1. Quy định về lãi suất cho vay của các tổ chức tín dụng ?

Kính chào luật sư. Tôi có một vấn đề kính mong được sự giúp đỡ của luật sư. Chuyện là tôi có vay tín dụng tại 1 hiệu cầm đồ với thời gian cũng gần 2 năm rồi, lúc đầu tôi vay 60.000.000 đồng, và thời điểm cuối cùng tôi ký lại hợp đồng cách đây hơn 1 năm và lúc đó số tiền lên đến 87.000.000 đồng. Hiện tại tôi muốn thanh toán cho họ nhưng với lãi suất mà họ đề nghị là 7.000đ/1.000.000/ngày thì tính đến thời điểm hiện tại là họ nói là đã lên hơn 100.000.000 đồng (không rõ cụ thể).
Theo như tôi được biết thì các tổ chức tín dụng không được cho vay với mức lãi suất vượt quá 150% lãi suất cho vay của ngân hàng nhà nước có đúng không? Và nếu họ không chấp thuận và muốn đưa ra tòa dân sự thì tôi có cách giải quyết nào không?
Mong luật sư giúp đỡ. Chân thành cảm ơn luật sư!
-Conchodkcb

Trả lời:

Quan hệ vay tiền giữa quý khách và cửa hiệu cầm đồ được xác định là quan hệ dân sự giữa cá nhân và tổ chức, được điều chỉnh bởi Bộ Luật Dân sự năm 2005, không thuộc sự điều chỉnh của pháp luật ngân hàng. Điều 476 Bộ Luật Dân sự năm 2005 quy định về lãi suất như sau:

Điều 476. Lãi suất

1. Lãi suất vay do các bên thoả thuận nhưng không được vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố đối với loại cho vay tương ứng.

2. Trong trường hợp các bên có thoả thuận về việc trả lãi, nhưng không xác định rõ lãi suất hoặc có tranh chấp về lãi suất thì áp dụng lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời hạn vay tại thời điểm trả nợ.”

Như vậy, lãi suất vay do các bên tự thỏa thuận với nhau nhưng phải đảm bảo mức cao nhất không vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố. Thời điểm quý khách vay tiền không rõ ngày, tháng, năm vay nhưng có thể khẳng định giai đoạn đó từ năm 2010 trở lại đây. Khi đó, lãi suất cơ bản bằng đồng Việt Nam là 9% được ban hành trong Quyết định 2868/QĐ – NHNN ban hành vào năm 2010.

Điều 1. Quy định mức lãi suất cơ bản bằng đồng Việt Nam là 9,0%/năm.

Suy ra, mức lãi suất cao nhất trong dân sự là không quá 13,5%/năm được áp dụng từ ngày 01/12/2010.đến trước ngày 1/1/2017.

Theo quý khách thông tin thì số tiền lãi quý khách phải trả cho một tháng là: 7.000 (đồng)* 60.000.000 (đồng)* 30 (ngày) = 1.260.000 (đồng)

Lãi suất một tháng là: 1.260.000 (đồng)/ 60.000.000 (đồng)*100 = 2,1%

Lãi suất cả năm (12 tháng) là: 2,1%* 12 = 25,2%

Như vậy, mức lãi suất cho vay của cửa hiệu cầm đồ đã vượt quá lãi suất cao nhất được phép cho vay là: 25,2% - 13,5% = 11,7%. Vì đây là mức lãi suất vượt quá quy định pháp luật nên phần vượt quá này sẽ vô hiệu, cửa hiệu cầm đồ phải trả lại số tiền lãi đã nhận tương đương 11,7% số tiền gốc.

