1. Hợp đồng lao động lái xe Taxi được hiểu như thế nào?

Căn cứ vào Điều 13 Bộ luật Lao động năm 2019 thì hợp đồng lao động được hiểu là sự thỏa thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động về việc làm có trả công, tiền lương, điều kiện lao động, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệ lao động. Trường hợp hai bên thỏa thuận bằng tên gọi khác nhưng có nội dung thể hiện về việc làm có trả công, tiền lương và sự quản lý, điều hành, giám sát của một bên thì được coi là hợp đồng lao động

Do đó, hợp đồng lao động lái xe Taxi sẽ bao gồm một số nội dung cơ bản được quy định tại Điều 21 Bộ luật Lao động năm 2019 như sau:

- Tên, địa chỉ của người sử dụng lao động và họ tên, chức danh của người giao kết hợp đồng lao động bên phía người sử dụng lao động là Công ty cung cấp dịch vụ xe Taxi;

- Họ tên, ngày tháng năm sinh, giới tính, nơi cư trú, số thẻ Căn cước công dân, Chứng minh nhân dân hoặc hộ chiếu của người giao kết hợp đồng lao động bên phía người lao động là người lái xe ;

- Công việc và địa điểm làm việc;

- Thời hạn của hợp đồng lao động;

- Mức lương theo công việc hoặc chức danh, hình thức trả lương, thời hạn trả lương, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác;

- Chế độ nâng bậc, nâng lương;

- Thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi;

- Trang bị bảo hộ lao động cho người lao động;

- Bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và bảo hiểm thất nghiệp; 

- Đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ, kỹ năng nghề.

Như vậy, về bản chất, hợp đồng lao động lái xe Taxi là hợp đồng lao động, được hiểu là sự giao kết trên sự thỏa thuận giữa người lái xe và Công ty cung cấp dịch vụ xe Taxi về việc làm là lái xe Taxi có trả công, tiền lương, điều kiện lao động, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệ lao động. Và nội dung thì hợp đồng lao động lái xe Taxi phải đảm bảo nội dung cơ bản của hợp đồng lao động nêu trên.

 

2. Lái xe có phải đặt cọc tiền với Công ty cung cấp dịch vụ xe taxi khi ký hợp đồng lao động hay không?

Theo Điều 328 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì đặt cọc được hiểu là việc một bên (sau đây gọi là bên đặt cọc) giao cho bên kia (sau đây gọi là bên nhận đặt cọc) một khoản tiền hoặc kim khí quý, đá quý hoặc vật có giá trị khác (sau đây gọi chung là tài sản đặt cọc) trong một thời hạn để bảo đảm giao kết hoặc thực hiện hợp đồng.

Trường hợp hợp đồng được giao kết, thực hiện thì tài sản đặt cọc được trả lại cho bên đặt cọc hoặc được trừ để thực hiện nghĩa vụ trả tiền; nếu bên đặt cọc từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng thì tài sản đặt cọc thuộc về bên nhận đặt cọc; nếu bên nhận đặt cọc từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng thì phải trả cho bên đặt cọc tài sản đặt cọc và một khoản tiền tương đương giá trị tài sản đặt cọc, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

Bên cạnh đó, theo nội dung phân tích trên thì những nội dung chủ yếu của hợp đồng lao động sẽ không có điều khoản về đặt cọc này. Đồng thời, tại Điều 17 Bộ luật Lao động năm 2019 cũng quy định về một số hành vi người sử dụng lao động không được làm khi giao kết, thực hiện hợp đồng lao động. Trong đó có bao gồm: người sử dụng lao động không được yêu cầu người lao động phải thực hiện biện pháp bảo đảm bằng tiền hoặc tài sản khác cho việc thực hiện hợp đồng.

Thế nhưng, điều này vẫn không loại trừ trường hợp Công ty cung cấp dịch vụ xe Taxi và người lao động cùng thỏa thuận và đồng ý về việc có một khoản tiền cọc để đảm bảo quyền lợi cho người sử dụng lao động về việc bảo quản phương tiện lao động - xe Taxi.

Như vậy, căn cứ vào quy định trên, trong trường hợp hai bên cùng thỏa thuận ký kết hợp đồng dân sự về giao, nhận, sử dụng và bảo quản xe Taxi thì việc người lao động là lái xe phải đặt cọc một khoản tiền vẫn đúng với quy định của Bộ Luật Dân sự năm 2015.

Tuy nhiên, nếu khoản tiền đặt cọc này không phải là thỏa thuận giữa Công ty cung cấp dịch vụ xe Taxi và người lao động lái xe, mà là do công ty yêu cầu người lao động bắt buộc phải đặt cọc một khoản tiền để tiến hành giao kết hợp đồng lao động thì khoản đặt cọc này được xác định là trái với quy định của Bộ luật Lao động năm 2019. Nếu thanh tra lao động phát hiện khoản đặt cọc này được ghi trong hợp đồng lao động giữa Công ty cung cấp dịch vụ Taxi và người lao động thì có quyền buộc hủy bỏ nội dung này.

