Tuy nhiên ở phần chữ kí và dấu của người đại diện trước pháp luật cho công ty bảo hiểm nhân thọ Viet Nam thì không phải là chữ kí và dấu tươi mà là được in màu từ máy in ra, trên hợp đồng cũng không có chỗ cho người mua bảo hiểm kí như các hợp đồng kinh tế thông thường khác. Mặt khác cũng không  có dấu giáp lai giữa các trang. Theo đại lý bảo hiểm nhân thọ giải thích thì hợp đồng bảo hiểm nhân thọ là 1 loại hợp đồng "đươc bộ tài chính cho phép" sử dụng chữ kí và con dấu in, không đóng dấu giáp lai như đã mô tả ở trên. Và theo tìm hiểu của cá nhân tôi thì trong hợp đồng bảo hiểm nhân thọ của các công ty khác cũng không có chữ ký và con dấu tươi. Vậy xin hỏi trong trường hợp này thì hợp đồng bảo hiểm này của bảo hiểm nhân thọ có hợp pháp không? Bảo hiểm nhân thọ và các công ty bảo hiểm khác có được "đặc cách" sử dụng chữ kí và con dấu theo cách này không ? Mong quý văn phòng giúp đỡ. Kính thư! 

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục Tư vấn luật dân sự Công ty Luật Minh Khuê.

Luật sư tư vấn luật dân sự trực tuyến, gọi: 1900.6162

 

Trả lời:

 

Chào bạn, Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đến Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn chúng tôi xin trả lời như sau:

1. Cơ sở pháp lý:

 Bộ luật Dân sự số 33/2005/QH11 của Quốc hội

 Luật số 24/2000/QH10 của Quốc hội : Kinh doanh Bảo hiểm

>> Xem thêm:  Tư vấn đơn phương chấm dứt hợp đồng bảo hiểm với Prudential ?

 Luật Kinh doanh bảo hiểm số 61/2010/QH12 sửa đổi của Quốc hội

2. Nội dung phân tích:

Luật dân sự quy định người đại diện của pháp nhân được quyền thay mặt pháp nhân xác lập các giao dịch, việc ký vào hợp đồng là chứng minh cho việc người đại diện đã xác lập giao dịch đó. Tuy vậy, luật hiện hành không có quy định cụ thể nào về việc người đại diện của pháp nhân phải trực tiếp ký trên văn bản hợp đồng.  Nếu chữ ký là dấu khắc hoặc chữ ký phô tô sẽ không phải là bằng chứng đảm bảo đó là giao dịch do đích thân người đại diện của pháp nhân đó trực tiếp xác lập và khi không xác định được giao dịch đó có được xác lập bởi người đại diện hợp pháp hay không thì văn bản hợp đồng đó sẽ không có hiệu lực.

Bên cạnh đó, Bộ Tài chính cấp phép và bảo hộ cho hoạt động kinh doanh bảo hiểm được thực hiện theo quy định của Luật Kinh doanh bảo hiểm và các văn bản pháp luật khác liên quan

Nhưng có các quy định về hợp đồng bảo hiểm như sau:

- Điều 570 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định về Hình thức hợp đồng bảo hiểm:

Hợp đồng bảo hiểm phải được lập thành văn bản. Giấy yêu cầu bảo hiểm có chữ ký của bên mua bảo hiểm là bộ phận không tách rời của hợp đồng bảo hiểm. Giấy chứng nhận bảo hiểm hoặc đơn bảo hiểm là bằng chứng của việc giao kết hợp đồng bảo hiểm.

- Điều 14 Luật kinh doanh bảo hiểm năm 2000 (sửa đổi, bổ sung năm 2010) cũng quy định về Hình thức hợp đồng bảo hiểm:

Hợp đồng bảo hiểm phải được lập thành văn bản.

Bằng chứng giao kết hợp đồng bảo hiểm là giấy chứng nhận bảo hiểm, đơn bảo hiểm, điện báo, telex, fax và các hình thức khác do pháp luật quy định.

- Điều 13 Luật kinh doanh bảo hiểm  quy định về Nội dung của hợp đồng bảo hiểm như sau:

1. Hợp đồng bảo hiểm phải có những nội dung sau đây:

a) Tên, địa chỉ của doanh nghiệp bảo hiểm, bên mua bảo hiểm, người được bảo hiểm hoặc người thụ hưởng;

b) Đối tượng bảo hiểm;

c) Số tiền bảo hiểm, giá trị tài sản được bảo hiểm đối với bảo hiểm tài sản;

d) Phạm vi bảo hiểm, điều kiện bảo hiểm, điều khoản bảo hiểm;

đ) Điều khoản loại trừ trách nhiệm bảo hiểm;

e) Thời hạn bảo hiểm;

g) Mức phí bảo hiểm, phương thức đóng phí bảo hiểm;

h) Thời hạn, phương thức trả tiền bảo hiểm hoặc bồi thường;

i) Các quy định giải quyết tranh chấp;

k) Ngày, tháng, năm giao kết hợp đồng.

2. Ngoài những nội dung quy định tại khoản 1 Điều này, hợp đồng bảo hiểm có thể có các nội dung khác do các bên thỏa thuận.

Do vậy, theo quy định thì hợp đồng bảo hiểm không nhất thiết phải bắt buộc có chữ ký và dấu tươi của bên công ty bảo hiểm. Khi ký kết hợp đồng bảo hiểm sẽ có bằng chứng giao kết hợp đồng là Giấy yêu cầu bảo hiểm có chữ ký của bên mua bảo hiểm, Giấy chứng nhận bảo hiểm hoặc đơn bảo hiểm, do vậy hợp đồng bảo hiểm này của bảo hiểm nhân thọ là hợp pháp

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận Tư vấn pháp luật dân sự.