pháp luật hay không?

Việc công ty quyết định cho bạn thôi việc mà không có căn cứ, không tuân thủ thời gian báo trước là đơn phương chấm dứt hợp đồng trái pháp luật.

Điều 38 BLLĐ 2012 quy định về các trường hợp người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động và thời hạn thông báo khí đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động như sau:

“1. Người sử dụng lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trong những trường hợp sau đây:

a) Người lao động thường xuyên không hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động;

b) Người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 12 tháng liên tục đối với người làm theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, đã điều trị 06 tháng liên tục, đối với người lao động làm theo hợp đồng lao động xác định thời hạn và quá nửa thời hạn hợp đồng lao động đối với người làm theo hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa hồi phục.

Khi sức khỏe của người lao động bình phục, thì người lao động được xem xét để tiếp tục giao kết hợp đồng lao động;

c) Do thiên tai, hỏa hoạn hoặc những lý do bất khả kháng khác theo quy định của pháp luật, mà người sử dụng lao động đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng vẫn buộc phải thu hẹp sản xuất, giảm chỗ làm việc;

d) Người lao động không có mặt tại nơi làm việc sau thời hạn quy định tại Điều 33 của Bộ luật này.

2. Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động người sử dụng lao động phải báo cho người lao động biết trước:

a) Ít nhất 45 ngày đối với hợp đồng lao động không xác định thời hạn;

b) Ít nhất 30 ngày đối với hợp đồng lao động xác định thời hạn;

c) Ít nhất 03 ngày làm việc đối với trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều này và đối với hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng.”

Khi người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật thì người sử dụng lao động phải thực hiện các nghĩa vụ theo quy định tại Điều 42 Bộ luật Lao động 2012:

“1. Phải nhận người lao động trở lại làm việc theo hợp đồng lao động đã giao kết và phải trả tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế trong những ngày người lao động không được làm việc cộng với ít nhất 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động.

2. Trường hợp người lao động không muốn tiếp tục làm việc, thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này người sử dụng lao động phải trả trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 48 của Bộ luật này.

3. Trường hợp người sử dụng lao động không muốn nhận lại người lao động và người lao động đồng ý, thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này và trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 48 của Bộ luật này, hai bên thỏa thuận khoản tiền bồi thường thêm nhưng ít nhất phải bằng 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động để chấm dứt hợp đồng lao động.”

4. Trường hợp không còn vị trí, công việc đã giao kết trong hợp đồng lao động mà người lao động vẫn muốn làm việc thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này, hai bên thương lượng để sửa đổi, bổ sung hợp đồng lao động.

5. Trường hợp vi phạm quy định về thời hạn báo trước thì phải bồi thường cho người lao động một khoản tiền tương ứng với tiền lương của người lao động trong những ngày không báo trước.

Như vậy, sau khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động với bạn, công ty phải bồi thường cho bạn theo các quy định tại Khoản 1 và Khoản 2 Điều 42 BLLĐ 2012.

Để đảm bảo quyền lợi của mình, bạn có thể thông qua Hòa giải viên lao động để giải quyết, nếu trong quá trình hòa giải mà hai bên không thể thỏa thuận được với nhau về các vấn đề thì bạn có thể gửi đơn yêu cầu Tòa án nơi công ty đặt trụ sở giải quyết. Hoặc bạn có thể trực tiếp gửi đơn lên Tòa án mà không cần phải thông qua thủ tục hòa giải. Tòa án nhân dân có thẩm quyền để giải quyết căn cứ theo Điều 32 Bộ luật tố tụng Dân sự 2015 quy định Những tranh chấp về lao động thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

Trên đây là tư vấn của chúng tôi. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi ngay số: 1900.6162 để được giải đáp. Rất mong nhận được sự hợp tác!

