1. Kinh doanh xổ số có được coi là hợp pháp không ?

Về bản chất, kinh doanh xổ số được hiểu là hoạt động kinh doanh dựa trên các sự kiện có kết quả ngẫu nhiên, được tổ chức theo nguyên tắc doanh nghiệp thu tiền tham gia dự thưởng của khách hàng và thực hiện trả thưởng cho khách hàng khi trúng thưởng. Việc kinh doanh xổ số còn được hiểu là trở thành đại lý xổ số, chịu trách nhiệm phân phối và cung cấp vé số cho khách hàng. 

Với sự phát triển của công nghệ như hiện nay, việc kinh doanh xổ số đã xuất hiện không ít biến thể. Không chỉ dừng lại ở phương thức giao dịch truyền thống mà chủ kinh doanh và khách hàng đã dần chuyển dịch sang xu hướng trực tuyến và tin dùng các dịch vụ mua hộ vé số online.

Việc trở thành đại lý kinh doanh xổ số sẽ mang lại một số lợi ích về cơ hội gia tăng thu nhập cực hấp dẫn. Bởi lẽ hiện này, nhu cầu mua vé số của người dân đang ngày càng tăng, nhất là khi mua vé số đang không chỉ là trò chơi may rủi nữa mà còn là một cơ hội đầu tư và sinh lời. Do đó, mức tiêu thụ vé số cũng tăng lên nhanh chóng và các đối tượng khách hàng cũng dẫn trẻ hóa và việc mua xổ số trở nên quen thuộc với khách hàng ở mọi lứa tuổi. 

Đối với hoạt động kinh doanh xổ số tại Việt Nam hiện nay được đặt dưới sự quản lý chặt chẽ của Nhà nước bằng pháp luật, như: Nghị định 30/2007/NĐ-CP, Nghị định 78/2012/NĐ-CP, Nghị định 151/2018/NĐ-CP, Luật doanh nghiệp năm 2020, Luật thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2013…

Cụ thể, tại khoản 1 Điều 1 Nghị định 78/2012/NĐ-CP đã xác định rõ xổ số là ngành nghề kinh doanh có điều kiện, chịu sự kiểm soát chặt chẽ của cơ quan nhà nước có thẩm quyền để đảm bảo đáp ứng nhu cầu giải trí của một bộ phận người dân có thu nhập chính đáng và đảm bảo an ninh; trật tự và an toàn xã hội.

Trên cơ sở đó, thu nhập từ hoạt động kinh doanh xổ số ngoài chi trả tiền thưởng cho người tham gia, trả lương cho nhân viên và “hoa hồng” cho đội ngũ phân phối, thì còn được đóng góp vào ngân sách nhà nước để chi dùng cho lợi ích công cộng.

Ngoài ra, riêng đối với bản thân người trúng thưởng cũng phải nộp lại một phần khoản thưởng của mình dưới danh nghĩa thuế thu nhập cá nhân theo quy định tại Điều 15 Thông tư 111/2013/TT-BTC. Do đó, hoạt động kinh doanh xổ số được công nhận là một ngành nghề hợp pháp tại Việt Nam.

2. Kinh doanh xổ số có phải đối tượng chịu thuế của thuế tiêu thụ đặc biệt hay không?

Căn cứ vào Điều 2 Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt năm 2008, được sửa đổi bởi khoản 1 Điều 1 Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt sửa đổi năm 2014 thì các dịch vụ chịu thuế tiêu thụ đặc biệt được quy định như sau:

- Kinh doanh vũ trường;

- Kinh doanh mát - xa (massage), ka - ra - ô - kê (karaoke);

- Kinh doanh ca - si - nô (casino); trò chơi điện tử có thưởng bao gồm trò chơi bằng máy giắc -pót (jackpot), máy sờ - lot (slot) và các loại máy tương tự;

- Kinh doanh đặt cược;

- Kinh doanh gôn (golf) bao gồm bán thẻ hội viên, vé chơi gôn;

- Kinh doanh xổ số.

Như vậy, kinh doanh xổ số được xác định là một trong 06 loại hình dịch vụ phải nộp thuế tiêu thụ đặc biệt theo quy định pháp luật. 

Bên cạnh đó, theo Điều 7 Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt năm 2008, được sửa đổi bởi khoản 4 Điều 1 Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt sửa đổi năm 2014 quy định về thuế suất thuế tiêu thụ đặc biệt áp dụng với các dịch vụ như sau:

STT

Hàng hóa, dịch vụ

Thuế suất (%)

II

Dịch vụ

 

1

Kinh doanh vũ trường

40

2

Kinh doanh mát - xa, ka - ra - ô - kê

30

3

Kinh doanh ca - si - nô, trò chơi điện tử có thưởng

30

4

Kinh doanh đặt cược

30

5

Kinh doanh gôn (golf)

20

6

Kinh doanh xổ số

15

Đối chiếu với quy định nêu trên thì cá nhân, tổ chức kinh doanh xổ số được xác định là đối tượng nộp thuế tiêu thụ đặc biệt với mức thuế suất là 15%.

