1. Quy định về lãi suất cho vay của các tổ chức tín dụng?

Kính chào luật sư. Tôi có một vấn đề kính mong được sự giúp đỡ của luật sư. Chuyện là tôi có vay tín dụng tại 1 hiệu cầm đồ với thời gian cũng gần 2 năm rồi, lúc đầu tôi vay 60.000.000 đồng, và thời điểm cuối cùng tôi ký lại hợp đồng cách đây hơn 1 năm và lúc đó số tiền lên đến 87.000.000 đồng. Hiện tại tôi muốn thanh toán cho họ nhưng với lãi suất mà họ đề nghị là 7.000đ/1.000.000/ngày thì tính đến thời điểm hiện tại là họ nói là đã lên hơn 100.000.000 đồng (không rõ cụ thể).
Theo như tôi được biết thì các tổ chức tín dụng không được cho vay với mức lãi suất vượt quá 150% lãi suất cho vay của ngân hàng nhà nước có đúng không? Và nếu họ không chấp thuận và muốn đưa ra tòa dân sự thì tôi có cách giải quyết nào không?
Mong luật sư giúp đỡ. Chân thành cảm ơn luật sư!
-Conchodkcb

Trả lời:

Quan hệ vay tiền giữa quý khách và cửa hiệu cầm đồ được xác định là quan hệ dân sự giữa cá nhân và tổ chức, được điều chỉnh bởi Bộ Luật Dân sự năm 2015, không thuộc sự điều chỉnh của pháp luật ngân hàng. Điều 468 Bộ Luật Dân sự năm 2015 quy định về lãi suất như sau:

Điều 468. Lãi suất

1. Lãi suất vay do các bên thỏa thuận.

Trường hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác. Căn cứ tình hình thực tế và theo đề xuất của Chính phủ, Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định điều chỉnh mức lãi suất nói trên và báo cáo Quốc hội tại kỳ họp gần nhất.

Trường hợp lãi suất theo thỏa thuận vượt quá lãi suất giới hạn được quy định tại khoản này thì mức lãi suất vượt quá không có hiệu lực.

2. Trường hợp các bên có thỏa thuận về việc trả lãi, nhưng không xác định rõ lãi suất và có tranh chấp về lãi suất thì lãi suất được xác định bằng 50% mức lãi suất giới hạn quy định tại khoản 1 Điều này tại thời điểm trả nợ.

Như vậy, lãi suất vay do các bên tự thỏa thuận với nhau nhưng phải đảm bảo mức cao nhất không vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố. Thời điểm quý khách vay tiền không rõ ngày, tháng, năm vay nhưng có thể khẳng định giai đoạn đó từ năm 2010 trở lại đây. Khi đó, lãi suất cơ bản bằng đồng Việt Nam là 9% được ban hành trong Quyết định 2868/QĐ – NHNN ban hành vào năm 2010.

Điều 1. Quy định mức lãi suất cơ bản bằng đồng Việt Nam là 9,0%/năm.

Suy ra, mức lãi suất cao nhất trong dân sự là không quá 13,5%/năm được áp dụng từ ngày 01/12/2010.đến trước ngày 1/1/2017.

Theo quý khách thông tin thì số tiền lãi quý khách phải trả cho một tháng là: 7.000 (đồng)* 60.000.000 (đồng)* 30 (ngày) = 1.260.000 (đồng)

Lãi suất một tháng là: 1.260.000 (đồng)/ 60.000.000 (đồng)*100 = 2,1%

Lãi suất cả năm (12 tháng) là: 2,1%* 12 = 25,2%

Như vậy, mức lãi suất cho vay của cửa hiệu cầm đồ đã vượt quá lãi suất cao nhất được phép cho vay là: 25,2% - 13,5% = 11,7%. Vì đây là mức lãi suất vượt quá quy định pháp luật nên phần vượt quá này sẽ vô hiệu, cửa hiệu cầm đồ phải trả lại số tiền lãi đã nhận tương đương 11,7% số tiền gốc.

Vì quý khách thông tin chưa đủ nên chúng tôi không thể nắm được quá trình trả lãi của quý khách như thế nào, hợp đồng vay của quý khách đã hết hạn chưa? Có bao nhiêu hợp đồng vay, việc trả lãi cho mỗi loại như thế nào. Chính vì vậy, chúng tôi chưa thể tư vấn chính xác rằng quý khách đã đóng đủ lãi và trả được gốc hay chưa, quý khách hoàn thành nghĩa vụ vay chưa. Nhưng với mức lãi suất cao hơn quy định pháp luật như vậy, bên cho vay sẽ phải hoàn trả lại số vượt quá cho quý khách nếu quý khách có yêu cầu hoặc thông qua khởi kiện tại Tòa án nhân dân cấp huyện nơi hiệu cầm đồ có trụ sở.