Vì quý khách thông tin chưa đủ nên chúng tôi không thể nắm được quá trình trả lãi của quý khách như thế nào, hợp đồng vay của quý khách đã hết hạn chưa? Có bao nhiêu hợp đồng vay, việc trả lãi cho mỗi loại như thế nào. Chính vì vậy, chúng tôi chưa thể tư vấn chính xác rằng quý khách đã đóng đủ lãi và trả được gốc hay chưa, quý khách hoàn thành nghĩa vụ vay chưa. Nhưng với mức lãi suất cao hơn quy định pháp luật như vậy, bên cho vay sẽ phải hoàn trả lại số vượt quá cho quý khách nếu quý khách có yêu cầu hoặc thông qua khởi kiện tại Tòa án nhân dân cấp huyện nơi hiệu cầm đồ có trụ sở.

Nếu bên cho vay khởi kiện quý khách vì không trả được khoản vay khi đến hạn cùng lãi suất chậm trả thì quý khách phải trả số tiền gốc khi đến hạn cùng số tiền lãi khi chậm trả, không trả.từ ngày ấn định trả lãi tính đến ngày khởi kiện tại Tòa án. Nhưng quý khách có quyền yêu cầu Toa án xem xét lại mức lãi suất vượt quá quy định pháp luật của bên cho vay đã áp cho mình từ khoản vay đầu tiên.

Mọi vướng mắc pháp lý vui lòng liên hệ 1900.6162 để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ trực tiếp. Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Cách tính số tiền phải trả cả gốc và lãi khi vay vốn sinh viên ? Điều kiện cho sinh viên vay vốn ưu đãi ?

2. Cho vay ở mức nào là cho vay nặng lãi ?

Luật Minh Khuê giải đáp thắc mắc về hành vi cho vay nặng lãi và các vấn đề liên quan.

Luật sư phân tích:

Khoản 1 Điều 476 Bộ luật Dân sự số 33/2005/QH11 của Quốc hội có quy định về lãi suất vay như sau:

Lãi suất vay do các bên thoả thuận nhưng không được vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố đối với loại cho vay tương ứng”.

Theo Quyết định số 2868/QĐ-NHNN về mức lãi suất cơ bản bằng đồng Việt Nam của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, lãi suất cơ bản là 9%/ năm.

Như vậy, lãi suất do các bên thỏa thuận sẽ không được vượt quá: 9% x 150% = 13,5%/ năm

Lãi suất cho vay tối đa trung bình một tháng sẽ là: 13,5 :12 = 1,125%/tháng.

Thưa luật sư, Em hiện là một đảng viên đang công tác trong trường học em chấp hành tốt các điều lệ của Đảng và pháp luật nhà nước. Nhưng chồng em không là đảng viên và anh có cho vay với lãi xuất 10%tháng, 100 nghìn/1triệu/1 tháng. vậy em có phải chiều ảnh hưởng từ anh không trong chi bộ nhà trường và em có vi phạm về pháp luật hãy bên đảng viên không.và chồng em cho vay với lãi xuất như vậy có phải là cho vay nặng lãi và vi phạm pháp luật không?

=> Lãi suất quy định là 1,125%/tháng mà chồng bạn cho vay với lãi suất 10%/tháng đã quá mức lãi suất quy định. Việc chồng bạn làm thì chồng bạn phải chịu trách nhiệm, bạn không liên quan trong trường hợp này.

Nghị định số 167/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống, chống bạo lực gia đình Điều 11 quy định:

"3. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:
...
d) Cho vay tiền có cầm cố tài sản, nhưng lãi suất cho vay vượt quá 150% lãi suất cơ bản do Ngân hàng nhà nước Việt Nam công bố tại thời điểm cho vay."

Thưa luật sư, Gia đình e có cho vay số tiền là 10.000.000 và gia đình e tính lãi suất là 400.000/tháng tức là khoảng 1.33 nghìn/triệu/ngày. Với mức lãi suất đó thì có phải là cho vay nặng lãi không ạ?

=> Gia đình bạn cho vay với mức lãi 400.000/10.000.000/tháng vậy lãi suất là 4%/tháng. Đây chưa phải là tội cho vay nặng lãi nhưng vẫn vi phạm pháp luật vì quá mức lãi suất cơ bản nhà nước quy định. Vì vậy gia đình bạn có thể sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính.

