1. Phạm tội do lạc hậu, thiếu nhận thức là gì?
Theo từ điển tiếng Việt lạc hậu có nghĩa là: Bị ở lại phía sau, không theo kịp đà tiến bộ, đà phát triển chung. Như vậy, “phạm tội do lạc hậu, thiếu nhận thức” có thể hiểu là trường hợp người thực hiện hành vi phạm tội có nhận thức kém về tính trái pháp luật của hành vi họ thực hiện, hoặc hành động theo phong tục, tập quán, tín ngưỡng, thói quen cổ hủ, lạc hậu mà không biết là mình phạm tội (mặc dù pháp luật quy định buộc phải biết). Đối với những trường hợp này, họ có hành vi trái với pháp luật nhưng lại cho rằng phù hợp với lợi ích xã hội.
Về nguyên nhân và điều kiện để xác định một người là có nhận thức lạc hậu: Nguyên nhân của nhận thức lạc hậu phải là nguyên nhân khách quan như: Do không được học tập, không có những điều kiện thực tế để nhận biết được giữa cái tiến bộ và cái lạc hậu. Bởi lẽ có rất nhiều đối tượng mặc dù có điều kiện để được học tập nhưng không học, có điều kiện để tiếp thu những tiến bộ xã hội nhưng bảo thủ không tiếp thu… những đối tượng như vậy cần thiết phải nghiêm trị theo đúng quy định của pháp luật.
Ở nước ta, một số đồng bào sống ở vùng rừng núi, đời sống văn hóa, tinh thần chưa cao, mọi quan hệ xã hội còn theo phong tục, tập quán địa phương, Nhà nước tuy đã có biện pháp để nâng cao trình độ nhận thức của họ nhưng vẫn còn một số bộ phận lạc hậu. Như ở Tây Nguyên có trường hợp giết người vì “ ma lai”, hoặc nạn nhân là người “cầm đồ”
Cần xác định đúng đối tượng và trường hợp đặc biệt để áp dụng: Tình tiết giảm nhẹ này thông thường áp dụng đối với người phạm tội là đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng sâu vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn; ở một số nơi mà tập tục còn lạc hậu, không được học tập.
Một trong các biểu hiện thường thấy nhất của tình tiết này là việc các đồng bào dân tộc miền núi chữa bệnh bằng các phương pháp cổ xưa như trói lại và đánh hoặc dìm xuống nước để con ma trong người đi ra khỏi người bệnh… cách làm này nhiều khi dẫn đến tình trạng chết người do người bệnh không chịu nổi đòn roi hay bị ngạt thở. Những trường hợp như vậy vẫn truy cứu trách nhiệm hình sự nhưng nên xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự phạm tội do lạc hậu là hợp lý.
2. Lạc hậu thiếu nhận thức có được coi là một tình tiết giảm nhẹ không?
Căn cứ theo quy định tại Điều 51 của Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) có quy định về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, cụ thể như sau:
- Các tình tiết sau đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
+ Người phạm tội đã ngăn chặn hoặc làm giảm bớt tác hại của tội phạm;
+ Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả;
+ Phạm tội trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng;
+ Phạm tội trong trường hợp vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết;
+ Phạm tội trong trường hợp vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội;
+ Phạm tội trong trường hợp bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của nạn nhân gây ra;
+ Phạm tội vì hoàn cảnh đặc biệt khó khăn mà không phải do mình tự gây ra;
+ Phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn;
+ Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng;
+ Phạm tội vì bị người khác đe dọa hoặc cưỡng bức;
+ Phạm tội trong trường hợp bị hạn chế khả năng nhận thức mà không phải do lỗi của mình gây ra;
+ Phạm tội do lạc hậu;
+ Người phạm tội là phụ nữ có thai;
+ Người phạm tội là người đủ 70 tuổi trở lên;
+ Người phạm tội là người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng;
+ Người phạm tội là người có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình;
+ Người phạm tội tự thú;
+ Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải;
+ Người phạm tội tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm hoặc trong quá trình giải quyết vụ án;
+ Người phạm tội đã lập công chuộc tội;
+ Người phạm tội là người có thành tích xuất sắc trong sản xuất, chiến đấu, học tập hoặc công tác;
+ Người phạm tội là người có công với cách mạng hoặc là cha, mẹ, vợ, chồng, con của liệt sĩ.
- Khi quyết định hình phạt, Tòa án có thể coi đầu thú hoặc tình tiết khác là tình tiết giảm nhẹ, nhưng phải ghi rõ lý do giảm nhẹ trong bản án.