Nếu bên cho vay khởi kiện quý khách vì không trả được khoản vay khi đến hạn cùng lãi suất chậm trả thì quý khách phải trả số tiền gốc khi đến hạn cùng số tiền lãi khi chậm trả, không trả.từ ngày ấn định trả lãi tính đến ngày khởi kiện tại Tòa án. Nhưng quý khách có quyền yêu cầu Toa án xem xét lại mức lãi suất vượt quá quy định pháp luật của bên cho vay đã áp cho mình từ khoản vay đầu tiên.

>> Xem thêm:  Xác nhận thông tin để người khác vay tiền trả góp?

2. Cho vay ở mức nào là cho vay nặng lãi?

Luật Minh Khuê giải đáp thắc mắc về hành vi cho vay nặng lãi và các vấn đề liên quan.

Trả lời:

Khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 có quy định về lãi suất vay như sau:

1. Lãi suất vay do các bên thỏa thuận.

Trường hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác. Căn cứ tình hình thực tế và theo đề xuất của Chính phủ, Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định điều chỉnh mức lãi suất nói trên và báo cáo Quốc hội tại kỳ họp gần nhất.

Trường hợp lãi suất theo thỏa thuận vượt quá lãi suất giới hạn được quy định tại khoản này thì mức lãi suất vượt quá không có hiệu lực.

Theo Quyết định số 2868/QĐ-NHNN về mức lãi suất cơ bản bằng đồng Việt Nam của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, lãi suất cơ bản là 9%/ năm.

Như vậy, lãi suất do các bên thỏa thuận sẽ không được vượt quá: 9% x 150% = 13,5%/ năm

Lãi suất cho vay tối đa trung bình một tháng sẽ là: 13,5 :12 = 1,125%/tháng.

>> Xem thêm:  Tư vấn về việc nhắn tin, gọi điện quấy rối đòi nợ của Home Credit có phạm luật ?

3. Lãi suất khi cho vay nợ tính như thế nào?

Thưa luật sư, nay tôi viết những dòng này kính mong được luật sư giải đáp. Năm 2017, một bà người quen cùng xóm đến đưa cho mẹ tôi 25 triệu vnđ để mẹ tôi cho người khác vay theo kiểu quy thành từng kg cà phê (tôi ở Lâm Đồng), theo đó cứ mỗi người đến vay tiền thì lúc đó sẽ quy vào bao nhiêu kg cà phê, và cứ 10kg vay thì lãi khi trả vào vụ mùa cà phê là 3kg (trong đó mẹ tôi sẽ nhận hoa hồng là 1kg, còn 2kg lãi là của chủ nợ ).
Quay lại vấn đề 25 triệu ở trên, lúc đó bà đó chủ động đến tìm nhờ mẹ tôi để dùng tiền đó cho người khác vay (vì nhà tôi buôn bán nhỏ nên nhiều người đến hỏi vay tiền như với các chủ nợ khác), và sơ suất xảy ra từ chỗ đó, lúc đó mẹ tôi và bà đó chỉ viết giấy nhận tiền chứ không nói rõ số tiền đó sẽ tính lãi ra sao. Rồi khi năm này qua năm khác, mẹ tôi không đòi được nợ với các con nợ khác, trong khi bà đó cứ đè đầu mẹ tôi và bắt nhà cháu phải trả hết cả vốn lẫn lãi cứ như là nhà tôi chủ động đến vay tiền của họ vậy. Lúc này mới ra là bà tính lãi 35.000 vnđ cho 1 triệu vay trên 1 tháng. Quy ra 25 triệu đó lãi 1 tháng đã là 840.000 vnđ, vậy 1 năm 12 tháng lãi đã lên đến 10.080.000 vnđ. Với cách tính lãi này để so sánh với 3 kg lãi cà phê cho 1 vụ cà phê ( tương đương 1 năm) thì quá sức vô lý.
Nhà tôi cũng có nói lý lẽ với bà thì bà nói bà chỉ tính lãi đến hết năm 2021 (5 năm). Cho đến bây giờ thì nhà tôi cũng không thể đòi được nợ với người khác (đa số đều nghèo, chỉ vay quanh quanh vài chục kg cà phê, với giá cà phê dao động 30.000-40.000 vnđ/kg). Giờ nhà bà đó đến ép nợ và nói sẽ siết lấy đất, lấy xe nhà tôi trừ nợ trong khi nhà tôi cũng đã trả cho bà 33 triệu đồng chứ không phải chưa trả đồng nào, giờ theo bà đó là còn khoảng 55 triệu (nhà tôi cũng chẳng có gì ngoài một miếng đất thổ cư 100m2, vườn tược không có). Nay tôi mong luật sư cho tôi biết nhà tôi nên làm gì trong tình huống này. Vì nhà kia nói họ chỉ cho nhà tôi thêm 1 tuần ?
Mong sớm nhận được hồi âm từ các bác luật sư. Tôi xin chân thành cảm ơn!
Người gửi: H.H

