1. Ví điện tử là gì?

Ví số, hay ví điện tử, là một thuật ngữ dùng trong giao dịch thương mại điện tử. Một ví điện tử hoạt động giống như một ví thông thường. Ví điện tử ban đầu được coi là một phương pháp lưu trữ nhiều dạng tiền điện tử (e-cash) khác nhau, nhưng không mang lại nhiều thành công, nên nó đã phát triển thành một dạng dịch vụ cho phép người dùng Internet lưu trữ và sử dụng thông tin trong mua bán.

Thuật ngữ "ví điện tử" ngày càng được sử dụng để miêu tả điện thoại di động, đặc biệt là điện thoại có hệ điều hành, có thể lưu trữ thông tin bảo mật của người dùng và sử dụng công nghệ mạng không dây để thực hiện giao dịch.

Tài khoản ngân hàng cá nhân thường được kết nối với ví điện tử. Họ cũng có thể lưu số bằng lái, thẻ y tế, thẻ khách hàng, và các giấp tờ nhận dạng khác trong điện thoại. Những thông tin bảo mật này sẽ được chuyển đến bên tiếp nhận của cửa hàng thông qua thiết bị kết nối phạm vi gần NFC. Một số người phỏng đoán rằng trong tương lai ví điện tử sẽ thay thế những chiếc ví thực. Hệ thống này đã đạt được những thành công nhất định ở Nhật Bản, nơi mà ví điện tử được gọi là Osaifu-keitai hoặc "ví di động".

2. Dịch vụ ví điện tử là gì?

Căn cứ Khoản 6 Điều 3 Thông tư 39/2014/TT-NHNN quy định về dịch vụ ví điện tử như sau:

- Dịch vụ Ví điện tử là dịch vụ cung cấp cho khách hàng một tài khoản điện tử định danh do các tổ chức cung ứng dịch vụ tạo lập trên vật mang tin (như chip điện tử, sim điện thoại di động, máy tính...), cho phép lưu giữ một giá trị tiền tệ được đảm bảo bằng giá trị tiền gửi tương đương với số tiền được chuyển từ tài khoản thanh toán của khách hàng tại ngân hàng vào tài khoản đảm bảo thanh toán của tổ chức cung ứng dịch vụ Ví điện tử theo tỷ lệ 1:1 và được sử dụng làm phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt.

3. Khái niệm thanh toán qua ví điện tử

Thanh toán qua ví điện tử hay gọi tắt là dịch vụ ví điện tử trước hết được hiểu là phương thức thanh toán điện tử, được thực hiện trên nền tảng Internet và thông qua các thiết bị điện tử. Tuy nhiên, dưới góc độ pháp lý, chưa có một khái niệm thống nhất về ví điện tử kể cả trong hệ thống pháp luật quốc tế. Tại Việt Nam, khoản 1 Điều 1 Nghị định số 80/2016/NĐ-CP ngày 1/7/201 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 101/2012/NĐ-CP ngày 22/11/2012 về thanh toán không dùng tiền mặt quy định: “Dịch vụ ví điện tử là dịch vụ cung cấp cho khách hàng một tài khoản điện tử định danh do các tổ chức cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán tạo lập trên vật mang tin (như chip điện tử, sim điện thoại di động, máy tính...), cho phép lưu giữ một giá trị tiền tệ được đảm bảo bằng giá trị tiền gửi tương đương với số tiền được chuyển từ tài khoản thanh toán của khách hàng tại ngân hàng vào tài khoản đảm bảo thanh toán của tổ chức cung ứng dịch vụ ví điện tử theo tỷ lệ 1:1”. Như vậy, thanh toán qua ví điện tử là một thuật ngữ chỉ phương thức thanh toán điện tử mà ở đó các tổ chức cung cấp dịch vụ thanh toán trung gian có thể cung cấp, kinh doanh dịch vụ này bằng cách tạo lập một nền tảng ứng dụng trên mạng Internet, cho phép người dùng đăng ký một tài khoản để lưu trữ tiền điện tử và thực hiện các giao dịch thanh toán thông qua các vật mang tin như di động, máy tính, máy tính bảng, hoặc các phương tiện điện tử trung gian khác.