- Các tình tiết giảm nhẹ đã được Bộ luật này quy định là dấu hiệu định tội hoặc định khung thì không được coi là tình tiết giảm nhẹ trong khi quyết định hình phạt.
Như vậy, lạc hậu thiếu nhận thức được coi là một tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017).
3. Nguyên tắc áp dụng tình tiết giảm nhẹ
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là tình tiết làm cho mức độ nguy hiểm của trường hợp phạm tội cụ thể giảm đi, là một trong những căn cứ quan trọng để Tòa án quyết định hình phạt cụ thể đối với người phạm tội. Các tình tiết giảm nhẹ được quy định cụ thể tại Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự hiện hành. Ngoài ra tòa án có thể coi đầu thú là một trong những tình tiết giảm nhẹ. Trường hợp có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tòa án có thể xem xét đưa ra quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất hoặc chuyển sang một hình phạt khác nhẹ hơn.
Trường hợp xử phạt dưới dưới mức thấp nhất toà án phải nêu được lý do và tuân theo những quy định tại Điều 54 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung 2017)có nội dung như sau:
- Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt nhưng phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật khi người phạm tội có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật này.
Ví dụ: Điều 174. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản có các khung
1. phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù 06 tháng - 03 năm
2. Phạt tù 02 - 07 năm
3. Phạt tù 07 - 15 năm
4. Phạt tù 12 – 20 năm hoặc tù chung thân
Giả định Tòa án xác định người phạm tội thuộc khung 3 nhưng do có 2 tình tiết giảm nhẹ quy định tại Khoản 1 Điều 51 nên Tòa án có sử dụng quy định tại Điều Luật này để tuyên mức án nằm trong khung 2 nhưng không được xuống tới khung 1
- Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng nhưng không bắt buộc phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật đối với người phạm tội lần đầu là người giúp sức trong vụ án đồng phạm nhưng có vai trò không đáng kể.
Ví dụ: Điều 173. Tội trộm cắp tài sản có các khung
1. Phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù 06 tháng - 03 năm
2. Phạt tù 02 - 07 năm
3. Phạt tù 07 - 15 năm
4. Phạt tù 12 - 20 năm
Nếu Tòa án xác định người phạm tội thuộc khung 3 thì khi vận dụng quy định này Tòa có thể ra quyết định phạt trong khung 1 mà không bắt buộc là khung 2, lưu ý Tòa vẫn có quyền tuyên quyết định phạt ở khung 2 nếu xét thấy phù hợp.
- Trong trường hợp có đủ các điều kiện quy định tại khoản 1 hoặc khoản 2 Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015 nhưng điều luật chỉ có một khung hình phạt hoặc khung hình phạt đó là khung hình phạt nhẹ nhất, thì Tòa án có thể quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt hoặc chuyển sang một hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn.
Ví dụ: Khung hình phạt là (06 tháng - 03 năm tù) và đã là khung thấp nhất thì Tòa có thể tuyên dưới 06 tháng hoặc chuyển sang loại hình phạt cải tạo không giam giữ, phạt tiền... tùy từng trường hợp cụ thể. Và lý do của việc giảm nhẹ phải được ghi rõ trong bản án.
Để tham khảo thêm thông tin về vấn đề này, quý khách hàng có thể tìm hiểu tại bài viết: Nộp nhiều bằng khen, giấy khen có được tính là một tình tiết giảm nhẹ hình sự ? của Luật Minh Khuê.
Như vậy trên đây là toàn bộ thông tin về Lạc hậu thiếu nhận thức có được coi là một tình tiết giảm nhẹ không? mà Công ty Luật Minh Khuê muốn gửi đến quý khách mang tính tham khảo. Nếu quý khách còn vướng mắc về vấn đề trên hoặc mọi vấn đề pháp lý khác, quý khách hãy vui lòng liên hệ trực tiếp với chúng tôi qua Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến theo số điện thoại 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật trực tiếp qua tổng đài kịp thời hỗ trợ và giải đáp mọi thắc mắc.
Nếu quý khách cần báo giá dịch vụ pháp lý thì quý khách có thể gửi yêu cầu báo phí dịch vụ đến địa chỉ email:lienhe@luatminhkhue.vnđể nhận được thông tin sớm nhất! Rất mong nhận được sự hợp tác và tin tưởng của quý khách! Luật Minh Khuê xin trân trọng cảm ơn!