Lãi suất khi cho vay nợ tính như thế nào ?

Luật sư tư vấn Luật dân sự, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Trong trường hợp của mẹ bạn chúng tôi xác định mẹ bạn có thực hiện một hợp đồng ủy quyền có trả thù lao. Trong đó người cho vay nợ đưa cho mẹ bạn số tiền 25 triệu đồng để mẹ bạn giúp họ đưa cho người khác vay để lấy lãi. Lãi suất thỏa thuận tính theo số kg cà phê và cứ 3kg lãi suất mẹ bạn được hưởng 1kg.
Hiện nay không có một văn bản pháp luật nào quy định hình thức bắt buộc đối với hợp đồng ủy quyền có trả thù lao. Trong bài viết bạn có nói khi người cho vay đưa 25 triệu cho mẹ bạn chỉ viết giấy nhận tiền mà thôi. Tờ giấy nhận tiền này không phải là tờ giấy vay nợ và cũng không chứng minh được nội dung ủy quyền của bên cho vay với mẹ bạn. Do đó hình thức hợp đồng ủy quyền là bằng miệng. Rủi ro là mẹ bạn mang số tiền đi cho vay nhưng không lấy lại được cả gốc lẫn lãi và bên ủy quyền cho mẹ bạn mang tiền đi cho vay bắt mẹ bạn phải bù vào khoản tiền đó. Chúng tôi xin khẳng định rằng bên cho vay không thể làm như vậy. Như chúng tôi đã phân tích là hợp đồng ủy quyền là hợp đồng miệng. Do đó, ngay cả khi có tranh chấp về quyền và nghĩa vụ của các bên, chỉ với một tờ giấy nhận tiền, bên cho vay khó có thể chứng minh được phạm vi, nội dung đã ủy quyền cho mẹ bạn. Đó là chỉ ủy quyền mang tiền đi cho vay thôi hay ủy quyền mang tiền đi cho vay và phải đòi lại cả gốc lẫn lãi và việc xử lý trong trường hợp không đòi được tiền là như thế nào? Do đó mà lúc này với tờ giấy chứng minh mẹ bạn nhận tiền, bên cho vay chỉ có thể đòi lại mẹ bạn 25 triệu đã đưa cho mẹ bạn.
Ngoài ra, gia đình bạn đã trả 33 triệu nhưng bên cho vay không chấp nhận, bên cho vay chỉ có thể khởi kiện đến tòa án nhân dân huyện nơi mẹ bạn cư trú yêu cầu giải quyết tranh chấp ( điều 35,39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015) chứ không thể đến nhà bạn gây rối, ép nợ. Do đó nếu bên cho vay tự ý đến nhà bạn ép nợ, gia đình có thể trình báo với cơ quan công an về hành vi gây rối trật tự công cộng.

>> Xem thêm:  Cho vay với lãi suất 1.5 % trên một tháng có vi phạm pháp luật không?

4. Tư vấn lãi suất đối với hành vi trả chậm trả nợ?

Xin chào Luật sư! Xin tư vấn giúp em Bên A cho bên B mượn số tiền là 250 triệu đồng. Bên A đã có quyết định thi hành án với số tiền trên, nhưng bên B kéo dài không trả. Bên B chỉ trả mỗi tháng 5 triệu đồng, kéo dài đến nay 2 năm, số tiền bên B trả được 100 triệu đồng. Và 6 tháng gần đây, bên B ngừng hẳn việc trả 5 triệu/1 tháng.
Như vậy, bên A có được lãi suất chậm thi hành án không? Lãi suất tính như thế nào? Tính lãi suất của 250 triệu đồng hay của 150 triệu đồng hay tính theo từng tháng (vì bên B trả mỗi tháng 5 triệu đồng)? Bên A nên tiếp tục nộp đơn thưa kiện với số tiền 250 triệu đồng ở trên hay 150 triệu đồng?
Mong được tư vấn sớm. Em cảm ơn!