4. Đặc điểm của thanh toán qua ví điện tử

Thứ nhất, về chủ thể: So với các phương thức thanh toán điện tử khác như: thanh toán bằng thẻ, chuyển khoản ngân hàng (Internet Banking),..., ví điện tử có thêm sự tham gia của bên chủ thể cung cấp dịch vụ thanh toán trung gian giữa các bên trong giao dịch (chủ thể kinh doanh dịch vụ ví điện tử). Bên cung cấp dịch vụ ví điện tử này sẽ hoạt động bằng cách khởi tạo một nền tảng ứng dụng qua mạng Internet làm cơ sở để cho phép người dùng đăng ký tài khoản của riêng mình và hỗ trợ trung gian các giao dịch thanh toán giữa các bên sử dụng dịch vụ với nhau.

Thứ hai, về phạm vi giao dịch: Ví điện tử hoạt động dựa trên mạng lưới Internet. Vì vậy, phạm vi giao dịch của loại hình thanh toán này khá rộng, bao gồm trong nước hoặc ra cả nước ngoài. Điều này phụ thuộc vào nhà cung cấp dịch vụ trên cơ sở quy định của pháp luật nước sở tại, pháp luật nước ngoài, cũng như các điều ước quốc tế có liên quan.

Thứ ba, về đồng tiền sử dụng thanh toán: Sự xuất hiện và phát triển của thanh toán điện tử nói chung và phương thức thanh toán điện tử qua ví điện tử nói riêng đã đòi hỏi phải có một phương tiện thanh toán cũng cần có sự tương thích. Vì thế, nếu trong thanh toán truyền thống, giao dịch giữa các bên được thực hiện thông qua tiền mặt thì đối với thanh toán qua ví điện tử, phương tiện thanh toán được sử dụng trong giao dịch lại là tiền điện tử.

5. Khái quát về thanh toán ví điện tử ở Singapore

Tại Singapore đã có hàng chục công ty cung cấp dịch vụ ví điện tử như vậy. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là các cửa hàng chấp nhận thanh toán phải trưng bày hàng chục mã QR của các ví điện tử khác nhau.

Thay vào đó, chính phủ Singapore đã triển khai chương trình hợp nhất tất thành một mã QR duy nhất có tên là SGQR. Đến nay, SGQR là mã thanh toán chung cho 21 ví điện tử.

Để ví điện tử trở nên phổ biến và dần trở thành công cụ thanh toán thiết yếu, Chính phủ Singapore hướng tới triển khai tại các chợ dân sinh, các khu ăn uống. Tại khu chợ Woodbridge, gần như 100% các cửa hàng đều có mã QR, sẵn sàng cho việc thanh toán điện tử.

"Chính phủ nói là quy định bắt buộc các cửa hàng trong chợ đều phải sử dụng mã QR. Chính phủ tặng cho chúng tôi mỗi tháng 300 USD với điều kiện là mỗi tháng có ít nhất 20 người quét mã thanh toán", ông Simon Chia - quán nước Ho Sheng nói.

Thực tế cho thấy là vẫn còn có nhiều người sử dụng tiền mặt để thanh toán các mặt hàng nhu yếu phẩm hàng ngày tại khu chợ trên. Tuy nhiên, những người bán hàng ở đây cho biết là tỷ lệ người sử dụng ví điện tử để thanh toán đang ngày càng gia tăng, đặc biệt là giới trẻ.

6. Pháp lý về thanh toán ví điện tử ở Singapore

Năm 2019, Nghị viện Singapore chính thức thông qua Luật Dịch vụ thanh toán (Payment Services Act - PSA), có hiệu lực vào tháng 01/2020. Nội dung văn bản này điều chỉnh những vẫn đề liên quan đến giao dịch thanh toán qua ví điện tử như sau:

- Điều kiện thành lập và hoạt động của tổ chức kinh doanh dịch vụ ví điện tử:PSA điều chỉnh bảy hoạt động thanh toán song song với việc quy định ba loại giấy phép có các yêu cầu khác nhau tùy theo mức độ rủi ro của từng dịch vụ và từng nhà cung cấp. Dịch vụ ví điện tử được hiểu là một dịch vụ phát hành tài khoản, nên nhà kinh doanh dịch vụ ví điện tử cần phải có giấy phép của dịch vụ phát hành tài khoản điện tử mới được hoạt động. Trường hợp nhà cung cấp dịch vụ phát hành tài khoản tiền điện tử vượt quá ngưỡng quy định của số tiền điện tử trung bình hàng ngày trong một năm dương lịch thì phải xin giấy phép tổ chức thanh toán lớn. Nếu bên cung cấp dịch vụ thanh toán không xin giấy phép kinh doanh theo quy định sẽ bị phạt tiền hoặc phạt tù có thời hạn nhưng không quá 3 năm.