5. Có phải bồi thường thiệt hại khi đã hết thời gian thử việc ?

Thưa luật sư, mong luật sư tư vấn giúp em trường hợp sau: Em có kí hợp đồng thử việc với chức vụ Quản lý bán hàng (8h/ ngày) tại công ty được 2 tháng. Sau 2 tháng em, em xin nghỉ việc vì ở cửa hàng không có an ninh, camera không có, hệ thống chống trộm không có, hàng hóa tự ý cho về, không thể sắp xếp được.
Sau khi kết thúc hợp đồng thử việc ngày 29/01/2016 ( em kí ngày 30/11/2015 ) em xin thôi việc, lúc này công ty không cho, còn nói đã làm qua 29/01/2016 là công ty tự động gia hạn, nhưng theo em biết, nếu vậy thì trước 1 tuần hết hợp đồng công ty phải cho em biết kết quả thử việc ra sao, có tiếp tục không nhưng công ty im lặng đến khi em nghỉ việc thì không cho, và yêu cầu làm thêm 16 ngày nữa, để bàn giao công viêc, dù đã có người thế vị trí quản lý. Ngày 16/02/2016 người công ty xuống kiểm thì mất 32 món hàng, ngày 15/03/2016 báo tổng hàng mất là 14 triệu 500 ngàn đồng. và yêu cầu em xác nhận mail để bồi thường, em không xác nhận cũng xem như là em đồng ý. Em thấy không hợp lý, vì khi em tiếp nhận cửa hàng thì giao là người của công ty kiểm hàng chứ không phải bản thân em, lúc kiểm hàng có hành vi gian lận do nhân viên cũ em không biết là ai nhưng khi kiểm gần xong công ty mới báo và lờ đi không kiểm lại lần 2 rồi bắt em ký xác nhận vào, dù em không đứng ra kiểm.
Lúc giao trả cửa hàng để nghỉ việc cũng vậy, người công ty xuống kiểm, rồi báo mất 32 món, lại tiếp tục bắt em ký, Sau 1 tháng ( 15/03/2016 ) báo tổng đền bù là 14 triệu 500 ngàn đồng và nói là do nhân viên lấy. Họ có trả em 10 ngày lương làm thêm, và giam lương lại 6 ngày, nhưng 10 ngày lương họ trả họ tính theo lương thử việc ( tức là 2 tháng trả lương thử việc và họ trả thêm 10 ngày lương thử việc khi bắt em ở lại làm thêm, giam lương lại phần còn lại ) Em thấy sự việc có nhiều khúc mắt xin nhờ luật sư tư vấn giúp em có phải bồi thường thiệt hại không? Vì khi em đã hết hợp đồng thử việc và công ty không chứng minh được là tại sao mất hàng, cũng như khi giao hàng ký nhận bàn giao là đã ngoài thời gian của hợp đồng thử việc.
Em xin chân thành cảm ơn.

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi những thắc mắc của bạn đến công ty Luật Minh Khuê. Với những thông tin bạn cung cấp chúng tôi xin tư vấn cho bạn như sau:

Điều 29 Bộ luật lao động 2012 quy định về hợp đồng thử việc như sau:

"1. Khi việc làm thử đạt yêu cầu thì người sử dụng lao động phải giao kết hợp đồng lao động với người lao động.

2. Trong thời gian thử việc, mỗi bên có quyền huỷ bỏ thoả thuận thử việc mà không cần báo trước và không phải bồi thường nếu việc làm thử không đạt yêu cầu mà hai bên đã thoả thuận."

Theo điều 130, 131 Bộ luật lao động 2012 quy định:

"Điều 130. Bồi thường thiệt hại

1. Người lao động làm hư hỏng dụng cụ, thiết bị hoặc có hành vi khác gây thiệt hại tài sản của người sử dụng lao động thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.

Trường hợp người lao động gây thiệt hại không nghiêm trọng do sơ suất với giá trị không quá 10 tháng lương tối thiểu vùng do Chính phủ công bố được áp dụng tại nơi người lao động làm việc, thì người lao động phải bồi thường nhiều nhất là 03 tháng tiền lương và bị khấu trừ hằng tháng vào lương theo quy định tại khoản 3 Điều 101 của Bộ luật này.

2. Người lao động làm mất dụng cụ, thiết bị, tài sản của người sử dụng lao động hoặc tài sản khác do người sử dụng lao động giao hoặc tiêu hao vật tư quá định mức cho phép thì phải bồi thường thiệt hại một phần hoặc toàn bộ theo thời giá thị trường; trường hợp có hợp đồng trách nhiệm thì phải bồi thường theo hợp đồng trách nhiệm; trường hợp do thiên tai, hoả hoạn, địch họa, dịch bệnh, thảm họa, sự kiện xảy ra khách quan không thể lường trước được và không thể khắc phục được mặc dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép thì không phải bồi thường."

"Điều 131. Nguyên tắc và trình tự, thủ tục xử lý bồi thường thiệt hại

1. Việc xem xét, quyết định mức bồi thường thiệt hại phải căn cứ vào lỗi, mức độ thiệt hại thực tế và hoàn cảnh thực tế gia đình, nhân thân và tài sản của người lao động.

2. Trình tự, thủ tục, thời hiệu xử lý việc bồi thường thiệt hại được áp dụng theo quy định tại Điều 123 và Điều 124 của Bộ luật này."

Theo thông tin bạn cung cấp cho chúng tôi sau khi bạn kết thúc hợp đồng thử việc ở công ty nhưng công ty bạn không giao kết hợp đồng lao động mới với bạn mà vẫn giao việc cho bạn làm thì trong trường hợp này hợp đồng lao động giữa bạn và công ty đã mặc nhiên được xác lập, công ty không giao kết hợp đồng lao động chính thức với bạn là đang làm trái quy định của pháp luật.

Trong quá trình bạn làm việc, người công ty xuống kiểm tra thì mất 32 món hàng và công ty đã yêu cầu bạn phải bồi thường thiệt hại. Để xác định xem trong trường hợp này bạn có phải bồi thường thiệt hại cho công ty hay không thì công ty của bạn phải chứng minh được có thiệt hại thực tế xảy ra, chứng minh về lỗi của bạn. Nếu công ty không chứng minh được trong trường hợp này bạn không phải bồi thường thiệt hại cho công ty.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật lao động bảo hiểm qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận Tư vấn pháp luật lao động - Công ty luật Minh Khuê