Tư vấn lãi suất đối với hành vi trả chậm trả nợ ?

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự thì về nguyên tắc bản án, quyết định có hiệu lực của tòa án phải được cơ quan, tổ chức và mọi công dân tôn trọng. Cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan trong phạm vi trách nhiệm của mình chấp hành nghiêm chỉnh bản án, quyết định và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc thi hành án. Người được thi hành án, người phải thi hành án căn cứ vào bản án, quyết định có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự tổ chức thi hành án (Khoản 2, Điều 7 Luật thi hành án dân sự năm 2008).

Tuy nhiên, trên thực tế, có những đối tượng không nghiêm túc chấp hành việc thi hành án theo quy định của pháp luật như với trường họp của bạn. Với trường hợp đương sự không chịu thực hiện nghĩa vụ trả tiền thì lãi suất tính cụ thể ra sao, hiện nay pháp luật hiện hành chưa có quy định cụ thể. Trên thực tế, các cơ quan thi hành án thường căn cứ vào tinh thần của một số văn bản sau đây để giải quyết trường hợp của bạn:

Khoản 1 mục III Thông tư liên tịch số 01/TTLT ngày 19/6/1997 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp và Bộ Tài chính hướng dẫn việc xét xử và thi hành án về tài sản có quy định về tính lãi suất chậm thi hành án:“Để bảo đảm quyền lợi cho bên được thi hành án, hạn chế việc bên phải thi hành án cố tình dây dưa, không tự nguyện thi hành án, cùng với việc quyết định khoản tiền mà bên có nghĩa vụ về tài sản phải thanh toán cho bên được thi hành án, khoản tiền phải nộp để đưa vào ngân sách Nhà nước (tiền tịch thu, tiền truy thu thuế, tiền truy thu do thu lợi bất chính, tiền phạt), toà án phải quyết định rõ trong bản án hoặc quyết định là kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất nợ quá hạn do Ngân hàng Nhà nước quy định tương ứng với thời gian chưa thi hành án theo quy định tại khoản 2 Điều 313 Bộ luật Dân sự, trừ trường hợp được hướng dẫn tại khoản 3 phần 1 Thông tư này về các khoản vay của tổ chức Ngân hàng, tín dụng. Khi tính lãi chỉ tính lãi số tiền còn phải thi hành án, mà không tính lãi của số tiền lãi chưa trả trong quá trình thi hành án”.

Mặt khác, căn cứ quy định tại Điều 47 Luật Thi hành án dân sự và Thông tư số 01/2016/TT-BTP của Bộ Tư pháp về việc hướng dẫn thực hiện một số thủ tục hành chính về thi hành án dân sự, trong thời hạn không quá 10 ngày kể từ ngày thu tiền thi hành án, cơ quan thi hành án phải tiến hành chi trả cho các đối tượng được thi hành án. Về mức lãi suất chậm thi hành án: Kể từ ngày bản án, quyết định của Toà án có hiệu lực pháp luật (đối với trường hợp chủ động thi hành) và từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án (trường hợp thi hành theo đơn yêu cầu) cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời gian chưa thi hành án. Khi tính lãi chậm thi hành án chỉ tính lãi của số tiền còn phải thi hành án, mà không tính lãi của số tiền chưa trả trong quá trình thi hành án.

Do đó, để thực hiện việc thanh toán tiền thi hành án thì khi thanh toán tiền thi hành án, cơ quan thi hành án phải xác định số tiền đã thi hành xong, bao gồm cả lãi suất chậm thi hành án, số tiền còn phải thi hành tại thời điểm đó. Vì thế, cơ quan thi hành án phải tính lãi đến thời điểm thanh toán tiền thi hành án để đảm bảo dứt lãi đến thời điểm đó, số tiền gốc còn lại tiếp tục phát sinh lãi suất chậm thi hành án. Bởi vậy, cơ quan thi hành án phải tính lãi trước và chi trả cho người được thi hành án.