Thưa luật sư, em em học 2011-2016 .co vay vốn sinh viên 25.000.000 nay gia đình e trả gốc trước thời hạn vài ngày , thì cho e hỏi vi sao gia đình e lại mất thếm 6.000.000 tiền lãi, được hỗ trợ 2.000.000 vậy phải nộp 25.000.000 4.000.000 là sao ạ

=> Quyết định số 157/2007/QĐ-TTG của Thủ tướng Chính phủ : Về tín dụng đối với học sinh, sinh viên quy định:

"Điều 7. Lãi suất cho vay:

1. Lãi suất cho vay ưu đãi đối với học sinh, sinh viên là 0,65%/tháng.

2. Lãi suất nợ quá hạn được tính bằng 130% lãi suất khi cho vay."

Thì lãi trường hợp naỳ là 0,65% tháng tương đương với 162.500/tháng. Bạn vay trong 5 năm thì số tiền lãi là 162.500 x 5 x 12 = 9.750.000 đồng.

Bạn cần xác định lại số tiền bạn vay lần đầu và từng lần là bao nhiêu để xác định lại tiền lãi cho phù hợp. Vì bạn trả nợ trước hạn nên bạn được hưởng lãi suất ưu đãi hoàn toàn đúng quy định pháp luật.

Thưa luật sư, Ba em có vay tiền mặt của công ty HS 2 hồ sơ. Hồ sơ thứ nhất trả mỗi tháng 2 triệu và còn 2 tháng nữa là kết thúc. Hồ sơ thứ 2 trả mỗi tháng là 3 triệu và chỉ mới trả được 2 tháng. Nay kinh tế gia đình gặp khó khăn ba em không còn khả năng chi trả số tiền hàng tháng theo như hợp đồng. Tổng số nợ và lãi khoảng 60 triệu Nay ngân hàng gọi điện và cho nhân viên xuống thu hồi nợ. Bên ngân hàng không đồng ý theo ý kiến của ba e là trả mỗi tháng 1 triệu. Nếu vậy công ty trên có thưa ra tòa không 1. Nếu bên cho vay thưa ra tòa thì ba em phải trả nợ hàng tháng hay phải thanh toán hết số nợ 1 lần cả gốc lẫn lãi. 2. Và án phí phải chịu là bao nhiêu tiền. 3. Nhà em khó khăn không thể trả hết 1 lần thì tòa có cưỡng chế không. 4. Tòa án có xem xét thu nhập mà quyết định bản án không hay căn cứ vào hồ sơ vay và các điều khoản của bên cho vay để xử lý. 5. Tiền lãi cộng dồn đến khi nào hay là chỉ đến thời điểm bên cho vay thưa ra tòa?

=> 1. Nếu bên vay thưa kiện ra tòa thì tùy vào tình hình kinh tế và khả năng thu nhập của gia đình bạn mà Tòa án sẽ xem xét trả 1 lần hoặc nhiều lần.

2. Về án phí thì bạn phải dựa vào giá trị tài sản tranh chấp. Bạn có thể tham khảo tại Pháp lệnh số 10/2009/UBTVQH12 về án phí, lệ phí Tòa án.

3. Như trên chúng tôi đã trình bày, nếu Tòa án buộc gia đình bạn phải thực hiện nghĩa vụ trả tiền 1 lần thì Tòa an có thể sẽ kê biên tài sản của ba bạn để thực hiện nghĩa vụ.

4. Tòa án căn cứ vào tất cả những giấy tờ, tài liệu làm căn cứ để điều tra.

5.Tiền lãi vẫn được tính cho đến khi bạn hoàn thành nghĩa vụ trả nợ.

Thưa luật sư, nhà em có mượn người ta 155 triệu để làm ăn nhưng do thua lỗ nên không có tiền chi tra số vốn. Nếu họ thưa thi pháp luật có cho minh trả theo khoang thu nhap cá nhân của gia đình em không hay ép buộc phải kê khai tài sản ?