3. Công thức tính thuế tiêu thụ đặc biệt đối với hoạt động kinh doanh xổ số

Đối chiếu với quy định tại Điều 5 Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt năm 2008 thì căn cứ tính thuế tiêu thụ đặc biệt là giá tính thuế của hàng hóa, dịch vụ chịu thuế và thuế suất. Số thuế tiêu thụ đặc biệt phải nộp bằng giá tính thuế tiêu thụ đặc biệt nhân với thuế suất thuế tiêu thụ đặc biệt.

Do đó, đối với quy định này thì số thuế tiêu thụ đặc biệt phải nộp được xác định dựa trên công thức sau:

Số thuế tiêu thụ đặc biệt = giá tính thuế x thuế suất

Căn cứ vào Điều 6 Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt 2008 được sửa đổi bởi khoản 3 Điều 1 Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt sửa đổi 2014 và khoản 1 Điều 2 Luật thuế giá trị gia tăng, Luật thuế tiêu thụ đặc biệt và Luật quản lý thuế hiện hành thì giá tính thuế tiêu thụ đặc biệt đối với hàng hóa, dịch vụ là giá bán ra, giá cung ứng dịch vụ chưa có thuế tiêu thụ đặc biệt, chưa có thuế bảo vệ môi trường và chưa có thuế giá trị gia tăng được quy định như sau:

- Đối với dịch vụ là giá cung ứng dịch vụ của cơ sở kinh doanh. Giá cung ứng dịch vụ đối với một số trường hợp được quy định như sau:

+ Đối với kinh doanh gôn là giá bán thẻ hội viên, giá bán vé chơi gôn bao gồm cả tiền phí chơi gôn và tiền ký quỹ (nếu có);

+ Đối với kinh doanh ca-si-nô, trò chơi điện tử có thưởng, kinh doanh đặt cược là doanh thu từ hoạt động này trừ số tiền đã trả thưởng cho khách;

+ Đối với kinh doanh vũ trường, mát-xa, ka-ra-ô-kê là doanh thu của các hoạt động kinh doanh trong vũ trường, cơ sở kinh doanh mát-xa, ka-ra-ô-kê;

- Đối với hàng hóa, dịch vụ dùng để trao đổi hoặc tiêu dùng nội bộ, biếu, tặng cho là giá tính thuế tiêu thụ đặc biệt của hàng hóa, dịch vụ cùng loại hoặc tương đương tại thời điểm phát sinh các hoạt động này.

Giá tính thuế tiêu thụ đặc biệt đối với hàng hóa, dịch vụ quy định tại Điều này bao gồm cả khoản thu thêm, được thu (nếu có) mà cơ sở kinh doanh được hưởng.

Giá tính thuế được tính bằng Đồng Việt Nam. Trường hợp người nộp thuế có doanh thu bằng ngoại tệ thì phải quy đổi ngoại tệ ra Đồng Việt Nam theo tỷ giá giao dịch bình quân trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng do Ngân hàng nhà nước Việt Nam công bố tại thời điểm phát sinh doanh thu để xác định giá tính thuế.

Do đó, giá tính thuế tiêu thụ đặc biệt đối với hàng hóa, dịch vụ là giá bán ra, giá cung ứng dịch vụ chưa có thuế tiêu thụ đặc biệt, chưa có thuế bảo vệ môi trường và chưa có thuế giá trị gia tăng.

Ngoài ra, theo quy định tại Điều 9 Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt năm 2008 thì người nộp thuế sản xuất hàng hóa thuộc diện chịu thuế tiêu thụ đặc biệt gặp khó khăn do thiên tai, tai nạn bất ngờ được giám thuế. Mức giảm thuế được xác định trên cơ sở tổn thất thực tế do thiên tai, tai nạn bất ngờ gây ra nhưng không quá 30% số thuế phải nộp của năm xảy ra thiệt hại và không vượt quá giá trị tài sản bị thiệt hại sau khi được bồi thường (nếu có).

Đối chiếu với quy định trên thì người nộp thuế sản xuất hàng hoá thuộc diện chịu thuế tiêu thụ đặc biệt gặp khó khăn do thiên tai, tai nạn bất ngờ được giảm thuế. Và vấn đề giảm thuế tiêu thụ đặc biệt chỉ áp dụng với hàng hóa mà không áp dụng với dịch vụ nên kinh doanh xổ số không được giảm thuế.

Ngoài ra, quý khách có thể tham khảo thêm về bài viết của Luật Minh Khuê như sau: 

Kinh doanh ca-si-nô có phải đối tượng chịu thuế của thuế tiêu thụ đặc biệt hay không?

Mọi vướng mắc chưa rõ hoặc có nhu cầu hỗ trợ vấn đề pháp lý khác, quý khách vui lòng liên hệ với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại 24/7, gọi ngay tới số: 1900.6162 hoặc gửi email trực tiếp tại: lienhe@luatminhkhue.vn để được hỗ trợ và giải đáp thắc mắc nhanh chóng. Ngoài ra, khách hành cũng có thể liên hệ trực tiếp với các luật sư của Luật Minh Khuê để được giải đáp các vấn đề liên quan đến: Luật sư Lê Thị Hằng qua số điện thoại: 0986366162. Cảm ơn quý khách hàng đã quan tâm theo dõi bài viết của Luật Minh Khuê.