Khoản 2 Điều 280 Bộ luật dân sự 2015 quy định: Nghĩa vụ trả tiền bao gồm cả tiền lãi trên nợ gốc, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

Như vậy, bên B có nghĩa vụ trả đầy đủ số tiền đã vay của bên A. Trường hợp bên B chậm thi hành án thì bên B phải trả cả lãi suất chậm trả theo quy định của pháp luật.

Số tiền chậm trả sẽ được tính lãi theo lãi suất cơ bản của Ngân hàng Nhà nước, theo Điều 468 BLDS 2015.

Hiện nay, mức lãi suất cơ bản bằng đồng Việt Nam của Ngân hàng Nhà nước là 9%/năm. Như vậy, lãi suất do các bên thỏa thuận sẽ không được vượt quá: 9% x 150% = 13,5%/năm. Do đó, theo thông tin bạn cung cấp, BLDS 2015 và Công văn 614/BTP-TCTHADS của Bộ Tư pháp hướng dẫn việc thanh toán tiền thi hành án liên quan đến lãi chậm thi hành án, số tiền lãi suất chậm thi hành án được tính như sau:

- Số tiền còn lại bên B chưa trả: 250.0000.000 - 100.000.000 = 150.000.000 đồng.

- Số tiền lãi chậm thi hành án trong 1 năm là: 250.000.000 x 9% = 22.500.000 đồng.

Do đó, bạn không nhất thiết phải tiếp tục tiến hành khởi kiện một vụ án mới mà có thể yêu cầu cơ quan thi hành án thực hiện các biện pháp bảo vệ quyền và lợi ích cho mình.

>> Xem thêm:  Tín chấp là gì ? Phân tích các đặc điểm của tín chấp ?

5. Vay 200 triệu hàng xóm rồi không trả cả gốc lẫn lãi thì khởi kiện tội gì ?

Chào các luật sư! Tôi có một vấn đề mong muốn được tư vấn.: Gia đình tôi sống ở miền quê Tứ Kỳ Hải Dương. Gia đình tôi có cho một người trong xóm vay với số tiền khoảng 200 triệu.

Trong quá trình cho vay, bố tôi có làm một văn bản ghi ngày tháng giao dịch số tiền và yêu cầu người đó ký tên. Tuy nhiên sau đó gia đình tôi yêu cầu người đó trả tiền thì người đó trốn tránh đòi quỵt nợ, không trả bất cứ một khoản nào kể cả lãi dù chúng tôi cùng một xóm nhỏ. Gia đình tôi muốn đòi lại thì cần làm thủ tục ra sao ?

Tôi xin cảm ơn!

Người gửi: P.T.H

>> Luật sư tư vấn luật hình sự gọi: 1900.6162

Trả lời:

Căn cứ vào điều 463 Bộ luật dân sự 2015 quy định về hợp đồng vay tài sản:

"Điều 463. Hợp đồng vay tài sản

Hợp đồng vay tài sản là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thoả thuận hoặc pháp luật có quy định".

Theo quy định trên thì hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận của các bên về việc cho vay tài sản. Ở đó bên cho vay giao tài sản và vên vay có nghĩa vụ trả nợ khi đến hạn.
Bên cạnh đấy tại điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định về nghĩa vụ của bên vay tài sản :

" Điều 466. Nghĩa vụ trả nợ của bên vay

1. Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn; nếu tài sản là vật thì phải trả vật cùng loại đúng số lượng, chất lượng, trừ trường hợp có thoả thuận khác.

2. Trường hợp bên vay không thể trả vật thì có thể trả bằng tiền theo trị giá của vật đã vay tại địa điểm và thời điểm trả nợ, nếu được bên cho vay đồng ý.

3. Địa điểm trả nợ là nơi cư trú hoặc nơi đặt trụ sở của bên cho vay, trừ trường hợp có thoả thuận khác.

4. Trường hợp vay không có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả nợ hoặc trả không đầy đủ thì bên cho vay có quyền yêu cầu trả tiền lãi với mức lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này trên số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thoả thuận khác hoặc luật có quy định khác.

5. Trường hợp vay có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi như sau:a) Lãi trên nợ gốc theo lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tương ứng với thời hạn vay mà đến hạn chưa trả; trường hợp chậm trả thì còn phải trả lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này;b) Lãi trên nợ gốc quá hạn chưa trả bằng 150% lãi suất vay theo hợp đồng tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thoả thuận khác.