=> Tòa án sẽ căn cứ vào số tiền vay nợ, khả năng tài chính của cả 2 bên để xem xét cho gia đình bạn trả nợ nhiều lần hoặc thực hiện nghĩa vụ trả tiền 1 lần.

Thưa luật sư, Em có vay người ta 90 triệu, em có trả lãi được 2 năm nhưng sau 2 năm em làm ăn thua lỗ không có khả năng trả lãi rồi em cộng mấy năm tiền lãi vào rồi viết lại một tờ giấy vay tiên lên đến 170triệu. giờ e không trả được mà em bảo trả từ tử hàng tháng đưa 2 đến 3triệu nhưng họ không nghe. họ bảo kiện hình sự. nếu kiện hình sự thì em có phải ngồi tù không. e chưa có án gì cả?

=> Trường hợp bạn không có yếu tố lừa đảo, bỏ trốn, hay sử dụng vào mục đích trái pháp luật thì bạn chỉ phải chịu trách nhiệm dân sự. Tòa án có thể tiến hành kê biên tài sản của bạn chứ bạn không bị phạt tù.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc liên hệ văn phòng để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

>> Xem thêm:  Quy định của pháp luật về vay vốn Học sinh, sinh viên như thế nào ? Chính sách vay ưu đãi cho sinh viên ?

3. Lãi suất khi cho vay nợ tính như thế nào ?

Thưa luật sư, nay tôi viết những dòng này kính mong được luật sư giải đáp. Năm 2008, một bà người quen cùng xóm đến đưa cho mẹ tôi 25 triệu vnđ để mẹ tôi cho người khác vay theo kiểu quy thành từng kg cà phê (tôi ở Lâm Đồng), theo đó cứ mỗi người đến vay tiền thì lúc đó sẽ quy vào bao nhiêu kg cà phê, và cứ 10kg vay thì lãi khi trả vào vụ mùa cà phê là 3kg (trong đó mẹ tôi sẽ nhận hoa hồng là 1kg, còn 2kg lãi là của chủ nợ ).
Quay lại vấn đề 25 triệu ở trên, lúc đó bà đó chủ động đến tìm nhờ mẹ tôi để dùng tiền đó cho người khác vay (vì nhà tôi buôn bán nhỏ nên nhiều người đến hỏi vay tiền như với các chủ nợ khác), và sơ suất xảy ra từ chỗ đó, lúc đó mẹ tôi và bà đó chỉ viết giấy nhận tiền chứ không nói rõ số tiền đó sẽ tính lãi ra sao. Rồi khi năm này qua năm khác, mẹ tôi không đòi được nợ với các con nợ khác, trong khi bà đó cứ đè đầu mẹ tôi và bắt nhà cháu phải trả hết cả vốn lẫn lãi cứ như là nhà tôi chủ động đến vay tiền của họ vậy. Lúc này mới ra là bà tính lãi 35.000 vnđ cho 1 triệu vay trên 1 tháng. Quy ra 25 triệu đó lãi 1 tháng đã là 840.000 vnđ, vậy 1 năm 12 tháng lãi đã lên đến 10.080.000 vnđ. Với cách tính lãi này để so sánh với 3 kg lãi cà phê cho 1 vụ cà phê ( tương đương 1 năm) thì quá sức vô lý.
Nhà tôi cũng có nói lý lẽ với bà thì bà nói bà chỉ tính lãi đến hết năm 2012 (5 năm). Cho đến bây giờ thì nhà tôi cũng không thể đòi được nợ với người khác (đa số đều nghèo, chỉ vay quanh quanh vài chục kg cà phê, với giá cà phê dao động 30.000-40.000 vnđ/kg). Giờ nhà bà đó đến ép nợ và nói sẽ siết lấy đất, lấy xe nhà tôi trừ nợ trong khi nhà tôi cũng đã trả cho bà 33 triệu đồng chứ không phải chưa trả đồng nào, giờ theo bà đó là còn khoảng 55 triệu (nhà tôi cũng chẳng có gì ngoài một miếng đất thổ cư 100m2, vườn tược không có). Nay tôi mong luật sư cho tôi biết nhà tôi nên làm gì trong tình huống này. Vì nhà kia nói họ chỉ cho nhà tôi thêm 1 tuần ?
Mong sớm nhận được hồi âm từ các bác luật sư. Tôi xin chân thành cảm ơn!
Người gửi: H.H

Lãi suất khi cho vay nợ tính như thế nào ?