 

3. Người sử dụng lao động buộc người lao động phải đặt cọc tiền khi thực hiện hợp đồng lao động thì bị xử lý như thế nào?

Đối với trường hợp người sử dụng lao động buộc người lao động phải đặt cọc tiền khi thực hiện hợp đồng lao động thì được xác định là hành vi vi phạm pháp luật và đặt ra việc bị xử lý vi phạm. Căn cứ vào các khoản 2, khoản 3 Điều 9 Nghị định 12/2022/NĐ-CP ngày 17 tháng 01 năm 2022 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội, người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng thì hình thức xử lý trong trường hợp này được quy định như sau:

- Phạt tiền từ 20 triệu đồng đến 25 triệu đồng đối với trường hợp người sử dụng lao động buộc người lao động thực hiện biện pháp bảo đảm bằng tiền hoặc tài sản khác cho việc thực hiện hợp đồng lao động.

- Đồng thời buộc người sử dụng lao động trả lại số tiền hoặc tài sản đã giữ của người lao động cộng với khoản tiền lãi của số tiền đã giữ của người lao động tính theo mức lãi suất tiền gửi không kỳ hạn cao nhất của các ngân hàng thương mại nhà nước công bố tại thời điểm xử phạt đối với hành vi vi phạm buộc người lao động đặt cọc để thực hiện hợp đồng lao động.

Ngoài ra, tại khoản 1 Điều 6 Nghị định 12/2022/NĐ-CP cũng đưa ra quy định về mức phạt tiền, cụ thể:

Mức phạt tiền quy định đối với các hành vi vi phạm quy định tại Chương II, Chương III và Chương IV Nghị định này là mức phạt đối với cá nhân, trừ trường hợp quy định tại khoản 1, 2, 3, 5 Điều 7; khoản 3, 4, 6 Điều 13; khoản 2 Điều 25; khoản 1 Điều 26; khoản 1, 5, 6, 7 Điều 27; khoản 8 Điều 39; khoản 5 Điều 41; khoản 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12 Điều 42; khoản 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8 Điều 43; khoản 1, 2, 3, 4, 5, 6 Điều 45; khoản 3 Điều 46 Nghị định này. Mức phạt tiền đối với tổ chức bằng 02 lần mức phạt tiền đối với cá nhân.

Như vậy, căn cứ vào các quy định trên, trường hợp người sử dụng lao động buộc người lao động phải đặt cọc một khoản tiền để giao kết cũng như để thực hiện hợp đồng lao động thì người sử dụng lao động đó sẽ bị áp dụng hình thức xử phạt là phạt tiền; với mức xử phạt từ 20 triệu đồng đến 25 triệu đồng đối với trường hợp người vi phạm là cá nhân và từ 40 triệu đồng đến 50 triệu đồng đối với người thực hiện hành vi vi phạm là tổ chức.

Ngoài việc bị phạt tiền thì người sử dụng lao động trong trường hợp này còn bị buộc phải trả lại số tiền đã giữ của người lao động cộng với khoản tiền lãi của số tiền đã giữ. Khoản tiền lãi này sẽ được tính theo mức lãi suất tiền gửi không kỳ hạn cao nhất của các ngân hàng thương mại nhà nước công bố tại thời điểm xử phạt đối với hành vi vi phạm.

Bên cạnh đó, trường hợp người lao động bị buộc nộp một khoản tiền đặt cọc để thực hiện hợp đồng lao động thì người lao động hoàn toàn có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động. Tuy nhiên, người lao động phải báo trước cho người sử dụng lao động với thời hạn được quy định tại Điều 35 Bộ luật Lao động năm 2019 như sau:

- Ít nhất 45 ngày nếu làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn;

- Ít nhất 30 ngày nếu làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn từ 12 tháng đến 36 tháng;

- Ít nhất 03 ngày làm việc nếu làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn dưới 12 tháng;

- Đối với một số ngành, nghề, công việc đặc thù thì thời hạn báo trước được thực hiện theo quy định của Chính phủ.

Quý khách có thể tham khảo thêm bài viết về: Tạm hoãn hợp đồng lao động là gì? Các trường hợp tạm hoãn hợp đồng lao động? của Luật Minh Khuê.

Mọi vướng mắc chưa rõ hoặc có nhu cầu hỗ trợ vấn đề pháp lý khác, quý khách vui lòng liên hệ với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại 24/7, gọi ngay tới số: 1900.6162 hoặc gửi email trực tiếp tại: Tư vấn pháp luật qua email để được giải đáp. Cảm ơn quý khách hàng đã quan tâm theo dõi bài viết của Luật Minh Khuê.