Như vậy, khi đến hạn, bên cho vay có nghĩa vụ trả nợ cho bên vay, bên vay không được phép chốn tránh nghĩa vụ trả nợ của mình đối với bên vay.
Trường hợp của bạn khi đến hạn trả nợ ghi trong hợp đồng mà gia đình bạn mà người hàng xóm kia đã thỏa thuận và ghi vào trong hợp đồng, nếu mà gia đình bạn đã nhiều lần yêu cầu người hàng xóm kia thực hiện nghĩa cụ trả nợ mà họ vẫn không chịu trả nợ thì gia đình bạn làm đơn kiện đòi tài sản gửi lên Tòa án nhân dân cấp huyện yêu cầu tòa án giải quyết giúp gia đình bạn để gia đình bạn có thể đòi lại được tài sản vay của mình.
Khi làm đơn yêu cầu như vậy thì gia đình bạn sẽ phải chứng minh trước tòa là có sự giao kết hợp đồng hay nói cách khác là có sự việc cho vay tiền và gia đình bạn đã chuyển giao tiền cho bên kia. Giờ đến hạn đã đòi nhiều lần và họ không chịu trả mặc dù gia đình họ có tài sản để trả nợ. Khi đấy Tòa án sẽ căn cứ vào các chứng cứ mà các bên chứng minh để đảm bảo quyền lợi cho gia đình bạn là yêu cầu bên kia phải trả nợ cho gia đình bạn.
Như vậy, để đòi lại được tài sản vay gia đình bạn làm đơn kiện đòi tài sản kèm theo các giấy tờ chứng minh có sự giao kết hợp đồng vay tài sản. Trong đơn phải ghi rõ tên, địa chỉ, số điện thoại của người làm đơn( nguyên đơn) cũng như họ tên, địa chỉ của người bị kiện là người hàng xóm của bạn( bị đơn) và yêu cầu tòa án giải quyết cái gì, kiện đòi cái gì trị giá là bao nhiêu tiền.
Khi đơn đã hoàn tất cũng như chuẩn bị đủ chứng cứ để chứng minh việc kiện đòi tài sản vay là có cơ sở kèm theo các giấy tờ là hợp đồng vay tài sản, chứng minh nhân dân, sổ hộ khẩu photo cua nguoi làm đơn kiện, gia đình bạn sẽ gửi đơn xuống tòa án nhân dân cấp huyện và chờ Tòa án thụ lý và giải quyết.
Trên đây là những tư vấn của chúng tôi về vấn đề của bạn. Cảm ơn bạn đã quan tâm và gửi câu hỏi về cho chúng tôi.
Trân trọng./.
Bộ phận tư vấn pháp luật dân sự - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Vay tín chấp không có khả năng trả nợ có bị khởi tố hình sự không ?

Các câu hỏi thường gặp

Câu hỏi: Quyền và nghĩa vụ của bên vay trong hợp đồng vay tài sản

Trả lời:

Bên cho vay

Nếu hợp đồng vay không kì hạn, bên cho vay có quyền yêu cầu bên vay trả tài sản và lãi (nếu có thỏa thuận) bất cứ thời gian nào nhưng phải thông báo cho bên vay một thời hạn hợp lí. Hết thời hạn đó là hết hạn của hợp đồng và bên vay không trả nợ là vi phạm về thời gian.

Đối với hợp đồng vay có kì hạn, khi hết hạn của hợp đồng, bên cho vay có quyền yêu cầu bên vay phải trả cho mình một số tiền, tài sản tương ứng với tiền, tài sản đã cho vay. Ngoài ra, nếu các bên có thỏa thuận về lãi suất, bên cho vay có quyền yêu cầu trả tiền lãi như thỏa thuận.

Nếu hợp đồng cho vay có áp dụng biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ nhưng bên vay không thực hiện đúng thời hạn thì bên cho vay có quyền xử lí tài sản để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ như thỏa thuận hoặc theo yêu cầu bán đấu giá để thực hiện nghĩa vụ. Bên cho vay có nghĩa vụ giao tài sản đầy đủ, đúng số lượng, chất lượng, chủng loại như thỏa thuận cho bên vay. Nếu bên cho vay có ý lừa dối bên vay chuyển giao tài sản không bảo đảm chất lượng mà gây thiệt hại cho bên vay thì phải bồi thường.