Luật sư tư vấn Luật dân sự, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Trong trường hợp của mẹ bạn chúng tôi xác định mẹ bạn có thực hiện một hợp đồng ủy quyền có trả thù lao. Trong đó người cho vay nợ đưa cho mẹ bạn số tiền 25 triệu đồng để mẹ bạn giúp họ đưa cho người khác vay để lấy lãi. Lãi suất thỏa thuận tính theo số kg cà phê và cứ 3kg lãi suất mẹ bạn được hưởng 1kg.
Điều 142 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định :
" Hình thức ủy quyền do các bên thỏa thuận, trừ trường hợp pháp luật quy định việc ủy quyền phải được lập thành văn bản."
Hiện nay không có một văn bản pháp luật nào quy định hình thức bắt buộc đối với hợp đồng ủy quyền có trả thù lao. Trong bài viết bạn có nói khi người cho vay đưa 25 triệu cho mẹ bạn chỉ viết giấy nhận tiền mà thôi. Tờ giấy nhận tiền này không phải là tờ giấy vay nợ và cũng không chứng minh được nội dung ủy quyền của bên cho vay với mẹ bạn. Do đó hình thức hợp đồng ủy quyền là bằng miệng. Rủi ro là mẹ bạn mang số tiền đi cho vay nhưng không lấy lại được cả gốc lẫn lãi và bên ủy quyền cho mẹ bạn mang tiền đi cho vay bắt mẹ bạn phải bù vào khoản tiền đó. Chúng tôi xin khẳng định rằng bên cho vay không thể làm như vậy. Như chúng tôi đã phân tích là hợp đồng ủy quyền là hợp đồng miệng. Do đó, ngay cả khi có tranh chấp về quyền và nghĩa vụ của các bên, chỉ với một tờ giấy nhận tiền, bên cho vay khó có thể chứng minh được phạm vi, nội dung đã ủy quyền cho mẹ bạn. Đó là chỉ ủy quyền mang tiền đi cho vay thôi hay ủy quyền mang tiền đi cho vay và phải đòi lại cả gốc lẫn lãi và việc xử lý trong trường hợp không đòi được tiền là như thế nào? Do đó mà lúc này với tờ giấy chứng minh mẹ bạn nhận tiền, bên cho vay chỉ có thể đòi lại mẹ bạn 25 triệu đã đưa cho mẹ bạn.
Ngoài ra, gia đình bạn đã trả 33 triệu nhưng bên cho vay không chấp nhận, bên cho vay chỉ có thể khởi kiện đến tòa án nhân dân huyện nơi mẹ bạn cư trú yêu cầu giải quyết tranh chấp ( điều 33,35 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2011) chứ không thể đến nhà bạn gây rối, ép nợ. Do đó nếu bên cho vay tự ý đến nhà bạn ép nợ, gia đình có thể trình báo với cơ quan công an về hành vi gây rối trật tự công cộng.

Trên đây là những tư vấn của chúng tôi. Cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn công ty chúng tôi. Nếu còn thắc mắc bạn vui lòng liên hệ qua email: Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email hoặc tổng đài 1900.6162 để được tư vấn. Trân trọng cảm ơn!

>> Xem thêm:  Có được miễn giảm lãi của ngân hàng khi bị ảnh hưởng của dịch covid 19 ? Mức lãi suất cho vay ?

