1. Khái niệm vỡ nợ

- Vỡ nợ là tình trạng người vay không còn đủ khả năng để thanh toán lãi và gốc của các khoản nợ vay hay chứng khoán khi đến hạn. Tình trạng này có thể xảy ra các khoản nợ có bảo đảm, khoản nợ không bảo đảm, khoản vay sinh viên, hợp đồng tương lai, quốc gia

- Phân biệt vỡ nợ và phá sản: Nhiều người sẽ cho rằng vỡ nợ chính là phá sản. Tuy nhiên đây là hai khái niệm hoàn toàn khác nhau, cụ thể:

+ Vỡ nợ là việc không đủ khả năng thanh toán khoản nợ vào thời điểm hiện tại do đến kỳ hạn thanh toán nợ không thực hiện nghĩa vụ trả nợ. Tuy nhiên có thể tái cấu trúc để nhanh chóng kiếm được tiền trả nợ, hoặc sử dụng các biện pháp khác để huy động vốn trả nợ.

+ Phá sản được hiểu là cấp độ cuối cùng của vỡ nợ, mất hoàn toàn khả năng thanh toán khoản nợ, có nghĩa không còn 1 tài sản nào nữa để có thể bán đi và thanh toán cho bên vay. Về cơ bản có nghĩa là bên nợ không còn tài sản nào, nguồn tiền hết sạch không còn gì để có thể trả được nợ đó nữa.

2. Đặc điểm 

Thứ nhất, chủ thể vỡ nợ có thể là các cá nhân, doanh nghiệp và thậm chí các quốc gia có thể rơi vào tình trạng vỡ nợ nếu không thể tiếp tục nghĩa vụ nợ của mình. Bất cứ ai đều có thể rơi vào tình trạng vỡ nợ nếu không còn đủ khả năng để thanh toán lãi và gốc khi đến hạn. 

Thứ hai, vỡ nợ có thể xảy ra trên các khoản nợ có bảo đảm, khoản nợ không bảo đảm, khoản vay sinh viên, hợp đồng tương lai, quốc gia. Ví dụ: Vỡ nợ có thể xảy ra với các khoản vay thế chấp tài sản như vay mua nhà, vay kinh doanh, vay mua xe...

Thứ ba, vỡ nợ ảnh hưởng và tác động xấu đến tín dụng cũng như khả năng vay vốn trong tương lai của người đi vay.

3. Nguyên nhân vỡ nợ

Hiện nay, tình trạng vỡ nợ có thể đến từ nhiều nguyên nhân khác nhau, có thể điểm qua một số nguyên nhân như là:

- Đối với cá nhân, doanh nghiệp vỡ nợ có thể đến từ đầu tư thua lỗ, thất bại: Hầu hết mọi người sẽ chọn vay vốn để đầu tư, sau đó kiếm lời và thanh toán khoản vay, nhưng thị trường luôn biến động không ngừng, do đó rủi ro thua lỗ rất dễ xảy ra và lúc này mọi người sẽ mất trắng số tiền vốn đã đầu tư và không đủ khả năng để tất toán khoản vay. Khi đó, vỡ nợ có thể xảy ra. Ngoài ra, đối với doanh nghiệp vỡ nợ có thể xảy ra trong chứng khoán. Theo đó, nếu một công ty phát hành trái phiếu, vay mượn từ các nhà đầu tư nhưng không thể thực hiện thanh toán trả nợ cho các trái chủ thì công ty đó được xem là vỡ nợ.

- Đối với vỡ nợ quốc gia vỡ nợ do không đủ tiền trả nợ gốc và lãi theo đúng thời hạn. Theo đó, mỗi một khoản vay khi thực hiện đều có mục đích riêng, và tất nhiên khoản vay của Chính phủ cũng vậy, vay để thực hiện các dự án, thực hiện các công trình nhằm mang lại lợi ích kinh tế cho quốc gia. Những khoản vay đó sẽ vỡ nợ khi:

+ Đầu tư vào các dự án không khả thi, không cho hiệu quả lợi nhuận khả thi

+ Sự tác động chung của nền kinh tế, chính trị hàng đầu thế giới, lấy điển hình trong 2 năm qua nhiều quốc gia vỡ nợ do tác động của Covid 19.

+ Vấn đề kinh tế nội tại: Một quốc gia đa có nền kinh tế thấp, không phát triển và một nền tài chính không ổn định nhưng vay tiền về sử dụng vào những dự án viễn vong thì sớm muộn cũng vỡ nợ.