Ngoài ra, bên cho vay phải bồi thường thiệt hại cho bên vay, nếu bên cho vay biết tài sản không bảo đảm chất lượng mà không báo cho bên vay biết, trừ trường hợp bên vay biết mà vẫn nhận tài sản đó.

Bên vay

Là người cần đến sự giúp đỡ về vật chất của bên cho vay. Do vậy khi hết hạn của hợp đồng, bên vay phải tự giác thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của mình phát sinh từ hợp đồng đã kí kết. Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn; nếu tài sản là vật thì phải trả vật cùng loại đúng số lượng, chất lượng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Trường hợp bên vay không thể trả vật thì có thể trả bằng tiền theo trị giá của vật đã vay tại địa điểm và thời điểm trả nợ, nếu được bên cho vay đồng ý.  Địa điểm trả nợ là nơi cư trú hoặc nơi đặt trụ sở của bên cho vay, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

Đối với hợp đồng cho vay không kì hạn

Nếu hợp đồng không kì hạn, khi bên cho vay yêu cầu trả nợ thì bên vay phải thực hiện hợp đồng trong thời gian thỏa thuận. Bên vay cũng có thể thực hiện hợp đồng bất cứ thời gian nào, thời điểm này được coi là thời điểm chấm dứt hợp đồng cho vay không kì hạn. Các bên có thể thỏa thuận về việc tài sản vay phải được sử dụng đúng mục đích vay. Bên cho vay có quyền kiểm tra việc sử dụng tài sản và có quyền đòi lại tài sản vay trước thời hạn nếu đã nhắc nhở mà bên vay vẫn sử dụng tài sản trái mục đích.

Đối với hợp đồng cho vay có kì hạn

Nếu hợp đồng có kì hạn mà bên vay trả nợ trước thời hạn thì phải trả toàn bộ nợ gốc và lãi của cả thời hạn vay trừ trường hợp các bên có thỏa thuân khác. Bởi vì khi cho vay, bên cho vay đã xác định trong thời gian cho vay đó không sử dụng tài sản, tiền vào mục đích khác, do vậy khi trả lại tài sản thì bên cho vay chưa có kế hoạch sử dụng tài sản đó. Hay bên cho vay sẽ bị động khi bên vay trả tài sản trước thời hạn.

Đối với hợp đồng vay có lãi

Trường hợp vay có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi như sau:

– Lãi trên nợ gốc theo lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tương ứng với thời hạn vay mà đến hạn chưa trả; trường hợp chậm trả thì còn phải trả lãi theo mức lãi suất bằng 50% mức lãi suất giới hạn

– Lãi trên nợ gốc quá hạn chưa trả bằng 150% lãi suất vay theo hợp đồng tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

Đối với hợp đồng vay không có lãi

Trường hợp vay không có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả nợ hoặc trả không đầy đủ thì bên cho vay có quyền yêu cầu trả tiền lãi với mức lãi suất bằng 50% mức lãi suất giới hạn trên số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.

Câu hỏi: Hợp đồng vay tài sản là gì? Đặc điểm của hợp đồng vay tài sản

Trả lời:

Khái niệm hợp đồng vay tài sản

Điều 463 Bộ luật dân sự 2015 (BLDS) quy định Hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định.

Đặc điểm pháp lý của hợp đồng vay tài sản

Đây là hợp đồng đơn vụ. Xét theo nguyên tắc, hợp đồng vay tài sản là đơn vụ đối với những trường hợp vay không có lãi suất, bên cho vay có quyền yêu cầu bên vay phải hoàn trả vật cùng loại tương ứng với số lượng, chất lượng của tài sản cho bên bay. Bên vay không có quyền đối với bên cho vay. Tuy nhiên đối với hợp đồng vay tài sản có lãi suất thì bên cho vay có nghĩa vụ chuyển tiền đúng thời hạn, nếu vi phạm phải chịu trách nhiệm dân sự.

Hợp đồng vay là hợp đồng có đền bù hoặc không có đền bù. Nếu hợp đồng vay có lãi suất là hợp đồng vay có đền bù, nếu hợp đồng vay không có lãi suất là hợp đồng không có đền bù.