4. Tư vấn lãi suất đối với hành vi trả chậm trả nợ ?

Xin chào Luật sư! Xin tư vấn giúp em Bên A cho bên B mượn số tiền là 250 triệu đồng. Bên A đã có quyết định thi hành án với số tiền trên, nhưng bên B kéo dài không trả. Bên B chỉ trả mỗi tháng 5 triệu đồng, kéo dài đến nay 2 năm, số tiền bên B trả được 100 triệu đồng. Và 6 tháng gần đây, bên B ngừng hẳn việc trả 5 triệu/1 tháng.
Như vậy, bên A có được lãi suất chậm thi hành án không? Lãi suất tính như thế nào? Tính lãi suất của 250 triệu đồng hay của 150 triệu đồng hay tính theo từng tháng (vì bên B trả mỗi tháng 5 triệu đồng)? Bên A nên tiếp tục nộp đơn thưa kiện với số tiền 250 triệu đồng ở trên hay 150 triệu đồng?
Mong được tư vấn sớm. Em cảm ơn!

Tư vấn lãi suất đối với hành vi trả chậm trả nợ ?

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự thì về nguyên tắc bản án, quyết định có hiệu lực của tòa án phải được cơ quan, tổ chức và mọi công dân tôn trọng. Cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan trong phạm vi trách nhiệm của mình chấp hành nghiêm chỉnh bản án, quyết định và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc thi hành án. Người được thi hành án, người phải thi hành án căn cứ vào bản án, quyết định có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự tổ chức thi hành án (Khoản 2, Điều 7 Luật thi hành án dân sự năm 2008).

Tuy nhiên, trên thực tế, có những đối tượng không nghiêm túc chấp hành việc thi hành án theo quy định của pháp luật như với trường họp của bạn. Với trường hợp đương sự không chịu thực hiện nghĩa vụ trả tiền thì lãi suất tính cụ thể ra sao, hiện nay pháp luật hiện hành chưa có quy định cụ thể. Trên thực tế, các cơ quan thi hành án thường căn cứ vào tinh thần của một số văn bản sau đây để giải quyết trường hợp của bạn:

Khoản 1 mục III Thông tư liên tịch số 01/TTLT ngày 19/6/1997 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp và Bộ Tài chính hướng dẫn việc xét xử và thi hành án về tài sản có quy định về tính lãi suất chậm thi hành án: “Để bảo đảm quyền lợi cho bên được thi hành án, hạn chế việc bên phải thi hành án cố tình dây dưa, không tự nguyện thi hành án, cùng với việc quyết định khoản tiền mà bên có nghĩa vụ về tài sản phải thanh toán cho bên được thi hành án, khoản tiền phải nộp để đưa vào ngân sách Nhà nước (tiền tịch thu, tiền truy thu thuế, tiền truy thu do thu lợi bất chính, tiền phạt), toà án phải quyết định rõ trong bản án hoặc quyết định là kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất nợ quá hạn do Ngân hàng Nhà nước quy định tương ứng với thời gian chưa thi hành án theo quy định tại khoản 2 Điều 313 Bộ luật Dân sự, trừ trường hợp được hướng dẫn tại khoản 3 phần 1 Thông tư này về các khoản vay của tổ chức Ngân hàng, tín dụng. Khi tính lãi chỉ tính lãi số tiền còn phải thi hành án, mà không tính lãi của số tiền lãi chưa trả trong quá trình thi hành án”.

Mặt khác, căn cứ quy định tại Điều 47 Luật Thi hành án dân sự và Thông tư số 22/2011/TT-BTP của Bộ Tư pháp về việc hướng dẫn thực hiện một số thủ tục hành chính về thi hành án dân sự, trong thời hạn không quá 10 ngày kể từ ngày thu tiền thi hành án, cơ quan thi hành án phải tiến hành chi trả cho các đối tượng được thi hành án. Về mức lãi suất chậm thi hành án: Kể từ ngày bản án, quyết định của Toà án có hiệu lực pháp luật (đối với trường hợp chủ động thi hành) và từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án (trường hợp thi hành theo đơn yêu cầu) cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời gian chưa thi hành án. Khi tính lãi chậm thi hành án chỉ tính lãi của số tiền còn phải thi hành án, mà không tính lãi của số tiền chưa trả trong quá trình thi hành án.