+ Sập bẫy cho vay của một số quốc gia lớn

+ Vấn đề tham nhũng: Tiền đã đi vay về làm dự án, nhưng dự án lại làm không xong trong khi tham nhũng hết tiền.

4. Các trường hợp vỡ nợ

Có rất nhiều trường hợp vỡ nợ có thể xảy ra mà nó không có một quy định cụ thể nào. Nhưng chung quy lại vỡ nợ xảy ra khi bản thân cá nhân, tổ chức hay 1 đất nước không đủ khả năng tài chính chi trả khoản nợ bao gồm tiền gốc và tiên lãi theo quy định. Theo đó, vỡ nợ thường xảy ra trên các khoản nợ có bảo đảm, khoản nợ không bảo đảm, khoản vay sinh viên, hợp đồng tương lai, vỡ nợ quốc gia.

- Vỡ nợ trên khoản nợ có bảo đảm: Khi một cá nhân, một doanh nghiệp hoặc một quốc gia vỡ nợ, người cho vay hoặc nhà đầu tư sẽ truy đòi lại các khoản tiền của họ. Trong một khoản vay có bảo đảm, người cho vay có yêu cầu pháp lí đối với tài sản để đáp ứng khoản vay. Ví dụ, nanh A dùng căn nhà của mình để thế chấp vay 50 tỷ chẳng hạn, đến hạn thanh toán thì anh A không đủ khả năng, gia hạn cuối cùng cũng không thể trả. Thì căn nhà đó sẽ thuộc về bên cho vay, họ sẽ bán hoặc đấu giá để thu hồi vốn của mình.

- Vỡ nợ trên khoản nợ không có bảo đảm: Vỡ nợ cũng có thể xảy ra đối với các khoản nợ không có bảo đảm như hóa đơn y tế và nợ thẻ tín dụng. Với khoản nợ không có bảo đảm, không có tài sản nào đảm bảo khoản nợ, nhưng người cho vay vẫn có quyền truy đòi pháp lí trong trường hợp vỡ nợ. Phán quyết sẽ thuộc về tòa án, cho phép các chủ nợ có quyền chiếm hữu tài sản của người vay nếu họ không thực hiện nghĩa vụ nợ theo hợp đồng. 

- Vỡ nợ trên khoản vay sinh viên: Khoản vay sinh viên đến từ các hình thức như: 

  • Một là, Vay vốn ngân hàng bằng hình thức tín chấp. Hình thức này chỉ áp dụng cho sinh viên đã đi làm, có thu nhập mỗi tháng.
  • Hai là, Vay vốn từ các quỹ tín dụng của xã hội. Sinh viên có thể vay vốn từ các quỹ như quỹ sinh viên, quỹ khuyến học…
  • Ba là, Vay vốn từ ngân hàng chính sách và xã hội. Đây là ngân hàng có nhiều chính sách hỗ trợ từ nhà nước và xã hội cho các bạn sinh viên có thêm cơ hội để đến trường.
  • Bồn là, Vay ngân hàng thông qua thẻ tín dụng.
  • Ngoài ra còn có các ngân hàng khác hỗ trợ vay vốn sinh viên. Điển hình là Ngân hàng Nông nghiệp và Phát Triển Nông Thôn.

Vì thế dưới bất kì hình thức nào, khi sinh viên không đủ khả năng trả khoản nợ mà vay theo các hình thức trên thì vỡ nợ trên khoản vay sinh viên sẽ xảy ra.

- Vỡ nợ trên hợp đồng tương lai: Vỡ nợ trên hợp đồng tương lai xảy ra khi một bên không thực hiện các nghĩa vụ được quy định trong thỏa thuận. Vỡ nợ ở đây liên quan đến việc không giải quyết hợp đồng trước ngày yêu cầu. Một bên của hợp đồng đồng ý mua vào một ngày với giá cụ thể trong khi bên kia đồng ý bán tại các mốc quan trọng trong hợp đồng.

- Vỡ nợ quốc gia: Vỡ nợ quốc gia xảy ra khi một quốc gia không thể trả nợ. Trái phiếu chính phủ được phát hành bởi chính phủ để huy động tiền đầu tư cho các dự án hoặc hoạt động hàng ngày. Nếu một quốc gia vỡ nợ, sự phân nhánh có thể nghiêm trọng và dẫn đến sự sụp đổ của thị trường tài chính tại đất nước đó. Nền kinh tế có thể đi vào suy thoái và đồng tiền mất giá. Cũng có thể hiểu quốc giá vỡ nợ đơn giản như trái phiếu chính phủ vỡ nợ. Trái phiếu là hình thức huy động vốn của 1 đất nước, nợ cá nhân và các tổ chức nắm giữ trái phiếu và đến thời hạn thanh toán thì không đủ tài chính chi trả. Tuy nhiên trong đa số các trường hợp vỡ nợ quốc gia tương đối hiếm.