Hợp đồng vay là hợp đồng chuyển quyền sở hữu đối với tài sản từ bên cho vay sang bên vay, khi bên vay nhận tài sản. Vì vậy, bên vay có toàn quyền đối với tài sản vay, trừ trường hợp vay có điều kiện sử dụng

Ý nghĩa của hợp đồng vay tài sản

Hợp đồng vay tài sản có tác dụng giúp cho bên vay giải quyết những khó khăn kinh tế trước mắc, giúp các doanh nghiệp khắc phục khó khăn khi thiếu vốn để sản xuất và lưu thông hàng hóa, phục vụ nhu cầu tiêu dùng của con người, nhu cầu kinh doanh của các doanh nghiệp. Hợp đồng vay tài sản trong nhân dân thường mang tính chất tương trợ giúp đỡ lẫn nhau để giải quyết những khó khăn tạm thời trong cuộc sống, sản xuất, kinh doanh.

Câu hỏi: Đối tượng, kì hạn và hình thức của hợp đồng vay tài sản

Trả lời:

Đối tượng của hợp đồng

Thông thường, đối tượng của hợp đồng vay tài sản là 1 khoản tiền. Tuy nhiên trong thực tế đối tượng còn có thể là vàng, kim khí, đá quý hoặc 1 số lượng tài sản khác. Đối tượng của hợp đồng vay tài sản được chuyển từ bên cho vay sang bên vay làm sở hữu. Bên vay có quyền định đoạt tài sản vay. Khi hết hạn hợp đồng, bên vay có nghĩa vụ trả cho bên kia một tài sản khác cùng loại với tài sản vay hoặc số tiền đã vay

Kì hạn của hợp đồng

Hợp đồng vay tài sản có thể có hoặc không có kì hạn (xác định, không xác định). Nếu hợp đồng vay tài sản không thỏa thuận về kì hạn thì hợp đồng vay tài sản được coi là không có kì hạn. Bên cho vay có quyền yêu cầu bên vay phải thực hiện hợp đồng bất cứ thời điểm nào. Tuy nhiên, để tạo điều kiện cho bên vay chuẩn bị tiền hoặc tài sản khi trả, bên cho vay phải báo cho bên vay một thời gian hợp lí để thực hiện hợp đồng. Hết thời gian đó, bên vay buộc phải thực hiện nghĩa vụ của mình.

Nếu hợp đồng không có kì hạn thì bên vay có thể thực hiện hợp đồng vào bất cứ thời gian nào, bên cho vay không được từ chối tiếp nhận việc thực hiện nghĩa vụ của bên vay. Xác định thời điểm chấm dứt hợp đồng vay có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định trách nhiệm dân sự của các bên và thời hiệu của hợp đồng.

Đối với hợp đồng vay có kì hạn, không có lãi thì bên vay có quyền trả lại tài sản bất cứ khi nào, còn bên cho vay chỉ được đòi tài sản trước thời hạn nếu bên vay đồng ý.

Trường hợp vay có kì hạn và có lãi, bên vay phải trả tài sản và lãi đúng thời hạn. Nếu bên vay trả tài sản trước thời hạn thì phải trả toàn bộ lãi theo kì hạn đã thỏa thuận.

Hình thức của hợp đồng

Hình thức của hợp đồng có thể bằng miệng hoặc bằng văn bản. Hình thức miệng thường được áp dụng trong những trường hợp như số lượng tài sản cho vay không lớn hoặc giữa các bên có mối quan hệ thân quen. Trường hợp cho vay bằng miệng nếu xảy ra tranh chấp hợp đồng, bên cho vay phải chứng minh được là mình đã cho vay một số tiền hoặc một số tài sản nhất định.

Trong thực tế, nếu hình thức của hợp đồng bằng miệng mà có tranh chấp thì rất khó xác định quyền và nghĩa vụ của các bên. Để làm cơ sở pháp lí cho việc giải quyết tranh chấp hợp đồng vay, các bên cần phải kí kết hợp đồng bằng văn bản. Các bên có thể tự lập văn bản hoặc yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác nhận văn bản đó.

Họ, hụi, biêu, phường

Họ, hụi, biêu, phường (gọi chung là họ) là hình thức giao dịch về tài sản theo tập quán trên cơ sở thỏa thuận của một nhóm người tập hợp nhau lại cùng định ra số người, thời gian, số tiền hoặc tài sản khác, thể thức góp, lĩnh họ và quyền, nghĩa vụ của các thành viên.

Việc tổ chức họ nhằm mục đích tương trợ trong nhân dân được thực hiện theo quy định của pháp luật.

Trường hợp việc tổ chức họ có lãi thì mức lãi suất phải tuân theo quy định của BLDS.

Nghiêm cấm việc tổ chức họ dưới hình thức cho vay nặng lãi.