Do đó, để thực hiện việc thanh toán tiền thi hành án thì khi thanh toán tiền thi hành án, cơ quan thi hành án phải xác định số tiền đã thi hành xong, bao gồm cả lãi suất chậm thi hành án, số tiền còn phải thi hành tại thời điểm đó. Vì thế, cơ quan thi hành án phải tính lãi đến thời điểm thanh toán tiền thi hành án để đảm bảo dứt lãi đến thời điểm đó, số tiền gốc còn lại tiếp tục phát sinh lãi suất chậm thi hành án. Bởi vậy, cơ quan thi hành án phải tính lãi trước và chi trả cho người được thi hành án.

Khoản 2 Điều 290 Bộ luật dân sự 2005 quy định: Nghĩa vụ trả tiền bao gồm cả tiền lãi trên nợ gốc, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

Như vậy, bên B có nghĩa vụ trả đầy đủ số tiền đã vay của bên A. Trường hợp bên B chậm thi hành án thì bên B phải trả cả lãi suất chậm trả theo quy định của pháp luật.

Số tiền chậm trả sẽ được tính lãi theo lãi suất cơ bản của Ngân hàng Nhà nước, theo Điều 476 BLDS 2005.

Hiện nay, mức lãi suất cơ bản bằng đồng Việt Nam của Ngân hàng Nhà nước là 9%/năm. Như vậy, lãi suất do các bên thỏa thuận sẽ không được vượt quá: 9% x 150% = 13,5%/năm. Do đó, theo thông tin bạn cung cấp, BLDS 2005 và Công văn 614/BTP-TCTHADS của Bộ Tư pháp hướng dẫn việc thanh toán tiền thi hành án liên quan đến lãi chậm thi hành án, số tiền lãi suất chậm thi hành án được tính như sau:

- Số tiền còn lại bên B chưa trả: 250.0000.000 - 100.000.000 = 150.000.000 đồng.

- Số tiền lãi chậm thi hành án trong 1 năm là: 250.000.000 x 9% = 22.500.000 đồng.

Do đó, bạn không nhất thiết phải tiếp tục tiến hành khởi kiện một vụ án mới mà có thể yêu cầu cơ quan thi hành án thực hiện các biện pháp bảo vệ quyền và lợi ích cho mình.

Trường hợp trong bản tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong bản tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề, rất mong nhận được phản ánh của quý khách tới địa chỉ email:Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email hoặc tổng đài tư vấn trực tuyến 1900.6162. Chúng tôi sẵn sàng giải đáp.

>> Xem thêm:  Cho vay lãi suất cao khi nào thì phạm luật ? Những chiêu thức lừa cho vay với lãi suất cắt cổ ?

5. Vay 200 triệu hàng xóm rồi không trả cả gốc lẫn lãi thì khởi kiện tội gì ?

Chào các luật sư! Tôi có một vấn đề mong muốn được tư vấn.: Gia đình tôi sống ở miền quê Tứ Kỳ Hải Dương. Gia đình tôi có cho một người trong xóm vay với số tiền khoảng 200 triệu.

Trong quá trình cho vay, bố tôi có làm một văn bản ghi ngày tháng giao dịch số tiền và yêu cầu người đó ký tên. Tuy nhiên sau đó gia đình tôi yêu cầu người đó trả tiền thì người đó trốn tránh đòi quỵt nợ, không trả bất cứ một khoản nào kể cả lãi dù chúng tôi cùng một xóm nhỏ. Gia đình tôi muốn đòi lại thì cần làm thủ tục ra sao ?

Tôi xin cảm ơn!

Người gửi: P.T.H

>> Luật sư tư vấn luật hình sự gọi: 1900.6162

Trả lời:

Căn cứ vào điều 471 Bộ luật dân sự 2005 quy định về hợp đồng vay tài sản:

"Điều 471. Hợp đồng vay tài sản

Hợp đồng vay tài sản là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thoả thuận hoặc pháp luật có quy định".