Mới đây có thông tin đưa ra đó là Sri Lanka vỡ nợ. Cụ thể là vào ngày 12/4/2022 thì đất nước này tuyên bố vỡ nợ vì không trả được khoản nợ nước ngoài lên tới 51 tỷ USD.  Nước này hiện đang vỡ nợ mềm, có nghĩa vẫn đang chờ đợi các gói hỗ trợ hoặc tái cấu trúc. Và vẫn chưa xảy ra tình trạng vỡ nợ cứng – Mất hoàn toàn khả năng thanh toán nợ.

Nguyên nhân vỡ nợ của đất nước này đó chính là đến từ khoản nợ  51 tỷ USD, trong năm 2022 phải trả 4 tỷ USD nợ nước ngoài. Nhưng nguồn dự trữ ngoại hối chỉ còn 1,93 tỷ USD mà thôi. Và chủ nợ lớn nhất của Sri Lanka đó chính là Nhật Bản và Trung Quốc. 

Hy Lạp là nước phải nói là có nhiều lần vỡ nợ nhất trên thế giới cho đến hiện tại:

+ 2001 vỡ nợ:  Nợ Quỹ tiền quốc tế (IMF) với lý do kỹ thuật là Zimbabwe

+ Đến năm 2015, thì Hy Lạp nợ  IMF 39 tỷ USD, và IMF nhiều lần gia hạn để Hy Lạp trả nợ.

Về cơ bản thì chủ nợ lớn nhất của Hy Lạp đó chính là quỹ IMF, họ đã có rất nhiều lần trả nợ không đúng hạn, nhưng vẫn được gia hạn nên có thể nói đây là nước có nhiều lần vỡ nợ trên thế giới cùng đối với 1 chủ nợ.

Lebanon, từng được mệnh danh là “Thụy Sĩ của Trung Đông”, lần đầu tiên trong lịch sử vỡ nợ vào tháng 3/2020 trong bối cảnh đất nước chìm trong khủng hoảng kinh tế sâu sắc giữa những cuộc biểu tình lớn phản đối tham nhũng. Nước này vỡ nợ sau khi không trả được khoản nợ ngoại tệ trị giá 1,2 tỷ USD, điều chưa từng xảy ra ngay cả khi Lebanon rơi vào cuộc nội chiến trong thập niên 1980. Vào thời điểm vỡ nợ, núi nợ của Lebanon lên tới 170% GDP.

5. Hậu quả của vỡ nợ

- Đối với cá nhân người vay:  Vỡ nợ có thể ảnh hưởng tiêu cực đến nhận xét về báo cáo tín dụng của người vay và hạ thấp điểm tín dụng xuống; làm giảm cơ hội nhận được quỹ tín dụng trong tương lai.

- Khi một quốc gia vỡ nợ

Tuyên bố vỡ nợ gây ảnh hưởng rất tiêu cực tới danh tiếng của một quốc gia, khiến quốc gia từng vỡ nợ sẽ phải trả lãi suất cao hơn nhiều khi đi vay sau này. Nếu muốn cứu vãn, thông thường các quốc gia bắt buộc phải tái cấu trúc các khoản nợ vay thay vì từ chối chi trả. Việc tái cấu trúc nợ vay gồm nhiều biện pháp, như giảm tiền lãi, tiền nợ gốc hoặc gia hạn thời gian trả nợ với đối tác. Rõ ràng trong trường hợp này, các chủ nợ là bên phải chịu thiệt hại. 

Không chỉ với các chủ nợ, bản thân quốc gia bị vỡ nợ cũng phải chịu hậu quả rất lớn. Giá trị tiền tệ trong nước giảm mạnh dẫn tới việc người dân đổ xô đi rút tiền ở ngân hàng và chuyển ra nước ngoài. Các biện pháp trừng phạt một quốc gia vỡ nợ bao gồm việc áp đặt lãi suất cao ngất, hoặc hoàn toàn từ chối cho vay. Ngoài ra, thứ hạng của quốc gia tại các tổ chức xếp hạng tín dụng sẽ tụt thê thảm, kèm theo cảnh báo về việc không cho vay vốn với các nhà đầu tư.