- Nghĩa vụ của tổ chức kinh doanh dịch vụ ví điện tử:Tổ chức kinh doanh dịch vụ có hai nghĩa vụ: bảo vệ người dùng và giải quyết các rủi ro qua thanh toán bằng ví điện tử.

+ Nghĩa vụ bảo vệ người dùng: Nhà cung cấp dịch vụ phải có trách nhiệm thông báo rõ ràng cho mọi tài khoản về nghĩa vụ của người tiêu dùng và của công ty mình; cung cấp thông báo về mọi giao dịch của người dùng (cập nhật ít nhất 24 giờ/lần, kèm theo thông báo qua SMS hoặc email). Đối với “tài khoản được bảo vệ”, nhằm mục đích báo cáo các giao dịch trái phép hay sai sót mọi thời điểm trong ngày cho người dùng, nhà cung cấp dịch vụ có trách nhiệm phải cấp thêm một kênh báo cáo (qua điện thoại, tin nhắn văn bản, email hoặc cổng thông tin trực tuyến).

+ Nghĩa vụ liên quan đến giải quyết rủi ro trong giao dịch qua ví điện tử: PSA không chỉ đặt ra các nghĩa vụ liên quan đến giải quyết rủi ro để bảo vệ người tiêu dùng, mà còn đặt ra các quy định hướng đến việc giải quyết các vấn đề khác trong các giao dịch thanh toán qua ví điện tử, đó là ngăn chặn rủi ro công nghệ và ngăn chặn rủi ro về rửa tiền và tài trợ cho khủng bố. Với ngăn chặn rủi ro công nghệ, nhà cung cấp dịch vụ phải đảm bảo rằng có đủ quản trị rủi ro và thực hiện đủ các biện pháp kiểm soát trong các lĩnh vực như xác thực người dùng, xử lý an toàn khi dữ liệu bị mất, phát hiện và ngăn chặn tấn công dữ liệu qua mạng. Với ngăn chặn rủi ro rửa tiền và tài trợ khủng bố, nhà cung cấp phải đáp ứng được các yêu cầu về chống rửa tiền và chống tài trợ khủng bố như: tiến hành xác thực khách hàng, giám sát các giao dịch, cung cấp dịch vụ có sàng lọc, báo cáo các giao dịch đáng ngờ và lưu giữ đầy đủ hồ sơ giao dịch.

- Đồng tiền sử dụng thanh toán trong ví điện tửPSA công nhận cả tiền điện tử (electronic currencies) và tiền số hóa (cryptocurrencies) là hợp pháp trong thanh toán nhưng chỉ có tiền điện tử được phép sử dụng trong dịch vụ phát hành thẻ thanh toán, bao gồm cả dịch vụ ví điện tử. PSA định nghĩa tiền điện tử là bất kỳ giá trị tiền tệ nào được lưu trữ điện tử: (i) có giá trị bằng một loại tiền tệ hoặc được tổ chức phát hành định giá bằng một loại tiền tệ; (ii) được trả trước để cho phép thực hiện giao dịch thanh toán thông qua tài khoản; (iii) được chấp nhận sử dụng bởi một người không phải tổ chức phát hành; (iv) đại diện cho một quyền truy đòi (nợ) đối với tổ chức phát hành.

- Hạn mức giao dịch qua ví điện tử: PSA quy định các tổ chức thanh toán được cấp phép cung cấp dịch vụ phát hành tài khoản phải: (i) hạn chế người dùng giữ hơn 5.000 đô la trong ví điện tử của họ; (ii) ngăn người dùng chuyển hơn 30.000 đô la trong vòng mỗi năm vào các tài khoản khác ngoài tài khoản ngân hàng được chỉ định trước đó của người dùng.