Theo quy định trên thì hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận của các bên về việc cho vay tài sản. Ở đó bên cho vay giao tài sản và vên vay có nghĩa vụ trả nợ khi đến hạn.
Bên cạnh đấy tại điều 474 bộ lật dân sự quy định về nghĩa vụ của bên vay tài sản :

" Điều 474. Nghĩa vụ trả nợ của bên vay

1. Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn; nếu tài sản là vật thì phải trả vật cùng loại đúng số lượng, chất lượng, trừ trường hợp có thoả thuận khác.

2. Trong trường hợp bên vay không thể trả vật thì có thể trả bằng tiền theo trị giá của vật đã vay tại địa điểm và thời điểm trả nợ, nếu được bên cho vay đồng ý.

3. Địa điểm trả nợ là nơi cư trú hoặc nơi đặt trụ sở của bên cho vay, trừ trường hợp có thoả thuận khác.

4. Trong trường hợp vay không có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả nợ hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi đối với khoản nợ chậm trả theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời hạn chậm trả tại thời điểm trả nợ, nếu có thoả thuận.

5. Trong trường hợp vay có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi trên nợ gốc và lãi nợ quá hạn theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời hạn vay tại thời điểm trả nợ".

Như vậy, khi đến hạn, bên cho vay có nghĩa vụ trả nợ cho bên vay, bên vay không được phép chốn tránh nghĩa vụ trả nợ của mình đối với bên vay.
Trường hợp của bạn khi đến hạn trả nợ ghi trong hợp đồng mà gia đình bạn mà người hàng xóm kia đã thỏa thuận và ghi vào trong hợp đồng, nếu mà gia đình bạn đã nhiều lần yêu cầu người hàng xóm kia thực hiện nghĩa cụ trả nợ mà họ vẫn không chịu trả nợ thì gia đình bạn làm đơn kiện đòi tài sản gửi lên Tòa án nhân dân cấp huyện yêu cầu tòa án giải quyết giúp gia đình bạn để gia đình bạn có thể đòi lại được tài sản vay của mình.
Khi làm đơn yêu cầu như vậy thì gia đình bạn sẽ phải chứng minh trước tòa là có sự giao kết hợp đồng hay nói cách khác là có sự việc cho vay tiền và gia đình bạn đã chuyển giao tiền cho bên kia. Giờ đến hạn đã đòi nhiều lần và họ không chịu trả mặc dù gia đình họ có tài sản để trả nợ. Khi đấy Tòa án sẽ căn cứ vào các chứng cứ mà các bên chứng minh để đảm bảo quyền lợi cho gia đình bạn là yêu cầu bên kia phải trả nợ cho gia đình bạn.
Như vậy, để đòi lại được tài sản vay gia đình bạn làm đơn kiện đòi tài sản kèm theo các giấy tờ chứng minh có sự giao kết hợp đồng vay tài sản. Trong đơn phải ghi rõ tên, địa chỉ, số điện thoại của người làm đơn( nguyên đơn) cũng như họ tên, địa chỉ của người bị kiện là người hàng xóm của bạn( bị đơn) và yêu cầu tòa án giải quyết cái gì, kiện đòi cái gì trị giá là bao nhiêu tiền.
Khi đơn đã hoàn tất cũng như chuẩn bị đủ chứng cứ để chứng minh việc kiện đòi tài sản vay là có cơ sở kèm theo các giấy tờ là hợp đồng vay tài sản, chứng minh nhân dân, sổ hộ khẩu photo cua nguoi làm đơn kiện, gia đình bạn sẽ gửi đơn xuống tòa án nhân dân cấp huyện và chờ Tòa án thụ lý và giải quyết.
Trên đây là những tư vấn của chúng tôi về vấn đề của bạn. Cảm ơn bạn đã quan tâm và gửi câu hỏi về cho chúng tôi.
Trân trọng./.
Bộ phận tư vấn pháp luật dân sự - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Vốn hóa chi phi lãi vay đầu tư thế nào ? Chính sách lãi suất theo quy định mới nhất hiện nay ?